Những vấn đề pháp lý về ngoại giao phòng ngừa (PD) của ASEAN - Pdf 33

A. MỞ ĐẦU
Đối với các quốc gia trên thế giới nói chung và trong khu vực Đông
Nam Á nói riêng thì, hiện nay, vấn đề đảm bảo hòa bình và hợp tác an ninh chính
trị được xem trọng hàng đầu. Đặc biệt đối với các quốc gia ASEAN, những quốc
gia có vị trí vô cùng quan trọng, tập trung nhiều tài nguyên thiên nhiên và còn có
vị trí trung chuyển hàng hóa đi nhiều quốc gia trên thế giới. Sự thay đổi của tình
hình thế giới sau Chiến tranh lạnh tác động mạnh mẽ tới tình hình chính trị - an
ninh trong khu vực. Ngoài ra, các quốc gia còn phải đối mặt với các thách thức
an ninh phi truyền thống nghiêm trọng, vượt ngoài phạm vi quốc gia. Trước tình
hình đó, các quốc gia Đông Nam Á nhận thấy phải tiến hành các biện pháp ngoại
giao phòng ngừa nhằm ngăn chặn các cuộc tranh chấp, xung đột giữa các quốc
gia đe dọa tiềm tàng hòa bình và ổn định khu vực; ngăn chặn các cuộc tranh chấp
và xung đột leo thang thành đối đầu vũ trang; hạn chế tối thiểu ảnh hưởng của
tranh chấp và xung đột khu vực.
B. NỘI DUNG
I. Những vấn đề lý luận về ngoại giao phòng ngừa (PD) của ASEAN
1. Khái niệm về ngoại giao phòng ngừa
Xét về bản chất ngoại giao được xác định là một công việc của các quốc
gia để thiết lập các mối quan hệ quốc tế nhằm đạt được sự ổn định và phát triển
của chính quốc gia đó nói riêng và toàn thể cộng đồng thế giới nói chung. Ngoại
giao phòng ngừa cũng không nằm ngoài mục đích đó.
Thuật ngữ ngoại giao phòng ngừa lần đầu tiên được đưa ra bởi Tổng Thư
ký thứ 2 của Liên Hợp Quốc – ông Dag Hammaskols vào năm 1960 khi mà
Chiến tranh lạnh đang diễn ra vô cùng căng thẳng. Trong hoàn cảnh này, khái
niệm ngoại giao phòng ngừa được biết đến như là một biện pháp để ngăn không
cho xung đột khu vực dính vào đối đầu giữa hai siêu cường Xô – Mỹ. Sau chiến


tranh lạnh, khái niệm ngoại giao phòng ngừa được hiểu rộng hơn là hành động
ngăn chặn các cuộc tranh chấp.
Đến nay, ngoại giao phòng ngừa là một vấn đề được nhiều chính trị gia

phòng ngừa các cuộc tranh chấp và đụng độ xảy ra giữa các quốc gia, có thể đe
dọa đến hòa bình khu vực; phòng ngừa các xung đột sẵn có leo thang thành xung
đột vũ trang và hạn chế tác động của các tranh chấp đối với khu vực. Như vậy,
với khái niệm trên ARF xác định NGPN bao gồm các biện pháp về chính trị,
ngoại giao (không bao gồm quân sự) nhằm mục đích phòng ngừa các tranh chấp.
Theo khái niệm trên, ARF vẫn thống nhất với các quan điểm quốc tế cho rằng
bản chất của NGPN là ngăn ngừa xung đột.
2. Các nguyên tắc của ngoại giao phòng ngừa
Cho đến nay chưa có một tài liệu chính thức nào nêu rõ những nguyên
tắc của ngoại giao phòng ngừa. Tuy nhiên trên thực tế, NGPN được áp dụng dựa
trên những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế như:
- Xử lý mối quan hệ giữa các quốc gia và triển khai hợp tác trong lĩnh vực
xây dựng lòng tin và ngoại giao phòng ngừa phù hợp với nguyên tắc cơ bản của
Hiến chương Liên hợp quốc, năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình và những quy
phạm, luật lệ quốc tế được chấp nhận rộng rãi khác;
- Tôn trọng chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của nhau;
- Coi sự nhất trí của các bên trực tiếp liên quan đến vấn đề là một trong
những điều kiện tiên quyết để triển khai ngoại giao phòng ngừa
- Giải quyết các tranh chấp quốc tế thông qua biện pháp hòa bình và tránh
sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực;
Thực hiện và duy trì các chính sách quôc phòng với bản chất phòng vệ và
không đe dọa hay làm phương hại đến hào bình và ổn định của các quốc gia khác
bằng lực lượng quân đội của mình


- Tăng cường hợp tác cùng có lợi giữa các quốc gia và sự giao lưu hữu
nghị giữa các dân tộc;
Về những nguyên tắc của ngoại giao phòng ngừa, nhiều nhà phê bình
cho rằng thường có mâu thuẫn giữa một bên là hàm ý về nguyên tắc chủ quyền
và không can thiệp trong định nghãi về ngoại giao phòng ngừa với một bên là

những sáng kiến phòng ngừa, song thường phải cần tới một bên thứ ba đóng vai
trò phòng ngừa xung đột xảy ra giữa hai hay nhiều bên tranh chấp.
II. Những vấn đề pháp lý về ngoại giao phòng ngừa (PD) của ASEAN
Ngày 8/8/1967, Bộ trưởng ngoại giao 5 nước đã ký kết Tuyên bố Băng
Cốc đánh dấu sự ra đời của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Theo nội dung
tinh thần Tuyên bố Băng Cốc thì mục đích hàng đầu vẫn là đưa Đông Nam Á trở
thành một cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á - trở thành một cộng đồng các
quốc gia hòa bình và thịnh vượng.
Sau Tuyên bố Băng Cốc năm 1967, ASEAN đã thông qua một tuyên bố
thể hiện tầm chiến lược đó là Tuyên bố về khu vực hòa bình, tự do, trung lập gọi
tắt là tuyên bố ZOFPAN năm 1971.. Vấn đề trung lập hóa mà tuyên bố đưa ra tại
thời điểm đó đã đáp ứng được nhiệm vụ giữ được nguyên trạng tình hình ở Đông
Nam Á, ngăn chặn sự can thiệp của các cường quốc mới như Trung Quốc, Nhật
Bản xuống khu vực, buộc các nước ngoài khu vực Đông Nam Á chính thứ cam
kết không can thiệp vào công việc nội bộ của khu vực và trên thực tế. Tuyên bố
nhấn mạnh quyết tâm giữ khu vực trung lập, không liên kết, qua đó giữ vững hòa
bình, ổn định và an ninh khu vực, hạn chế can thiệp của lực lượng bên ngoài vào
công việc nội bộ của khu vực.
Thể hiện quyết tâm hợp tác khu vực, đồng thời gửi đi tín hiệu thân thiện,
hợp tác với các quốc gia khác trong khu vực thông qua Hiệp ước Thân thiện và


Hợp tác Đông Nam Á (TAC), kêu gọi các quốc gia trong khu vực cùng hợp tác
vì hòa bình, an ninh chung của khu vực, giải quyết xung đột, tranh chấp bằng
đàm phán hòa bình, do đó Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN (hay còn gọi là
Tuyên bố Bali I) ra đời vào năm 1976.
Bên cạnh tuyên bố trên, ASEAN còn ký kết văn kiện về Khu vực Đông
Nam Á không có vũ khí hạt nhân-SEANWFZ trong hội nghị cấp cao ASEAN
lần thứ ba tại Manila, Philippin, ngày 15 tháng 2 năm 1987 . SEANWFZ là một
trong các công cụ quan trọng của ASEAN đóng góp vào bảo đảm hòa bình, an

khu vực.
Khái niệm Ngoại giao phòng ngừa (PD) được các thành viên ARF nhất
trí và không mang tính ràng buộc pháp lý. PD là sự đồng thuận trong hành động
ngoại giao và chính trị của các nước có chủ quyền nhằm giúp ngăn chặn bất
đồng và xung đột trở thành mối đe dọa hòa bình và ổn định khu vực, leo thang
thành đối đầu vũ trang và giúp giảm thiểu ảnh hưởng của chúng đối với khu vực.
Các biện pháp ngoại giao phòng ngừa bao gồm: Sử dụng các biện pháp hòa bình
và mang tính ngoại giao như thương thuyết, điều tra và hòa giải. Không ép buộc.
Không có hành động quân sự hay sử dụng vũ lực. Phải kịp thời. Hành động phải
mang tính phòng ngừa, chứ không phải khắc phục. Các biện pháp PD hiệu quả
nhất ở giai đoạn đầu của mâu thuẫn hay khủng hoảng. Cần phải có sự tin tưởng.
PD chỉ có thể thực hiện khi có một nền tảng tin tưởng mạnh mẽ giữa các bên liên
quan và khi nó được thực hiện trên cơ sở trung lập, công bằng và vô tư. Hoạt
động trên cơ sở tham khảo và đồng thuận. Các cố gắng đều phải thông qua đồng
thuận, sau khi đã tham khảo cẩn thận giữa các nước thành viên ARF, đồng thời
phải cân nhắc đến tính kịp thời. Áp dụng đối với các xung đột giữa các nước
thành viên.


III. Thực tế triển khai hoạt động này qua các giai đoạn
Mặc dù trên thực tế, NGPN đã được ASEAN áp dụng từ khi thành lập
nhưng phải tới năm 1995, khái niệm này mới chính thức được công nhận và đưa
vào tài liệu khái niệm (Concept Paper) của ARF. Theo tài liệu này, NGPN là giai
đoạn nằm giữa giai đoạn xây dựng lòng tin và giai đoạn giải quyết xung đột. Xây
dựng lòng tin là giai đoạn đầu tiên, làm cơ sở nền tảng cho đối thoại bằng cách
giảm căng thẳng, tăng cường lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau, tạo bầu không khí
thuận lợi cho đối thoại. Tiếp đó, NGPN được coi là giai đoạn “giữ nguyên
trạng”, không để cho xung đột hay tranh chấp vốn có nổi lên và leo thang thành
đối đầu vũ trang.
Ở châu Á, NGPN được sử dụng chậm hơn so với các khu vực khác, song

trên các nguyên tắc, tập quán và phương thức làm việc của ASEAN, trong đó có
nguyên tắc đồng thuận và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Diễn đàn nhất trí phương hướng hoạt động cho thời gian tới là tiếp tục
thúc đẩy ARF với vai trò một diễn đàn hiệu quả cho đối thoại và hợp tác các vấn
đề chính trị và an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Diễn đàn cũng nhất
trí rằng ASEAN tiếp tục đóng vai trò động lực chính trong tiến trình ARF.
Trong giai đoạn này ASEAN và ARF đã đạt được một số thành tựu:
Đại biểu ARF-8 hoan nghênh sự phát triển tích cực trong tình hình chung
của bán đảo Triều Tiên kể từ sau cuộc gặp cấp cao hai miền Nam - Bắc ngày
15/6/2000 tại Bình Nhưỡng và sự tham gia tích cực của CHDCND Triều Tiên
vào các hoạt động của ARF trong năm qua. Các bộ trưởng hoan nghênh những
tiến bộ đạt được trong các cuộc tham khảo giữa ASEAN và Trung Quốc nhằm
xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông.


Hội nghị Bộ trưởng Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN diễn ra vào ngày
25/7/2001 đã kết thúc với sự nhất trí về tăng cường an ninh trong khu vực. Sau
diễn đàn, các cuộc hội đàm Trung - Mỹ, Việt - Mỹ cũng đem lại nhiều thoả thuận
quan trọng.
Các bộ trưởng khẳng định rằng ARF sẽ tiếp tục phát triển với bước đi phù
hợp với tất cả các nước tham gia, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ARF thông
qua các quyết định bằng nguyên tắc đồng thuận trên cơ sở không can thiệp vào
nội bộ của nhau.
Diễn đàn đánh giá cao Việt Nam, trong cương vị Chủ tịch ARF, đã tiếp
tục mở rộng tiếp xúc không chính thức với các tổ chức quốc tế và khu vực khác,
nhất là với Liên Hợp Quốc, Tổ chức các nước châu Mỹ (OAS) và Phong trào
không liên kết.
ARF cũng đã bắt đầu triển khai những biện pháp đan xen giữa xây dựng
lòng tin và ngoại giao phòng ngừa như: Chủ tịch ARF tiến hành tiếp xúc với bên
ngoài và với kênh II (kênh phi chính phủ) trên cơ sở không chính thức, đồng thời

dựng Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC).
Các bộ trưởng đánh giá cao Chương trình Hành động Hà Nội thực hiện
Tuyên bố Tầm nhìn ARF và những kết quả thực hiện đã đạt được là đóng góp có
ý nghĩa cho định hướng hoạt động tiếp theo của ARF, kết hợp giữa xây dựng
lòng tin và ngoại giao phòng ngừa vì hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực .
ARF 18 diễn ra trong bối cảnh ASEAN đang nỗ lực hướng tới Cộng đồng
ASEAN vào năm 2015, nâng cao vai trò trên trường quốc tế. Cấu trúc khu vực
với ASEAN đóng vai trò trung tâm đang định hình; các nước ASEAN và các
nước trên thế giới đang phải đối đầu nhiều thách thức truyền thống và phi truyền
thống, đòi hỏi phải có sự hợp tác khu vực và toàn cầu để giải quyết, và nhất là
những tiến triển mà các hội nghị vừa đạt được, trong đó có việc thông qua Quy


tắc hướng dẫn thực hiện DOC, nhằm tăng cường đảm bảo hòa bình, an ninh, ổn
định và phát triển bền vững khu vực và thế giới.
Do đó diễn đàn ARF 18 được coi là cột mốc cho ARF bước vào giai đoạn
mới, từ “Các biện pháp xây dựng lòng tin” sang giai đoạn “Ngoại giao phòng
ngừa".
- Từ ARF 18 đến nay
Từ ngày 19-23/7/2011, các ngoại trưởng của ASEAN và Nhật Bản, Trung
Quốc, Nga, Hàn Quốc và Hoa Kỳ họp tại ở Bali, Indonesia trong khuôn khổ
Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) để bàn về những vấn đề an ninh ở châu Á.
Diễn đàn ARF dự kiến kêu gọi thực hiện “ngoại giao ngăn ngừa”, đề ra các biện
pháp để tránh xảy ra tranh chấp.
Không chỉ dừng lại ở trao đổi chung chung,với quyết tâm phát triển qua ba
giai đoạn chủ yếu xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa và xây dựng các
cách tiếp cận chung để giải quyết xung đột, những nội dung hợp tác của Diễn
đàn đã và đang được thúc đẩy sâu và rộng hơn, bao gồm nhiều lĩnh vực khác
nhau, từ phòng chống thiên tai tới chống phổ biến vũ khí sát thương hàng loạt và
giải trừ quân bị.

sẵn sàng và mong muốn trao đổi, thỏa thuận, tiến tới ký kết một Bộ quy tắc ứng
xử (COC) với Trung Quốc để đóng góp vào duy trì hòa bình, ổn định trong khu
vực. Tuy nhiên, cho tới nay Trung Quốc vẫn chống lại việc Diễn đàn ARF đưa
vấn đề tranh chấp lãnh hải ra bàn thảo, trong khi những nước có liên quan đến
tranh chấp chủ quyền biển Đông vẫn muốn giải quyết vấn đề này với sự hợp tác
của những nước như Nhật Bản và Hoa Kỳ.
IV. Hướng phát triển hoạt động ngoại giao phòng ngừa (PD) của
ASEAN trong thời gian tới


Ngoại giao phòng ngừa của ASEAN là sự hiện diện lợi ích và ảnh
hưởng của các nước lớn luôn thường trực. Điều này khiến ASEAN trong quá
trình thực hiện ngoại giao phòng ngừa phải cân bằng, điều hòa lợi ích của các
nước lớn tại khu vực và đây cũng là một thành công của Hiệp hội. Trên thế giới
hiện nay có tới hơn 50 tổ chức khu vực với tầm cỡ khác nhau, nhưng duy nhất
chỉ có ASEAN, với các hoạt động linh hoạt và có xu hướng "mở" đã thiết lập
được quan hệ đối thoại với tất cả các nước lớn.
Từ thực tế đã phân tích trên đây cho thấy việc sử dụng Ngoại giao
phòng ngừa trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã chứng tỏ
được vai trò và hiệu quả của nó, đây chính là một trong những biện pháp hữu
hiệu nhằm xử lý và ngăn chặn các cuộc xung đột khu vực cường độ thấp, nhất là
ở những nơi có điều kiện chính trị, xã hội và địa lý phức tạp. Ngoại giao phòng
ngừa là giai đoạn nằm giữa giai đoạn xây dựng lòng tin và giai đoạn giải quyết
xung đột. Xây dựng lòng tin là giai đoạn đầu tiên, làm cơ sở nền tảng cho đối
thoại bằng cách giảm căng thẳng, tăng cường lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau,
tạo bầu không khí thuận lợi cho đối thoại. Tiếp đó, ngoại giao phòng ngừa được
coi là giai đoạn “giữ nguyên trạng”, không để cho xung đột hay tranh chấp vốn
có nổi lên và leo thang thành đối đầu vũ trang. Các cuộc tranh chấp và đụng độ
xảy ra giữa các quốc gia luôn có thể xảy ra và đe dọa nghiêm trọng tới hòa bình
và an ninh khu vực. Trong mọi thời đại có một chân lý có thể khẳng định luôn

trước. Vì vậy, sang giai đoạn mới PD được dự đoán sẽ phát triển thiên theo
phương hướng giải quyết xung đột hơn là chỉ củng cố ngoại giao phòng ngừa.
Bên cạnh đó, quá trình hình thành cho tới phát triển ngoại giao phòng ngừa của
ASEAN cũng như việc vận dụng nó trên thực tế trong những hoạt động của ARF
là những kinh nghiệm thực tiễn cần được nghiên cứu và có mối liên hệ trực tiếp
tới Việt Nam. Việt Nam đã, đang và tiếp tục khẳng định vị thế tích cực, có trách


nhiệm của mình trong Hiệp hội cũng như trong hoạt động ngoại giao phòng ngừa
nói riêng.
C. KẾT LUẬN
Có thể nói, trong nền ngoại giao đương đại, khi sự liên kết và phụ
thuộc lẫn nhau tăng cao trong mọi mặt của đời sống, việc giữ gìn hòa bình an
ninh cho phát triển, bảo đảm lợi ích quốc gia trở nên cấp thiết nhưng cũng khó
khăn hơn trước. Điều đó khiến cho Ngoại giao phòng ngừa được áp dụng ngày
càng nhiều, khẳng định được vị trí và hiệu quả của nó bên cạnh các hoạt động
ngoại giao khác. Thực tế việc sử dụng các biện pháp Ngoại giao phòng ngừa
trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã chứng tỏ đây là biện
pháp hữu hiệu nhằm xử lý và ngăn chặn các cuộc xung đột khu vực cường độ
thấp, đặc biệt ở những nơi có điều kiện chính trị, xã hội và địa lý phức tạp, bởi lẽ
Ngoại giao phòng ngừa có tác dụng quan trọng là củng cố nền hòa bình lâu dài
theo phương cách phù hợp với đặc trưng của từng nước và của khu vực.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status