I. Đặt vấn đề:
Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI, một kỷ nguyên đánh dấu bước ngoặt
về kinh tế, khoa học và nhất là sự phát triển vượt bậc của ngành công nghệ
thông tin đã làm cho cuộc sống con người ngày càng được nâng cao. Tiếc
thay, những giá trị đạo đức đang bị xói mòn bởi chủ nghĩa thực dụng, duy
vật chất, kéo theo đó là cả một hệ lụy. Hơn nữa, giới trẻ ngày nay quá lạm
dụng tự do để chạy theo lối sống hưởng thụ, mà họ cho là hợp thời, sành
điệu; họ bỏ qua những giá trị đạo đức là nền tảng cốt yếu của con người.
Một trong những lạm dụng tự do, đó là “sống thử”. Vấn đề này không chỉ là
sự lo lắng của các bậc làm cha mẹ mà còn là thách đố của các nhà giáo dục
cũng như những người có trách nhiệm . Bài tiểu luận này tôi xin được trình
bày về một vấn đề, một hiện tượng ngày càng gia tăng nhiều trong xã hôi,
đó là câu chuyện về “nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không
đăng ký kết hôn” - nguyên nhân và giải pháp hạn chế tình trạng đó.
Để bài làm được mạch lạc, các nội dung được triển khai như sau:
1. Khái quát chung về tình trạng nam nữ chung sống với nhau như vợ
chồng.
1.1 Các quan niệm
1.2 Đặc điểm
2. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng nam nữ sống chung mà không đăng ký
kết hôn:
2.1 Nguyên nhân chủ quan
2.2 Nguyên nhân khách quan
1
3. Hậu quả của việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký
kết hôn.
4. Thực trạng đó ở Việt Nam và hướng giải quyết của pháp luật.
5. Giải pháp hạn chế tình trạng Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng
-
bên) chấp nhận.
Việc nam nữ chung sống với nhau được người khác hay tổ chức
-
chứng kiến.
Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ, cùng nhau xây
dựng gia đình.
Dưới góc độ pháp lý thì nam nữ chung sống như vợ chồng là trường hợp
nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo luật định nhưng không đăng ký kết
hôn. Về nguyên tắc, pháp luật không công nhận trường hợp này là vợ
chồng. Tuy nhiên thực tế, các bên nam nữ vẫn chung sống với nhau như vợ
chồng và thực hiện quyền và nghĩa vụ với nhau, với gia đình và xã hội.
1.2, Đặc điểm:
-Nam nữ có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng chung sống như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn. Trong trường hợp nam nữa chung sống như vợ
chồng, hai bên có đủ điều kiện kết hôn. Theo quy định của điều 9 thì phải có
đủ các điều kiện sau:
+ Thứ nhất, nam đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;
+ Thứ hai, việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định, không bên nào
được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;
+ Thứ ba, việc kết hôn không vi phạm các điều cấm
-Trong thời gian chung sống họ thực sự coi nhau là vợ chồng.
Đây là đặc điểm để phân biệt với việc nam nữ chung sống tạm bợ. Về mặt
pháp lý, nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn không
3
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đên việc trên, do đất nước trải qua một
thời gian dài chiến tranh, có nhiều đôi lứa yêu nhau mà không có điều kiện
cùng đi đăng ký kết hôn, do phong tục tập quán về kết hôn, do sự kém hiểu
biết của người dân…
Trên thực tế hiện tượng này thường diễn ra với những đối tượng như
sinh viên Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và trường dạy nghề,
cũng có thể xảy ra trong các trường hợp một trong hai bên đã qua một lần
kết hôn, sau đó hôn nhân của họ chấm dứt do ly hôn hoặc do vợ chồng
chết, khi tuổi đã cao họ mới “kết bạn” để nương tựa vào nhau. Cũng có thể
một trong hai bên “quá lứa lỡ thì” chung sống với người khác trong hoàn
cảnh “rổ rá cạp lại” nên ngại muốn thực hiên thủ tục kết hôn theo quy định
của pháp luật.
2.1, Nguyên nhân chủ quan:
Nam nữ yêu nhau luôn muốn có nhiều thời gian để được ở bên người
mình yêu. Có lẽ, tình cảm là lý do đầu tiên về mặt chủ quan mà chúng ta
phải đề cập đến. Nhất là những bạn trẻ, tình yêu cộng với sự bồng bột, nông
nổi làm mà không nghĩ đến hậu quả. Hơn nữa, lại sống xa gia đình, không
được quản thúc, thêm sự thiếu thốn tình thân dễ dẫn đến tình trạng sống
buông thả. Bồng bột ở đâu thể hiện ở sự tò mò về cuộc sống gia đình thực
sự nhưng còn do vướng mắc việc học hành vẫn còn dở dang, không thể đi
tới hôn nhân thực tế được nên họ lựa chọn lối “sống thử”. Nam, nữ trong
trường hợp đã có hôn nhân với một người lại đi chung sống với người khác
là trái với luân thường đạo lý, vậy nên để giải quyết những vấn đề riêng
của mình về sinh lý cũng như tình cảm họ đã cố tình chung sống mà không
tuân thủ những điều kiện của pháp luật, bất chấp dư luận xã hội và cuộc
sống của các thành viên khác trong gia đình cũ của mình.
5
thẩm quyền để đăng ký kết hôn không nhận được sự đồng ý nhưng hai anh
chị vẫn quyết định chung sống với nhau.
Ví dụ 2: Chị Nà là người dân tộc Nùng gặp anh Sùng người Mông
trong phiên chợ, hai người đem lòng yêu mến nhau và xin ý kiến cha mẹ.
Cha mẹ chị Nà không muốn con gái lấy người dân tộc khác, phải đi xa gia
đình nên đã nhận lời của gia đình anh Tẩn- người cùng bản để gả chị Nà,
ép chị Nà cưới. Sau khi làm lễ cưới, chị Nà đã bỏ nhà đi với anh Sùng, hai
người vào Tây Nguyên đi xây dựng vùng kinh tế mới và chung sống với
nhau như vợ chồng. Đây là trường hợp kết hôn trái pháp luật.
Bên cạnh đó là sự du nhập lối sống phóng khoáng ở phương Tây, Xin
được nói về ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, sự tương tác và giao lưu
văn hóa là bình thường, phổ biến thông qua các kênh thông tin như: báo
chí, phim ảnh, internet,... Hiện tượng này bị coi là lệch chuẩn trong văn hóa
Việt Nam. Vậy phải chăng do người phương Tây thoải mái nên coi đó là
bình thường?
Tại Việt Nam thì có, bởi vì trong chuyện này, tại Việt Nam đang tồn tại sự
mâu thuẫn giữa thói quen và văn hóa. Văn hóa của chúng ta mang nặng tư
tưởng của Khổng giáo, đề cao sự thủy chung, phê phán hôn nhân không giá
thú, gán cho người phụ nữ những định chế khắt khe,...Nhưng thói quen của
người Việt lại là sự tùy tiện, phó mặc, thiếu trách nhiệm trong cuộc sống và
sự tính toán, cân nhắc không kỹ lưỡng. Tư duy nông nghiệp để lại cho ta
tâm lý không cần quá chính xác. Rồi tư tưởng làm việc tập thể, chịu trách
nhiệm cũng không muốn chỉ đích danh (các từ "chúng tôi, chúng ta" được
dùng rất nhiều thay vì chỉ dùng chữ "tôi",...) Nỗi lo về bổn phận trách nhiệm
bằng hình thức này hay hình thức khác đã đi vào cuộc sống trước hôn
nhân. Rồi sự thiếu tính toán cho tương lai, cung cách "ăn xổi ở thì" cũng là
nguyên nhân dẫn tới cái chết yểu cho tình yêu đôi lứa.
7
mang nặng tư tưởng phong kiến như Việt Nam, sức ép của dư luận xã hội
là không hề nhỏ. Hậu quả như vậy thì trách ai được? có thì cũng chỉ trách
mình được mà thôi!!!
Về mặt xã hội, những trường hợp như vậy, chất lượng cuộc sống sẽ
không đảm bảo. Người phụ nữ phải một mình nuôi con, khó khăn vất vả,
không tự chăm sóc được cho mình. Đứa con sinh ra thiếu thốn tình thương
của người cha cũng là điều thiệt thòi, phát triển không toàn diện dễ dẫn
đến tình trạng hư hỏng,…hậu quả thật khó lường trước được.
Về mặt pháp lý, quan hệ chung sống như vợ chồng vi phạm các điều
kiện về nội dung kết hôn là quan hệ vợ chồng trái pháp luật. Tuy nhiên, việc
xác lập và duy trì quan hệ đó chỉ bị chế tài về hành chính hoặc hình sự
trong một số trường hợp- loạn luân, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một
chồng, tảo hôn, cưỡng ép kết hôn,…Trong khung cảnh của luật thưc định,
chỉ có một điều chắc chắn: giữa những người này và con cái họ luôn có
quan hệ cha mẹ và con và quan hệ ấy làm phát sinh tất cả các quyền và
nghĩa vụ hỗ tương của cha mẹ và con theo đúng pháp luật Hôn nhân và gia
đình.
4. Thực trạng đó ở Việt Nam và hướng giải quyết của pháp luật:
Tình trạng nam nữa sống chung như vợ chồng mà không đăng kí kết
hôn (hôn nhân thực tế) xảy ra khá nhiều ở các địa phương trên cả nước. Ví
dụ ở An Giang là: 11.558 trường hợp, Cần Thơ là 5.686, Lai Châu là 1.917
trường hợp…(báo cáo tổng kết 8 năm thi hành Luật Hôn nhân gia đình
1986 của Bộ tư pháp).
Đến nay con số này càng lớn, lang thang ở các khu trọ sinh viên, làng
công nhân,… chúng ta rất dễ bắt gặp nhiều “đôi vợ chồng trẻ”. Theo thống
kê của khoa xã hội học Đại học Mở TPHCM, năm 2010, có khoảng 1/3 các
bạn trẻ sống thử trước hôn nhân: Lan, sinh viên năm thứ 2 trường Đại học
9
công việc gia đình, được họ hàng xã hội xung quanh coi như vợ chồng”. Có
thể nói Thông tư 112-NCPL ngày 19/8/1972 của TATC là cơ sở pháp lý đầu
tiên để TA các cấp vân dụng vào thực tế xét xử.
+ Nghị quyết số 01/NQ-HDTP ngày 20/1/1988 của HDTP TNDTC về việc
“Hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân gia đình năm 1986”, đối với các
trường hợp nam nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống như vợ chồng
“tuy có vi phạm về thủ tục kết hôn nhưng không coi là việc kết hôn trái
pháp luật, nếu việc kết hôn không trái các điều 5,6,7 Luật hôn nhân gia
đình Việt Nam năm 1986” khi có tranh chấp, một hoặc hai bên yêu cầu ly
hôn, Tòa án không hủy việc kết hôn mà áp dụng điều 40 để xét xử theo thủ
tục ly hôn.
+ Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1995, Chánh án TANDTC
đã kết luận: “…Chỉ có công nhận hôn nhân thực tế đối với những trường
hợp hai bên nam nữ đã chung sống với nhau được hàng chục năm hoặc có
con chung, tài sản chung”.
+ Công văn số 16 ngày 01-02-1999 của TANDTC hướng dẫn giải quyết
các trường hợp ly hôn nhưng không có đăng ký kết hôn, tại mục IV điểm 2
và 3 đã nêu: Hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán TANDTC tại nghị quyết số
01 ngày 20-01-1988 và kết luận của Chánh án TANDTC tại hội nghị tổng
kết ngành tòa án năm 1995, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật
hôn nhân gia đình về việc kết hôn không đăng ký, có vi phạm về thủ tục kết
hôn nhưng không coi là trái pháp luật. Nếu các bên yêu cầu ly hôn thì Tòa
án xử theo thủ tục ly hôn và chỉ được áp dụng với trường hợp nam nữ
chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày Luật hôn nhân gia đình năm
1986 có hiệu lực pháp luật (ngày 03-07-1987). Đối với trường hợp nam nữ
chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03-01-1987 mà không đăng ký
11
tục, đã có hai con chung và cùng nhau xây dựng được một khối tài sản
đáng kể, họ đã có thời gian chung sống hạnh phúc. Quan trọng hơn trong
suốt những năm chung sống hai người thực sự coi nhau là vợ chồng, cùng
nhau nuôi con và xây dựng gia đình. Với những căn cứ trên tòa án xét xử
công nhận hôn nhân thực tế giữa anh A và chị L là hoàn toàn có cơ sở và
phù hợp với pháp luật; “thấu tình, đạt lý”, bả vệ được quyền lợi của các
đương sự.
4.2, Giải quyết hậu quả pháp lý đối với việc công nhận hôn nhân thực tế
kể từ khi luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực pháp luật.
-Tong trường hợp các bên chung sống như vợ chồng trước ngày
03/01/1987( ngày luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà
không dăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong
trường hợp có yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết theo quy định về ly hôn.
- Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3-1-1987
đến ngày 01-01-2001 mà có đủ điều kiện kết hôn thì có nghĩa vụ đăng ký
kết hôn trong thời hạn hai năm kể từ ngày Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 có hiệu lực. Nếu trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn
nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn để giải
quyết. Từ sau ngày 01-01-2003 mà họ không đăng ký thì pháp luật không
công nhận họ là vợ chồng. Kể từ sau ngày 01-01-2003 mà họ mới đăng ký
kết hôn thì quan hệ vợ chồng của họ được xác lập kể từ ngày họ đăng ký
kết hôn. Nếu sau đó họ yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết theo thủ tục
chung về ly hôn (Mục 2, điểm c Thông tư liên tịch số 01/2000/TTLTTANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03-01-2001).
- Nam và nữ chung sống như vợ chồng từ ngày 01-01-2001 trở đi mà
không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.
13
5. Giải pháp hạn chế tình trạng nam nữ chung sống với nhau như
•
Trong trường hợp đa thê: Người đàn ông không kết hôn với người
phụ nữ nào nhưng lại chung sống như vợ chồng với nhiều người
phụ nữ một lúc không chỉ liên quan đến vấn đề băng hoại về mặt
đạo đức mà còn là hành vi vi phạm pháp luật, gây hậu quả nghiêm
trọng, thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì sẽ bị xử lý
theo ưuy định của bộ luật Hình sự.
•
Trong việc chia tài sản: lao động của vợ chồng trong gia đình được
coi như lao động có thu nhập, là một trong những nguyên tắc trong
việc chia tài sản chung trong trường hợp nam nữ sống chung như
vợ chồng.
•
Về vấn đề cấp dưỡng: Để bảo vệ phụ nữ, nên quy định về vấn đề cấp
dưỡng trong một số trường hợp cần thiết đối với nam nữ sống
chung như vợ chồng. Cụ thể khi có mâu thuẫn không thể chung
sống, nếu bên khó khăn túng thiếu mà nguyên nhân xuất phát từ
cuộc sống chung trước đó thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng một
lần theo khả năng của mình.
Nâng cao ý thức pháp luật của cá nhân:
Tính thực thi của pháp luật nói chung và luật hôn nhân gia đình nói riêng
phụ thuộc rất lớn vào mỗi cá nhân. Vì vậy, một trong những yếu tố có ý
2. Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt
Nam, Tập1. NXB Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.
3. Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
4. Luận văn: Nam nữ chung sống như vợ chồng dưới góc độ bảo vệ quyền
lợi của phụ nữ và trẻ em.
5. Các công văn, Nghị quyết, bản án.
6. Tham khảo Internet.
17
18