MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...............................................................................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU
Theo quan điểm của Mác – Lênin, ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân, nó
là mặt trái, mặt bất bình nhưng lại là mặt không thể thiếu được của quan hệ hôn nhân
và gia đình. Bởi sự quan trọng này, Ly hôn luôn được Luật hôn nhân và gia đình qua
các giai đoạn luôn chú trọng điều chỉnh. Việc nghiên cứu vấn đề “Tính kế thừa và
phát triển của căn cứ ly hôn theo luật hôn nhân gia đình Việt Nam” cũng vì thế
mà có ý nghĩa hết sức sâu sắc cho việc nghiên cứu pháp luật.
Do hạn chế về thời gian cũng như kinh nghiệm làm bài, bài tiểu luận của em
không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các
bạn để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.
NỘI DUNG
I. Khái quát về căn cứ ly hôn trong luật hôn nhân gia đình.
Căn cứ li hôn là những tình tiết (điều kiện) được quy định trong pháp luật và chỉ
khi có những tình tiết điều kiện đó, tòa án mới được xử cho li hôn. Đó là điều kiện
cần và đủ được quy định một cách thống nhất trong pháp luật, dựa trên các điều kiện
đó thì Tòa án cho phép vợ chồng ly hôn.
Hôn nhân là hiện tượng mang tính xã hội mang tính giai cấp sâu sắc. Ở mỗi chế
độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua nhà nước, bằng pháp luật quy
định chế độ hôn nhân phù hợp với lợi ích của giai cấp mình nhà nước xác định rõ
những trường hợp được phép kết hôn và những trường hợp được phép ly hôn; có
nghĩa là nhà nước quy định những căn cứ để được kết hôn và những điều kiện để
được ly hôn. Ý chí của các bên đương sự không phải là điều kiện quyết định để phá
bỏ hôn nhân mà việc ly hôn phải căn cứ vào điều kiện (căn cứ pháp lý về ly hôn)
được quy đinh trong Luật hôn nhân và gia đình, nó phản ánh hôn nhân không thể tồn
tại được nữa nghĩa là hôn nhân đã chết. Việc tòa án xét xử cho ly hôn chỉ là công việc
1
nó đã không phản ánh thực chất được tình trạng cuộc hôn nhân tan vỡ hay chưa mà
nó chỉ là những cái cớ để người chồng bỏ vợ mà thôi.
Dưới triều Nguyễn tại Điều 108 Bộ luật Gia Long quy định: “Khi người vợ
không ở trong trường hợp “thất xuất” hay không làm một hành vi nào tuyệt nghĩa vợ
2
chồng, nếu người chồng tự tiện bỏ vợ sẽ bị phạt 80 trượng” những quy đinh “thất
xuất” trong bộ luật Gia Long cũng giống như trong bộ luật Hồng Đức.
Trong trường hợp người vợ phạm vào điều “thất xuất” nhưng chứng minh
được rằng ở trong tình trạng “tam bất khứ” mà người chồng vẫn bỏ thì người chồng
bị phạt trượng và buộc hai vợ chồng về đoàn tụ. Có ba trường hợp người chồng
không được bỏ vợ (tam bất khứ): “Tiền bần tận, hậu phú quý (khi lấy nhau vợ chồng
nghèo nhưng sau giàu có), giữ canh niên tam tang (khi vợ đã để tang nhà chồng 3
năm), sở thú vô sở quy (khi lấy nhau vợ còn bà con hàng xóm nhưng khi bỏ nhau, vợ
không có nơi nương tựa).
Thông qua việc nghiên cứu hai bộ luật trên ta thấy căn cứ ly hôn chia làm 3
loại:
1. Căn cứ trường hợp “thất xuất” không nằm trong hoàn cảnh “tam bất khứ”.
Căn cứ này chỉ dành cho người chồng có quyền bỏ vợ.
2. Các trường hợp” tuyệt nghĩa” căn cứ cho người chồng có quyền bỏ vợ,
người vợ có quyền bỏ chồng.
3. Thuận tình ly hôn: quy định này mang tính hình thức, trên thực tế ít khi được
áp dụng do sự trói buộc chặt chẽ của lễ giáo phong kiến kết hợp với tư tưởng trọng
nam khinh nữ hai vợ chồng ít khi có quyền tự do ly hôn.
Như vậy căn cứ ly hôn được quy định trong pháp luật phong kiến Việt Nam triều
Lê, Nguyễn nói chung tuân theo trật tự tự nhiên. Quan hệ vợ chồng được củng cố
bằng nhiều nghĩa vụ khác nhau và được duy trì bởi lễ giáo phong kiến. Các quy định
về căn cứ ly hôn như thuận tình ly hôn khi tình yêu vợ chồng bị sứt mẻ và không có
cơ hội hàn gắn được. Ngoài ra còn các trường hợp cưỡng bức ly hôn nếu hai vợ
mẹ người kia.
- Một người bị bệnh điên hoặc bị bệnh kinh niên ở vĩnh viễn trong bệnh
viện.
Trong dân Luật giản yếu (1883), căn cứ chung để cả hai vợ chồng đều có thể
xin ly hôn là sự ngược đãi, hành hạ một người bị tội gia nhục, hoặc bị tuyên án mất
tích cũng trong bộ luật này quy định người chồng có thể bỏ vợ nếu vợ ngoại tình
hoặc bỏ nhà ra đi giống như Bộ luật Bắc và Trung kỳ Bộ luật này cũng dành sự ưu
đãi cho người chồng bằng việc có những căn cứ ly hôn dành cho người chồng. Khác
với hai Bộ luật Bắc kỳ và Trung kỳ, luật này không coi sự sỉ nhục thậm tệ là cần ly
hôn như một người phạm tội gia nhục hay đại hình, phải được Tòa án tuyên và có
hiệu lực pháp luật sau khi vợ chồng đã kết hôn.
3. Căn cứ ly hôn từ cách mạng tháng 8 đến nay.
Cách mạng thành công đã giải phóng dân tộc Việt Nam nói chung và phụ nữ
Việt Nam nói riêng thoát khỏi ách thống trị hết sức hà khắc và đối xử thậm tệ của chế
độ thực dân phong kiến, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử hôn nhân và gia đình
Việt Nam.
4
3.2 Căn cứ ly hôn của luật hôn nhân gia đình giai đoạn từ 1945- 1954
Năm 1950 nhà nước ta ban hành hai sắc lệnh đầu tiên điều chỉnh các quan hệ
hôn nhân và gia đình. Đó là sắc lệnh 97- SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một số quy lệ
và chế định trong dân luật và sắc lệnh 159- SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề
ly hôn.
Sắc lệnh 97- ngày 22/5/1950 có 15 điều trong đó có 8 điều quy định về hôn
nhân và gia đình.
Sắc lệnh 159-SL 17/11/1950 quy định vấn đề ly hôn gồm 9 điều chia thành 3
mục: duyên cớ ly hôn, thủ tục ly hôn và hiệu lực của việc ly hôn. Sắc lệnh thực hiện
nguyên tắc tự do hôn nhân, trong đó công nhận quyền tự do giá thú (kết hôn) và tự do
ly hôn, xóa bỏ sự phân biệt không bình đẳng về các duyên cơ ly hôn cho vợ và chồng
tổng thống xem xét (điều 55 luật này). Vì vậy trong trường hợp đặc biệt được ly hôn
là trường hợp nào? Do tính chất phản động “chống cộng” điên cuồng của chính
quyền Ngô Đình Diệm, nên trong nội san đặc biệt của Quốc hội Nước Việt Nam
Cộng hòa về Luật hôn nhân gia đình năm 1959 nhấn mạnh đến trường hợp lấy nhầm
phải đầu sỏ cộng sản giết người. Căn cứ này thể hiện ý chí của chính quyền Diệm
một chính quyền chống “cộng sản” điên cuồng.
Khác với Bộ luật trước tại điều 170 Bộ dân luật 1972 coi ngoại tình bất kể của
vợ hay chồng đều là căn cứ ly hôn. Song sự bình đẳng giữa vợ hoặc chồng mà chế độ
Việt Nam cộng hòa vẽ nên chỉ mạng tính mị dân. Thực chất của việc quy định về thủ
tục ly hôn khi một bên có ngoại tình cho thấy sự bất bình đẳng giữa vợ hoặc chồng
bởi theo luật của Nguyễn Văn Thiệu, Bộ hình luật định tội ngoại tình của vợ sẽ bị
trừng phạt (điều 336, điều 338) còn chồng ngoại tình thì không bị trừng phạt. Trong
khi theo Bộ dân luật 1972 muốn có chứng cứ về việc ngoại tình thì nguyên đơn phải
có bản án do tòa án hình sự xét xử. Người vợ không thể có bản án đó vì người chồng
không được coi là phạm tội, muốn chứng minh chồng có ngoại tình vợ phải dùng các
biện pháp khác được pháp luật chấp nhận nhưng khó khăn hơn nhiều.
Những căn cứ ly hôn do chế độ cũ quy định nhìn chung đều mang tính hình thức
và thể hiện quan điểm giáo lý về hôn nhân và gia đình, nó thể hiện sự không bình
đẳng trong xã hội. Tóm lại pháp luật giai cấp bóc lột không thừa nhận việc ly hôn,
cho phép ly hôn dựa trên căn cứ này, thì chung quy lại cũng thể hiện chế độ hôn
nhân có lợi cho giai cấp thống trị góp phần tăng cường sự bọc lột đối với giai cấp
thống trị mà thôi.
3.3 Căn cứ ly hôn của luật hôn nhân gia đình từ năm 1975 đến nay.
3.3.1. Căn cứ ly hôn theo Luật hôn nhân gia đình Việt Nam 1986.
Quá trình thực hiện luật hôn nhân và gia đình 1959 đã đạt được những thành tựu
to lớn. Để phù hợp với tình hình đất nước, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã ra
đời được xây dựng trên nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, kế thừa và phát
triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, để tiếp tục xây dựng và củng cố gia đình
6
mức không thể giải quyết được thì tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, tình
trạng đó làm ảnh hưởng đến đời sống mọi người trong gia đình, ảnh hưởng đến việc
giáo dục con cái. Ví dụ: ly hôn do một bên vợ (chồng) không có con….
7
Để duy trì quan hệ vợ chồng lâu dài, hạnh phúc và bền vững thì bên cạnh tình
yêu, mỗi bên còn phải có nghĩa vụ đối với nhau, đối với gia đình, đối với con cái, vì
“bản chất gia đình là tình yêu và nghĩa vụ” khi vợ chồng chung sống hạnh phúc thì
họ đều tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình, đều có trách nhiệm đối với việc xây
dựng gia đình và chăm sóc con cái. Nhưng khi mâu thuân sâu sắc thì đương sự không
thực hiện nghĩa vụ của mình. Quan hệ đời sống hằng ngày phát sinh nhiều vấn đề cần
giải quyết: tính nết mỗi bên, quan điểm, sinh hoạt, sở thích cá nhân…nếu vợ chồng
không cùng nhau giải quyết thì gây nên mâu thuẫn giữa quan hệ giữa vợ chồng, hoặc
với các thành viên trong gia đình bên vợ hoặc bên chồng, từ đó phát sinh mâu thuẫn
trong quan hệ vợ chồng.
Ví dụ: việc cư xử không khéo giữa nàng dâu với mẹ chồng, anh em bên chồng…
là một trong những nguyên nhân gây nên mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng dẫn đến
ly hôn.
3.3.2. Căn cứ ly hôn theo Luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2000.
Kế thừa và phát triển Luật hôn nhân gia đình năm 1959 và Luật hôn nhân gia
đình năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về căn cứ ly hôn tại
Điều 89.
“ 1. Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì tòa án quyết
định cho ly hôn.”
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bi Tòa án tuyên bố mất tích xin
ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.”
Luật hôn nhân gia đình năm 2000 đã kế thừa về căn cứ li hôn của các giai đoạn
duy trì kìm hãm trong vòng tối tăm hà khắc của xã hội. Họ chỉ dựa vào “lỗi” của
người vợ mà tự ý đưa ra quyết định ly hôn. Các văn bản pháp luật dân sự do thực dân
Pháp ban hành trước năm 1945 thường quy định căn cứ ly hôn dựa vào “lỗi” của
vợ,chồng với những duyên cớ không bình đẳng giữa vợ và chồng như đã nêu ở trên.
Nhưng có thể thấy trong giai đoạn (1945-1954) điểm tiến bộ lớn là quy định về
quyền yêu cầu ly hôn đã đến với người vợ.
Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 hoàn
toàn không dựa trên lỗi của vợ chồng để giải quyết ly hôn. Trong mọi trường hợp nếu
hòa giải không thành và nếu “xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không
thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được” thì tòa án xét xử cho ly hôn
(Điều 40 Luật hôn nhân gia đình ). Việc áp dụng căn cứ ly hôn (điều 26 luật hôn nhân
và gia đình 1959, điều 40 luật hôn nhân và gia đình năm 1986) đã thực hiện nhiều
năm. Nó phản ánh đúng bản chất quan hệ hôn nhân thực tế đã tan vỡ. Ly hôn chỉ là
việc xác nhận một sự kiện rằng đó là cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là
bề ngoài, lừa dối. Đương nhiên, không phải tùy tiện nhà lập pháp, cũng không phải
sự tùy tiện của mỗi cá nhân, mà chỉ bản chất sự kiện mới quyết định được cuộc hôn
9
nhân này đã chết hay chưa chết…Bởi vì, việc xác định sự kiện chết là tùy thuộc vào
thực chất của vấn đề chứ không phải các bên hữu quan. Nhà lập pháp chỉ có thể xác
định những điều kiện trong đó hôn nhân được phép tan vỡ. Nghĩa là về thực chất hôn
nhân ấy đã tan vỡ rồi. Việc Tòa án cho phép phá bỏ hôn nhân, chỉ là ghi biên bản
công nhận sự tan rã bên trong của nó”. Theo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê nin, việc
hôn nhân đúng bản chất của vấn đề là biện pháp củng cố các mối quan hệ hôn nhân
và gia đình vững chắc hơn.
Căn cứ ly hôn theo luật hôn nhân gia đình năm 1986 được quy định trên bản
chất của quan hệ hôn nhân tan vỡ nó được “thực nghiệm” qua mấy chục năm luật hôn
nhân gia đình năm 1959 (điều 26).
Ly hôn là là một hiện tượng xã hội là mặt trái của quan hệ hôn nhân nó cũng
2. Hướng hoàn thiện.
Với vị trí quan trọng của mình trong hệ thống pháp luật của nước ta, pháp luật
hôn nhân gia đình đã từng bước thay đổi và hoàn thiện cùng với quá trình hoàn thiện
pháp luật nói chung. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được quá trình thực
hiện pháp luật và luật hôn nhân và gia đình nói chung về căn cứ ly hôn nói riêng còn
mang chung chung, tính khái quát, thiếu cụ thể, gây khó khăn cho việc áp dụng thực
tế, tiêu biểu như khoản 1 điều 89 luật hôn nhân gia đình về căn cứ ly hôn còn chung
chung, hay những cách hiểu chưa thống nhất. Vì vậy có thể gây nên tình hiểu sai về
vấn đề , ảnh hưởng đến lợi ích của công dân. Thêm vào đó nước ta đang trong xu thế
toàn cầu hóa hội nhập quốc tế, nhà nước ta cần tiếp tục sửa đổi bổ sung hoàn thiện hệ
thống pháp luật để phù hợp với tình hình mới.
Cần phải tuyên truyền sâu rộng hơn nữa về luật hôn nhân và gia đình để mọi
người nhận thức đúng đắn hơn về quyền và nghĩa vụ của mình trong hôn nhân. Đồng
thời cần phải cần đào tạo một đội ngũ cán bộ làm công tác pháp luật có năng lực ở
các cấp để luật hôn nhân gia đình cũng như căn cứ li hôn được áp dụng trên thực tế
một cách đúng đắn…
KẾT LUẬN
Mặt riêng tư trong quan hệ hôn nhân là hạnh phúc vợ chồng. Khi hoàn cảnh gia
đình rơi vao tình trạng trầm trọng không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không
đạt được thì quyền yêu cầu ly hôn cần được bảo vệ. Có thể thấy trải qua những giai
đoạn lịch sử căn cứ li hôn luôn được kế thừa và phát triển, ngày càng tiến bộ. Tuy
nhiên việc áp dụng trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi các nhà lập pháp cần
có những hướng dẫn cụ thể hơn nữa để những quy định này đi vào cuộc sống, góp
phần thúc đẩy sự bình đẳng trong quan hệ vợ chồng, bảo vệ quyền lợi của trẻ em,
hướng đến mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO