MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT:
QH
HĐND
UBND
UBTVQH
CQHCNN
QLHCNN
:
:
:
:
:
:
Quốc hội
Hội đồng nhân dân
Ủy ban nhân dân
Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Cơ quan hành chính nhà nước
Quản lí hành chính nhà nước
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoạt động giám sát từ trước tới nay luôn được đánh giá là một biện pháp hữu hiệu
bảo đảm pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước. Hoạt động này có thể được thực
hiện bởi các cơ quan quyền lực nhà nước, các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và quần
chúng nhân dân nói chung. Trong đó hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước
chế và hoạt động pháp lí nhằm làm cho pháp luật được thực hiện có hiệu quả trong thực
tế và hoạt động của bộ máy nhà nước mà trước hết là hoạt động của bộ máy hành chính
nhà nước phải thực sự vì dân, khơi dậy trí tuệ và tinh thần, ý chí tự lực, tự cường của nhân
dân, đem lại những tiện ích và thủ tục thực sự dễ hiểu, dễ làm và việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ của công dân theo một trật tự nhất định. Về thực chất, suy cho cùng bảo đảm
pháp chế là làm cho hoạt động thực thi pháp luật ngày càng có hiệu quả trong thực tế.
1.2.2. Sự cần thiết phải bảo đảm pháp chế trong quản lí hành chính nhà nước hiện nay
Bộ máy nhà nước bao gồm nhiều cấp và nhiều cơ quan, được tổ chức và hoạt động
trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nên muốn bảo đảm cho chúng có trình tự
thành lập chặt chẽ, cơ cấu tổ chức hợp lý và hoạt động có hiệu quả thì việc tổ chức và hoạt
động của chúng phải dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật.
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình tổ chức bộ máy nhà nước, tất cả các cơ
quan, tổ chức nhà nước đều phải theo đúng trình tự thành lập, cơ cấu tổ chức do pháp luật
quy định. Trong quá trình hoạt động, tất cả các nhân viên và các cơ quan nhà nước đều
phải hoạt động trong khuôn khổ, phạm vi thẩm quyền mà pháp luật trao cho, chỉ được làm
những gì mà pháp luật cho phép. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lí nghiêm minh
theo quy định của pháp luật.
Pháp chế có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật. Nếu pháp luật phù hợp với thực tại
khách quan của xã hội, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đa số dân cư thì nó sẽ có
tính khả thi cao, mọi người tự giác thực hiện, khi đó thì pháp chế được tăng cường. Ngược
lại, nếu pháp luật quá lạc hậu so với cuộc sống hoặc cao hơn trình độ thực của nền kinh tế
thì sẽ dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật, luật pháp không khả thi. Do đó mục đích điều
chỉnh của pháp luật chỉ đạt được đầy đủ khi nó được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh
trên thực tế, tức là khi pháp chế được tăng cường và đạt tới trình độ cao. Chính vì vậy,
việc bảo đảm pháp chế là điều vô cùng cần thiết.
2. Giám sát là hoạt động đảm bảo pháp chế
Giám sát được xem là hoạt động hiệu quả trong việc đảm bảo pháp chế bởi mục
đích của giám sát là xem xét công việc cần làm có thực hiện đầy đủ, kịp thời theo đúng
những yêu cầu đã đặt ra hay có những vi phạm gì xảy ra không để nhắc nhở hoặc có các
biện pháp cần thiết để buộc đối tượng đó phải thực hiện theo đúng yêu cầu đã đặt ra.
ngũ trí thức…”. Ở nước ta nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua QH và
HĐND các cấp. Vì vậy hoạt động giám sát của QH và HĐND các cấp có ý nghĩa đặc biệt
trong đời sống chính trị - xã hội. Quyền lực nhà nước xuất phát trực tiếp từ nhân dân nên
sự giám sát của QH và HĐND là sự giám sát ủy quyền của nhân dân. Qua hoạt động này,
nhân dân thực hiện quyền lực của mình đối với hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước
để đảm bảo các hoạt động đó phục vụ lợi ích, ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
3.1. Quốc hội – cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất có quyền giám sát tối cao
3.1.1. Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất
QH là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất do nhân dân trực tiếp bầu ra. Vị trí tối
cao của QH được Hiến pháp quy định tại Điều 83: "QH là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. QH là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. QH quyết định những chính
sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của
đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về
quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. QH thực hiện quyền giám sát tối cao đối với
toàn bộ hoạt động của Nhà nước".
Quy định đó đã chỉ ra rằng QH có tính chất đặc biệt quan trọng và vị trí tối cao
trong toàn bộ bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà không một cơ
quan Nhà nước nào trong bộ máy Nhà nước ta có được.
3.1.2. Quốc hội có quyền giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của các cơ quan nhà nước
3
Trước hết, Hiến pháp ghi nhận vị trí pháp lý của QH trong hệ thống cơ quan nhà
nước ta là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, nên chính vị trí đó đã đặt nền móng xây
dựng nhiệm vụ và quyền hạn của QH. Chính vị trí pháp lý của QH và mối quan hệ giữa
QH với các cơ quan nhà nước khác đã khẳng định: “QH là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân… QH thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và
nghị quyết của QH; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ QH,
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.” (Ðiều 84 Hiến pháp
những cơ quan này có trách nhiệm báo cáo trước QH về hoạt động của mình. Trước hết,
QH tập trung giám sát trực tiếp hoạt động của một số cơ quan như Chính phủ, Toà án
nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Ngoài ra, để bảo đảm thực hiện tốt
quyền giám sát, QH còn giao nhiệm vụ này cho Hội đồng dân tộc, các Ủy ban, giao trực
tiếp cho các đại biểu QH hoạt động ở từng lĩnh vực công tác cụ thể của đời sống xã hội.
3.1.3. Phương pháp thực hiện quyền giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội
4
QH xem xét, thảo luận các báo cáo giữa năm và hàng năm của Chủ tịch nước, Uỷ
ban thường vụ QH, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện
trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Theo phương pháp này, tại kỳ họp cuối năm, việc
các chủ thể trên phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác của cơ quan, ngành mình trước
QH chính là hoạt động giám sát gián tiếp của QH. Thông qua hoạt động này, QH nhận
được những thông tin cần thiết về tình hình hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng như
các ngành trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật.
Quyền giám sát của QH cũng có thể được thực hiện thông qua hoạt động kiểm tra
việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và cơ sở.
Quyền giám sát của QH được thực hiện thông qua Uỷ ban thường vụ QH (từ Điều
11 đến Điều 13 Luật tổ chức QH), thông qua Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của QH (từ
Điều 23 đền Điều 29 Luật tổ chức QH), cũng như trực tiếp thông qua hoạt động của các
đại biểu QH (Điều 39, 42, 44, 45 Luật tổ chức QH).
Các đại biểu giám sát tập trung vào các vấn đề: Chất vấn, giám sát việc ban hành
văn bản quy phạm pháp luật, giám sát việc thực thi pháp luật của địa phương và việc giải
quyết khiếu nại tố cáo.
Các đại biểu QH thực hiện quyền giám sát của QH thông qua hoạt động chất vấn
những người đứng đầu các cơ quan nhà nước trung ương như Thủ tướng Chính phủ, Chủ
tịch nước, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
và các Bộ trưởng. Những chủ thể này có thể phải trả lời trong các kỳ họp của QH hoặc sau
kỳ họp của QH (Điều 98 Hiến pháp năm 1992). Ngoài ra, các đại biểu QH cũng có quyền
Hoạt động giám sát của HĐND đối với hành chính có căn cứ, phạm vi, nội dung,
hình thức và phương pháp tương tự như hoạt động giám sát của QH, nhưng ở các nấc
thang quyền lực thấp hơn, trên địa bàn lãnh thổ xác định.
4. Vai trò giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đối với việc bảo đảm pháp
chế trong quản lí hành chính nhà nước
4.1. Vai trò chung của cơ quan quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát đối với
việc đảm bảo pháp chế
Cơ quan quyền lực nhà nước giám sát hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước
cùng cấp. Thông qua hoạt động giám sát, QH và HĐND các cấp thực hiện quyền lực nhà
nước một cách thường xuyên và trực tiếp chỉ đạo cũng như kiểm tra mọi mặt công tác của
các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp.
Qua hoạt động giám sát, các cơ quan quyền lực nhà nước có thể phát hiện ra những
yếu kém, những khuyết điểm trong công tác tổ chức và hoạt động cũng như những khó
khăn và vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật và thực hiện nhiệm vụ mà pháp
luật đã quy định đối với các cơ quan hành chính nhà nước. Trên cơ sở đó cơ quan hành
chính nhà nước kịp thời đề ra những thời gian cụ thể và biện pháp thích hợp khắc phục
những khó khăn và tồn tại ấy. Đồng thời cũng thông qua hoạt động giám sát ấy, QH và
HĐND các cấp có dịp kiểm điểm tính hợp lí và hợp pháp của các văn bản do chính mình
ban hành. Nếu phát hiện thấy khiếm khuyết về hình thức hay nội dung thì các cơ quan
quyền lực nhà nước nói trên phải đưa ra những biện pháp, giải pháp khắc phục. Thông qua
đó những cơ quan này đưa ra những yêu cầu và những biện pháp cải tiến chế độ, quy trình
lập pháp, lập quy nâng cao hiệu lực quản lí nhà nước.
QH và HĐND các cấp trong quá trình giám sát có thể phát hiện ra những vi phạm
pháp luật xâm phạm tới trật tự an ninh và lợi ích của nhà nước, từ đó mà kịp thời quản lí
hoặc yêu cầu các cấp, các ngành xử lí nghiêm minh những vi phạm đó.
Các hình thức, phương pháp giám sát được triển khai đã đem lại kết quả khá tốt,
góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của công cuộc đổi mới, tăng cường hiệu
quả hoạt động của bộ máy nhà nước, phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân.
phù hợp. Kiểm tra tính đúng đắn trong các văn bản do QH ban hành chính là cơ sở để
Chính phủ ban hành các nghị định; các bộ, cơ quan ngang bộ ban hành các thông tư hướng
dẫn thi hành,… đảm bảo cho pháp luật được thực hiện một cách thống nhất từ trung ương
đến địa phương. Trên cơ sở đó, các CQHCNN cũng có thể đưa ra những yêu cầu, biện
pháp cải tiến chế độ, quy trình lập pháp, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Nhờ hoạt động giám sát, QH đánh giá được năng lực hoạt động của các cơ quan nhà
nước, các cán bộ, công chức được pháp luật trao cho những thẩm quyển quản lí nhà nước
xem việc trao quyền hạn như vậy đã phù hợp hay chưa?, những thẩm quyền đã trao đó có
thực sự được sử dụng đúng mục đích? Hiệu quả hoạt động của những cơ quan đó ra sao?,
… từ đó nghiên cứu, xem xét trao quyền lực nhà nước cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức
khác có khả năng thực hiện tốt hơn những công việc mà QH giao phó,…
Thông qua việc thực hiện quyền giám sát, QH xây dựng những biện pháp và giải
pháp hữu hiệu để giải quyết những vấn đề được phát hiện từ việc thực hiện quyền giám sát
của mình. Chẳng hạn như việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do
QH bầu và phê chuẩn; Ủy ban pháp luật của QH có quyền thực hiện giám sát đối với các
văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, giám sát việc ban hành nghị định, nghị
quyết của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; Hội đồng dân tộc cũng
có quyền giám sát các hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong lĩnh vực dân
tộc như: chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi.
Mặt khác, hoạt động giám sát của QH còn là phương tiện kiểm soát sự lạm dụng
quyền lực nhà nước của các chủ thể được pháp luật trao cho những nhiệm vụ quyền hạn
nhất định. Điều 15, Quy chế hoạt động của đại biểu QH và đoàn đại biểu QH quy định:
“Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật…đại biểu QH có quyền trực tiếp yêu cầu cơ
quan, tổ chức, đơn vị hữu quan và những người có trách nhiệm thi hành những biện pháp
cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi trái pháp luật đó. Cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc
7
người có trách nhiệm phải thông báo cho đại biểu QH biết kết quả giải quyết”. Hoạt động
này có ý nghĩa rất lớn trong việc phát hiện và xử lí nghiêm các hành vi lạm dụng quyền
nghênh...2
Qua kết quả giám sát, HĐND xem xét, lựa chọn và đưa vào nghị quyết phát triển
kinh tế - xã hội hàng năm các chỉ tiêu, mục tiêu, nhiệm vụ; hoặc ban hành các nghị quyết
riêng để khắc phục hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở đó,
UBND tỉnh, các huyện, thành phố, các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh cũng ban
hành văn bản chỉ đạo, kiểm tra, thậm chí điều chỉnh, thay đổi các mục tiêu, nhiệm vụ cho
phù hợp với tình hình địa phương.
Một biểu hiện cụ thể nữa của hình thức giám sát quan trọng của HĐND là việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo bởi QLHCNN là lĩnh vực mà người dân có nhiều khiếu nại, tố cáo
nhất như việc thu hồi đất bồi thường chưa thỏa đáng, cán bộ tham nhũng, tiêu cực,… Vì
2
http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=116820.
8
thế giải quyết khiếu nại, tố cáo của cử tri kịp thời, nhanh chóng, đúng pháp luật là cơ sở để
đảm bảo pháp chế được thực hiện, giữ vững lòng tin của nhân dân. Hoạt động này chính là
điều kiện để HĐND hoàn thành nhiệm vụ người đại biểu mà nhân dân giao phó.
Hoạt động giám sát của HĐND góp phần tích cực vào việc phát hiện những sai trái
của cơ quan, tổ chức cơ sở trong việc chấp hành pháp luật, những điểm chưa hợp lý trong
QLHCNN của các cơ quan nhà nước từ đó kiến nghị những biện pháp khắc phục một cách
có hiệu quả những điểm chưa hợp lý đó. Ví dụ như trong việc quản lí, thu chi ngân sách
địa phương; trong việc xây dựng các công trình phúc lợi xã hội,… xem có hiện tượng
quan liêu, tham nhũng, lãng phí làm thất thoát tài sản nhà nước hay không? Từ đó có
những biện pháp nhằm khắc phục những yếu kém, sơ hở trong hoạt động QLHCNN...
Trên cơ sở đó kiến nghị các cấp có thẩm quyền giải quyết, xử lí kịp thời những sai
phạm; đôn đốc các cơ quan, tổ chức hữu quan thực hiện nghị quyết của HĐND và của cấp
trên cũng như giải quyết các vấn đề bức xúc ở địa phương, bảo đảm thi hành hiệu quả các
giám sát do phần lớn các đại biểu hoạt động kiêm nhiệm. Bên cạnh đó cũng không có một
9
cơ quan chuyên môn nào thường xuyên kiểm tra, giám sát do đó nếu có thất thoát thì rất
khó phát hiện hoặc khi sự cố xảy ra thì lúc đó các đại biểu mới biết,… Vì vậy, phải chú ý
cử những đại biểu có kiến thức chuyên sâu, am hiểu về lĩnh vực giám sát, từ đó mới có thể
đưa ra những kiến nghị sát thực tế. Việc thường xuyên xem xét tiến trình giải quyết sau
giám sát cũng là một yêu cầu rất quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát.
Trong các kỳ họp vẫn chưa thực sự có nhiều câu hỏi chất vấn hay, một phần là do
khả năng của mỗi đại biểu, một phần là do tâm lí né tránh. Chủ tịch QH Nguyễn Văn An
đã phê bình một số đại biểu chất vấn còn dài dòng, đi vào vấn đề quá cụ thể: "Chất vấn
không phải thách đố, không phải thi vấn đáp mà chất vấn vào việc thực thi nhiệm vụ của
Chính phủ, với thái độ xây dựng". Vì vậy, để nâng cao chất lượng kỳ họp, các đại biểu QH
cần tăng thời gian tiếp xúc cử tri, qua đó vừa nắm chắc tình hình để có ý kiến xác đáng,
vừa thực hiện chức năng giám sát tốt hơn vì cử tri, nhân dân là lực lượng giám sát tốt nhất.
Nhiều kiến nghị sau giám sát của đoàn đại biểu QH cũng như của các đại biểu
HĐND được các cơ quan hữu quan thừa nhận và có điều chỉnh nhưng vẫn chưa có văn
bản chính thức trả lời. Một số kiến nghị còn dàn trải, chưa thật sâu sắc và chỉ mới đưa ra
khuyến nghị có tính chất chung… Vì vậy, bản thân đại biểu cũng phải có ý chí vươn lên,
thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết về pháp luật,… để có những kiến nghị phù hợp.
Đa phần các đại biểu hoạt động kiêm nhiệm nên quỹ thời gian làm nhiệm vụ đại
biểu còn hạn chế; số lượng đại biểu tham gia giám sát không nhiều (khoảng từ 3 - 4 đại
biểu, có cuộc từ 2 - 3 đại biểu) và cũng có rất ít thời gian để nghiên cứu sâu về vấn đề
giám sát. Vì vậy, chúng ta phải tăng cường số lượng các đại biểu hoạt động chuyên trách.
Hoạt động giám sát chỉ mới chú trọng đến việc chất vấn trực tiếp tại kỳ họp, công
tác chất vấn giữa hai kỳ họp thực hiện không đều, không thường xuyên. Các cuộc giám sát
thường tổ chức theo hình thức Đoàn giám sát của Đoàn Đại biểu QH; ít có đại biểu nào
thực hiện chương trình giám sát riêng theo quy định của Luật hoạt động giám sát. Số cuộc
giám sát tại cơ sở tuy có tăng lên nhưng nhìn chung vẫn chưa sâu; một số cuộc giám sát
C. KẾT LUẬN
Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân chính vì thế mà mọi hoạt động
giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo pháp chế trong quản lí hành
chính cũng thực chất là để đảm bảo những điều kiện cho đất nước phát triển, đời sống
nhân dân được nâng cao. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là mục
đích mà chúng ta hướng tới trong tương lai nhưng mục đích đó chỉ có thể đạt được khi
chúng ta xây dựng được một hệ thống pháp luật hoàn thiện và mọi người dân đều nghiêm
chỉnh thực hiện theo hiến pháp và pháp luật.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Nxb. Công an
nhân dân, Hà Nội- 2009, tr.351 - 382.
2.
GS.TS.Trần Ngọc Đường, Quyền giám sát tối cao và một số suy nghĩ về việc
nâng cao hiệu lực và hiệu quả thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội, Kỷ yếu hội
thảo về hoạt động giám sát của Quốc hội.
3.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1946, 1959,
1980, 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo nghị quyết số 51/2001/ NQ- QH
ngày 21/12/ 2001 của QH), Nxb. Lao động - xã hội, năm 2009.
4.
Ts. Lê Quốc Hùng, Thống nhất, phân công và phối hợp quyền lực nhà nước ở
Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội - 2004.
5.
PGS. TS. Nguyễn Đăng Dung, Quốc hội Việt Nam trong nhà nước pháp
quyền, Hà Nội - 2007.
6.
TS. Nguyễn Thị Hồi, TS. Lê Vương Long, Th. Đoàn Bạch Liên, ThS.
QH nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị quyết 55/2005/QH11
29/11/2005 về kết quả giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, Cơ quan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao.
12