Cơ sở lý luận về thẩm quyền ban hành VBQPPL của cơ quan nhà nước ở địa phương - Pdf 34

Bài tập cuối kỳ

Xây dựng văn bản pháp luật

MỞ ĐẦU
Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là một hoạt động vô
cùng quan trọng của nhà nước nhằm thực hiện việc quản lý nhà nước bằng pháp
luật. Ở cấp độ địa phương, hoạt động này thể hiện vai trò của cơ quan nhà nước ở
địa phương trong toàn thể bộ máy nhà nước. Trong thời gian gần đây, hoạt động
ban hành VBQPPL của cơ quan nhà nước tại địa phương đã đạt được những thành
tựu đáng kể. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Nhận
thức rõ vấn đề trên sẽ là cơ sở để nâng cao chất lượng của VBQPPL của cơ quan
nhà nước ở địa phương.

NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận về thẩm quyền ban hành VBQPPL của cơ quan
nhà nước ở địa phương.
Cơ quan nhà nước ở địa phương là một bộ phận hợp thành bộ máy nhà nước
thống nhất, bao gồm: Hội đồng nhân dân (HĐND), Uỷ ban nhân dân (UBND), và
các cơ quan thường trực. Để thực hiện chức năng của mình các cơ quan này ban
hành văn bản pháp luật (trong đó quan trọng nhất phải kể đến VBQPPL) nhằm thi
hành Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, các văn bản khác của cơ quan nhà nước cấp trên
và để giải quyết những công việc của địa phương.
HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, là đại diện lợi ích cho
nhân dân địa phương. Đồng thời, HĐND cũng là cơ quan cấp dưới của cơ quan
quyền lực cấp trên.Với vị trí trên, HĐND có nhiệm vụ thực hiện những văn bản
pháp luật : Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, văn bản khác do cơ quan quyền lực cấp trên
ban hành cũng như làm tốt vai trò đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân,
quản lý xã hội tại địa phương. Chính vì vậy, quyền ban hành VBQPPL của HĐND
đã được cụ thể hoá trong nhiều quy định. Điều 120, Hiến pháp 1992: “ Căn cứ vào


II. Hiện Trạng ban hành VBQPPL của cơ quan nhà nước ở địa
phương.
1. Ưu đểm của hoạt động ban hành VBQPPL của cơ quan nhà
nước ở địa phương.
1. Trong thời gian gần đây, số lượng VBQPPL của cơ quan nhà nước ở địa
phương tăng lên đáng kể. Việc ban hành đã kịp thời thể chế hoá đường lối chủ
trương, chính sách của Đảng, nhà nước, hướng dẫn việc thực hiện văn bản do cơ

Đinh Thị Hạnh

2

KT32A022


Bài tập cuối kỳ

Xây dựng văn bản pháp luật

quan nhà nước cấp trên ban hành, đáp ứng được phần nào yêu cầu quản lý xã hội,
góp phần bổ sung “khoảng trống” pháp luật, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế
xã hội. Nhiều địa phương đã nhanh chóng ban hành những văn bản trong giới hạn
thẩm quyền của mình để giải quyết những vấn đề bức xúc, những quan hệ xã hội
mới cần điều chỉnh tại địa phương góp phần tăng cường quản lý xã hội theo kịp
tinh thần đổi mới.
2. Các VBQPPL ban hành ngày càng nâng cao về chất lượng, đặc biệt là văn
bản của HĐND và UBND cấp tỉnh ban hành. Tình trạng văn bản ban hành không
đúng thẩm quyền, có nội dung trái với nội dung văn bản của cấp trên, chồng chéo
hoặc mâu thuẫn với VBQPPL khác của cơ quan cùng cấp ban hành, hoặc có nội
dung không phù hợp với thực tế của địa phương ngày càng giảm bớt. Cùng với đó

phương. Việc làm này đã từng bước tiếp nhận sự tham gia của một lực luợng cán
bộ có chuyên môn vào công tác xây dựng văn bản pháp luật của nhà nước.
5. Hiện nay, rất nhiều địa phương coi trọng công tác rà soát hệ thống
VBQPPL một cách thường xuyên để phát hiện những văn bản không đảm bảo chất
lượng, trái pháp luật để trình cấp trên giải quyết. Việc làm này của các địa phương
đã góp phần giảm bớt những sai phạm trong hoạt động ban hành văn bản, nâng cao
trách nhiệm của các chủ thể ban hành. Thông qua hoạt động này các văn bản cảu
địa phương cũng được hệ thống lại, giúp cho công tác quản lý văn bản được hiệu
quả.

2. Nhược điểm của hoạt động ban hành VBQPPL của cơ quan
nhà nước ở địa phương.
Nhìn chung vẫn còn nhiều văn bản không đáp ứng được yêu cầu cả về nội
dung và hình thức và trình tự thủ tục từ khâu lập chương trình cho đến khâu ban
hành văn bản. Một số hạn chế điển hình như sau:
1. Còn tình trạng ban hành văn bản trái thẩm quyền, vượt quá thẩm quyền
của mình, trong khi các địa phương không được ban hành văn bản giải quyết vấn
đề đó thì lại ban hành văn bản. Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của HĐND, UBND thì thẩm quyền ban hành văn bản QPPL là của tập
thể UBND, không phải thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND. Tuy nhiên, một số
UBND cấp xã còn nhầm lẫn giữa hai thẩm quyền này. Một số Uỷ ban nhân dân ban
hành văn bản QPPL trái thẩm quyền về nội dung, như: Uỷ ban nhân dân cấp huyện
quy định việc thu phí, UBND cấp xã ban hành văn bản QPPL quy định làm hạn

Đinh Thị Hạnh

4

KT32A022


hướng dẫn, không có văn bản quy định rõ, thậm trí nhiều văn bản của cấp dưới

Đinh Thị Hạnh

5

KT32A022


Bài tập cuối kỳ

Xây dựng văn bản pháp luật

không thể hiện hết được hết các nội dung văn bản của cấp trên, nhiều văn bản
nhanh bị lạc hậu, tầm khái quát của văn bản chưa đủ mức cần thiết, một số văn bản
bị thay thế sử đổi liên tục làm giảm hiệu quả của hoạt động quản lý.
3. Nhiều địa phương còn trạng ban hành VBQPPL dưới một số hình thức
không do luật định mà là các văn bản hành chính thông dụng như: công văn, thông
báo, kết luận… Tuy nhiên nội dung lại chứa đựng QPPL, phổ biến hiện nay ở các
UBND các cấp là các thông báo kết luận cuộc họp của chủ tịch hoặc phó chủ tịch
UBND. Vẫn còn hiện tượng VBQPPL ban hành đánh số, ký hiệu chưa đúng theo
quy định, văn bản QPPL không có ký hiệu năm ban hành, ngược lại văn bản áp
dụng pháp luật lại đánh ký hiệu năm ban hành. Ngôn ngữ văn bản thiếu chính xác,
thiếu tính chặt chẽ, nghĩa không thống nhất nhiều khi gây hiểu nhầm.
4. Về vấn đề xây dựng chương trình xây dựng VBQPPL. Nhiều địa phương
không tiến hành hoạt động lập kế hoạch vì họ cho rằng việc lập kế hoạch xây dựng
VBQPPL là khó thực hiện, các địa phương chủ yếu căn cứ vào VBQPPL của cấp
trên để ban hành văn bản cụ thể, mà không chủ động ban hành được. Đây là một
nhận định sai lầm của chính quyền địa phương. Để lập các kế họach này địa
phương có thể căn cứ vào kế hoạch xây dựng VBQPPL của cấp trên, bện cạnh đó

1. Hệ thống luật quy định về vấn đề ban hành văn bản QPPL của địa phương
chưa thống nhất, chưa quy định cụ thể, nhiều quy định còn mang tính chung chung,
có nhiều vấn đề quan trọng nhưng lại không được quy định rõ ràng: Ví dụ như:
Hiện nay, công văn là một loại văn bản hành chính được nhiều chủ thể sử dụng, và
thường được sử dụng trong trường hợp chỉ đạo của cấp trên với cấp dưới, hướng
dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ. Đây là những đặc điểm gần giống với chỉ thị - một
loại văn bản chứa đựng QPPL. Nhưng việc không phân biệt rạch ròi các trường hợp
sử dụng công văn và các trường hợp sử dụng chỉ thị trong thời gian qua,…đến sự
nhầm lẫn giữa hai loại văn bản này.
2. Một số địa phương chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác xây
dựng và ban hành văn bản QPPL, chưa giành sự quan tâm, chỉ đạo đúng mức đối
với công tác soạn thảo, ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, nhất là kinh phí
và biên chế, thiếu đầu tư chất xám cho hoạt động này, bỏ qua trình tự thủ tục do
luật quy định. Cá biệt còn có một số địa phương vì lợi ích cục bộ mà ban hành văn
bản không đúng quy định về thẩm quyền, hình thức, nội dung, nhiều văn bản không
có tính thực thi.

Đinh Thị Hạnh

7

KT32A022


Bài tập cuối kỳ

Xây dựng văn bản pháp luật

3. Đội ngũ làm công tác văn bản của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND,
văn phòng HĐND và UBND, cơ quan tư pháp các cấp còn thiếu và chưa đáp ứng



Bài tập cuối kỳ

Xây dựng văn bản pháp luật

2. Cần hoàn thiện những quy định của pháp luật về vấn đề ban hành
VBQPPL của địa phương. Mặc dù, thời gian qua đã có nhiều văn bản quan trọng
quy định về vấn đề này như: Luật tổ chức HĐND và UBND, Luật ban hành văn
bản VBQPPL của HĐND và UBND nhưng trên thực tế việc cụ thể hoá văn bản
trên luôn gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy cần có những quy định rõ ràng hơn nữa
về việc ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND.
3. Việc đầu tư một nguồn kinh phí thích hợp cho hoạt động ban hành cũng là
vấn đề cần phải giải quyết ngay. Nhờ có nguồn kinh phí này các địa phương có thể
thực hiện tốt hơn các công việc của mình. Nguồn kinh phí tạo điều kiện thuận lợi
cho việc khảo sát tình hình, nghiên cứu thực tế, kiểm tra kết quả của hoạt động ban
hành, huy động rộng rãi ý kiến của nhân nhân,nâng cao chất lượng văn bản.
4. Bồi dưỡng cán bộ là điểm quan trọng của các giải pháp này. Các địa
phương cần phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ mới mong hiệu quả của
VBQPPL được nâng cao. Việc nâng cao cán bộ cho địa phương có thể thực hiện
qua một số phương thức như: cử cán bộ đi học các lớp học ngắn hạn cũng như dài
hạn, tự mở các lớp học bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, nêu cao tinh thần học hỏi
lẫn nhau giữa những người cùng nhiệm vụ.
5. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định về ban
hành văn bản QPPL. Có thể tổ chức công tác này với một số biện pháp như: thành
lập đoàn kiểm tra thường xuyên, xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách về kiểm tra,
có chuyên môn nghiệp vụ, đảm bảo chất lưọng kiểm tra.
6. Song song với kiểm tra, thì phải tổ chức rà soát có hệ thống văn bản,xử lý
nghiêm minh vi phạm của các chủ thể ban hành. Gắn trách nhiệm của cơ quan ban
hành văn bản với chất lượng văn bản bản. Để có một VBQPPL chất lượng tốt cần


KẾT LUẬN
Từ những phân tích trên có thể nhận thấy thực trạng, cũng như những
nguyên nhân, cách khắc phục. Với tất cả các biện pháp trên, các cơ quan chính
quyền địa phương cần thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để và có hiệu quả thì
mới mong thu lại những kết quả như ý muốn.

Đinh Thị Hạnh

10

KT32A022


Bài tập cuối kỳ

Xây dựng văn bản pháp luật

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình xây dựng văn bản pháp luật, NXB
Công an nhân dân, 2008.
2. Đoàn Thị Tố Uyên, Luận văn thạc sỹ luật học, Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về xây sựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện
nay. Hà Nội, 2003.
3. Hoàng Minh Hà, Luận văn thạc sỹ luật học, Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở Việt Nam
hiện nay.
4. P. TS Lê Hồng Sơn, Quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của
HĐND và UBND, thực trạng và kiến nghị. Tạp chí Dân chủ và pháp luật số
3/1999.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status