TRƢỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG
LỚP CHUYÊN VIÊN K6A - 15
-------------------
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA
Đề tài:
Kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh
dịch vụ văn hóa
Họ tên
: Phạm Thùy Liên
Đơn vị công tác
: Khoa Kinh tế - Trƣờng Đào tạo
cán bộ Lê Hồng Phong
Hà Nội, năm 2015
MỞ ĐẦU
Phường Phúc La, Quận Hà Đông được thành lập ngày 23/8/1994 theo
Quyết định số 52 của Thủ tướng Chính phủ, được tách ra từ một phần của xã Văn
Yên và phường Yết Kiêu, với tổng diện tích tự nhiên 138,71 ha. Phía Tây giáp với
phường Văn Quán, lấy đường 19/5 làm ranh giới; phía Đông Bắc giáp với xã Tân
Triều - Thanh Trì - Hà Nội; phía Đông Nam giáp phường Kiến Hưng; phía Tây
Nam giáp sông Nhuệ. Hiện nay, dân số trên địa bàn phường có khoảng 26.000
nhân khẩu, sinh sống tại 19 tổ dân phố. Địa bàn phường có quốc lộ 70B chạy qua,
có 2 khu di tích lịch sử, 2 HTX và có trên 10 cơ quan đơn vị, doanh nghiệp trực
cuộc sống của một bộ phận người dân và cơ quan, đơn vị ở gần địa điểm kinh
doanh.
Trước thực trạng về hoạt động kinh doanh karaoke trên địa bàn, tôi đặc biệt
quan tâm và chọn tình huống: "Kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực kinh doanh dịch vụ văn hóa"làm tiểu luận về xử lý tình huống Lớp tiêu
chuẩn ngạch chuyên viên.
NỘI DUNG
I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG
Bà Nguyễn Minh Hồng có hộ khẩu thường trú tại số 32 đường Phùng Hưng,
phường Phúc La, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Tháng 1 năm 2013 bà Hồng mở
quán kinh doanh karaoke tại địa điểm trên lấy tên cơ sở kinh doanh là: Karaoke
Phương Đông
Bà Hồng đã đến UBND quận Phúc La xin cấp giấy phép kinh doanh có
ngành nghề kinh doanh karaoke.
Trong quá trình hoạt động cơ sở kinh doanh karaoke của bà Hồng thường để
xảy ra tình trạng mất an ninh trật tự, làm ảnh hưởng và gây nhiều bức xúc cho
người dân chung quanh. Ngày 9/11/2014, nhân dân tổ dân phố số 5 phường Phúc
La có đơn khiếu nại phản ánh về những biểu hiện thiếu lành mạnh tại cơ sở kinh
doanh này như: quán thường xuyên hoạt động quá giờ quy định (sau 23h), mất an
ninh trật tự làm ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân xung quanh và
phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" tại khu dân cư.
Trước tình trạng trên UBND phường Phúc La chỉ đạo Đội kiểm tra liên
ngành (Văn hóa và Thông tin, Công an phường, Đội quản lý thị trường, Quản lý đô
thị) tiến hành khảo sát, nắm bắt tình hình. Đội kiểm tra xác minh nội dung đơn
khiếu nại tố cáo là có cơ sở Vào lúc 23h20’, ngày 14/11/2014 Đội kiểm tra liên
ngành tiến hành tổ chức kiểm tra tại địa điểm kinh doanh karaoke Phương Đông
của bà Hồng. Qua kiểm tra đã phát hiện nhiều sai phạm:
+ Sử dụng tiếp viên không ký kết hợp đồng lao động
quy định pháp luật. Trong tổ chức kinh doanh cần thể hiện trách nhiệm và đạo đức
nghề nghiệp, không vì lợi nhuận trước mắt đưa hoạt động trá hình vào kinh doanh,
làm ảnh hưởng đến đạo đức lối sống và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn kinh
doanh.
2. Cơ sở pháp lý
1. Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 26/4/2009 của phủ ban hành Quy
chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng.
2. Thông tư số 04/2009/TT-BVHTTDL ngày 16/12/2009 của Bộ Văn hoá,
Thể thao và Du lịch quy định chi tiết thi hành một số Quy định tại Quy chế hoạt
động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng ban hành kèm theo Nghị
định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ;
3. Thông tư số 09/2010/TT-BVHTTDL ngày 24/8/2009 của Bộ Văn hoá,
Thể thao và Du lịch quy định chi tiết ban hành một số quy định tại Quy định xử
phạt vi phạm hành chính kèm theo Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010
của Chính phủ.
4. Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ ban hành
Quy định xử phạt vi phạm hoạt động văn hoá:
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Nghị định này quy định các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động
văn hoá; hình thức xử phạt, mức xử phạt; thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt và
các biện pháp khắc phục hậu quả.
2. Hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động văn hoá là những hành vi vi
phạm các quy định của pháp luật về điện ảnh; các loại hình nghệ thuật biểu diễn;
hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng...
Điều 2. Đối tƣợng áp dụng
1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam có hành vi vi phạm hành chính trong hoạt
động văn hoá.
2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong hoạt
a) Cho người say rượu, bia vào vũ trường, nơi khiêu vũ công cộng, phòng
karaoke;
b) Say rượu. bia ở công sở, nơi làm việc, khách sạn nhà hàng, quán ăn, vũ
trường, nơi khiêu vũ công cộng, phòng karaoke, nơi hoạt động văn hoá, kinh doanh
dịch vụ văn hoá trên các phương tiện giao thông và những nơi công cộng khác.
5. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tịch thu tang vật và phương tiện vi phạm đối với hành vi quy định tại các
điểm a và b khoán 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này;
b) Tịch thu sung công quỹ số tiền thu bất chính đối với hành vi quy định tại
các điểm a và d khoản 2 Điều này.
Điều 19. Vi phạm các quy định về điều kiện tổ chức hoạt động văn hoá,
kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các
hành vi sau:
b) Không bảo đảm đủ ánh sáng theo quy định tại vũ trường, nơi khiêu vũ
công cộng, phòng hát karaoke;
c) Sử dụng người lao động làm việc tại vũ trường, nhà hàng karaoke mà
không có hợp đồng lao động theo quy định;
3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các
hành vi sau:
a) Không bảo đảm đủ diện tích theo quy định của vũ trường, nơi khiêu vũ
công cộng, phòng karaoke sau khi đã được cấp giấy phép;
b) Che kín cửa hoặc thực hiện bất kỳ hình thức nào làm cho bên ngoài không
nhìn rõ toàn bộ phòng karaoke;
c) Tắt đèn tại vũ trường, nơi khiêu vũ công cộng, phòng karaoke khi đang
hoạt động; khoá hoặc chốt cửa phòng karaoke khi đang hoạt động;
d) Sử dụng người dưới 1 8 tuổi làm việc tại vũ trường, nhà hàng karaoke.
1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi uống rượu
tại phòng karaoke;
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các
hành vi sau:
a) Bán rượu tại phòng karaoke;
b) Sử dụng từ 2 đến 3 nhân viên phục vụ trong một phòng karaoke;
c) Bán tranh, ảnh có nội dung đồi trụy, khiêu dâm, kích động bạo lực.
3. Phạt tiền từ trên 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong
các hành vi sau:
a) Treo, trưng bày tranh, ảnh, lịch hay vật khác có nội dung đồi trụy khiêu
dâm, kích động bạo lực tại vũ trường, nơi khiêu vũ công cộng, nhà hàng karaoke
hoặc tại nơi hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng khác;
b) Lưu hành tại vũ trường, nơi khiêu vũ công cộng, nhà hàng karaoke, phim,
băng đĩa, vật liệu có nội dung ca nhạc, sân khấu hoặc biểu diễn tác phẩm sân khấu,
âm nhạc, múa chưa được phép lưu hành;
c) Sử dụng từ 4 đến 5 nhân viên phục vụ trong một phòng karaoke;
d) Hoạt động karaoke, quầy bar, chiếu phim, biểu diễn nghệ thuật, trình diễn
thời trang, vui chơi giải trí quá giờ được phép.
4. Phạt tiền từ trên 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong
các hành vi sau:
a) Dùng các phương thức phục vụ có tính chất khiêu dâm tại vũ trường, nơi
khiêu vũ công cộng, nhà hàng karaoke, nơi hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch
vụ văn hoá công cộng khác;
b) Sử dụng từ 06 nhân viên phục vụ trở lên trong một phòng karaoke.
5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các
hành vi sau:
a) Dung túng, bao che cho các hoạt động có tính chất đồi trụy, khiêu dâm,
kích động bạo lực, hoạt động mại dâm, sử dụng ma tuý, đánh bạc hoặc “cá độ”
Điều 42. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch ủy ban
nhân dân các cấp
Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính theo quy định tại các khoản 4 và 5 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số
điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008 và Điều 30 của Pháp lệnh
Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 trong phạm vi địa phương mình quản lý đối
với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá được quy định tại Nghị
định này.
Điều 43. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan thanh
tra chuyên ngành
1. Thanh tra viên chuyên ngành văn hóa đang thi hành công vụ có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 500.000 đồng;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị
đến 2.000.000 đồng;
d) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị
định này, trừ biện pháp buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép.
2. Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 30.000.000 đồng;
c) Tịch thu tang vật phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính;
d) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền;
đ) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Chương II Nghị
định này.
3. Chánh Thanh tra Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 40.000.000 đồng;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính;
tiền thì phải nộp tiền tại địa điểm theo quy định tại Điều 58 của Pháp lệnh Xử lý vi
phạm hành chính năm 2002.
Điều 48. Thủ tục tịch thu và xử lý tang vật, phƣơng tiện vi phạm
1. Khi áp dụng hình thức tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
trong hoạt động văn hoá, người có thẩm quyền xử phạt phải thực hiện đúng thủ tục
quy định tại Điều 60 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002.
2. Người ra quyết định tịch thu có trách nhiệm tổ chức bảo quản tang vật
phương tiện bị tịch thu. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tịch thu tang vật,
phương tiện vi phạm, người ra quyết định tịch thu phải chuyển giao quyết định xử
phạt, biên bản tịch thu và toàn bộ tang vật, phương tiện bị tịch thu cho cơ quan có
thẩm quyền để tổ chức bán đấu giá theo quy định tại Điều 61 của Pháp lệnh Xử lý
vi phạm hành chính năm 2002, trừ băng đĩa và các sản phẩm văn hoá đó có nội
dung.
Điều 49. Thủ tục tƣớc quyền sử dụng giấy phép
Thủ tục tước quyền sử dụng các loại giấy phép trong hoạt động văn hóa thực
hiện theo quy định tại Điều 59 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002
và Điều 11 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2008.
III. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ
1. Nguyên nhân:
1.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước
Công tác quản lý nhà nước còn lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, chồng chéo và thậm
chí còn vô hiệu hóa lẫn nhau. Ngành này đình chỉ thu hồi giấy phép đăng ký kinh
doanh thì ngành khác lại cấp.
Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý tệ nạn xã hội của cơ quan chức năng có
nơi, có lúc chưa liên kết, triệt để đôi lúc còn “nhẹ tay” đến kiểm tra thấy sai phạm
nhưng chỉ nhắc nhở nên chủ cơ sở kinh doanh vẫn ngang nhiên hoạt động và bất
chấp dư luận xã hội.
1.2. Đối với chính quyền địa phương
căng nhanh chóng du nhập vào nước ta. Một bộ phận chủ cơ sở hám lợi, dùng
nhiều phương thức (tiếp viên nữ) nên dễ biến tướng thành tệ nạn xã hội (mại dâm)
làm ảnh hưởng đến môi trường văn hóa và đời sống sinh hoạt cộng đồng, gây
nhiều lo ngại, bức xúc đối với người dân.
Trong thời điểm kiểm tra chưa phát hiện và bắt quả tang những vi phạm về
tệ nạn xã hội. Tuy nhiên kinh doanh karaoke là loại hình kinh doanh nhạy cảm dễ
dẫn đến tệ nạn xã hội. Do vây, chính quyền địa phương hơn ai hết cần theo dõi và
nắm bắt tình hình hoạt động để kịp thời uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, ảnh
hưởng đến thuần phong mỹ tục của người Việt Nam.
2.2. Về lĩnh vực thương mại dịch vụ
Những năm qua, cùng với sự phát triển nhanh về kinh tế - xã hội, các hoạt
động kinh doanh dịch vụ văn hóa cũng phát triển đa dạng, phức tạp. Theo số liệu
điều tra toàn phường không có cơ sở kinh doanh vũ trường, tổ chức biểu diễn nghệ
thuật chuyên nghiệp, có 42 cơ sở kinh doanh dịch vụ Karaoke hoặc các hình thức
có hát Karaoke.
2.3. Về lĩnh vực an ninh trật tự
Điều kiện quy định ngành nghề kinh doanh, khi sử dụng nhân viên phục vụ
phải ký kết hợp đồng lao động. Khi Đội kiểm tra liên ngành kiểm tra cơ sở kinh
doanh của bà Hồng thì các nhân viên của quán Karaoke Phương Đôngkhông ký
kết hợp đồng lao động, có nhân viên chưa đủ 1 8 tuổi. Như vậy cơ sở kinh doanh
karaoke của bà Hồng đã vi phạm Nghị định 45/2005/NĐ-CP.
Một trong những diều kiện kinh doanh ngành nghề đặc biệt cần thiết là
phòng cháy chữa cháy. Đây là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp tới tính mạng con người.
Thực tế, cơ sở kinh doanh đã không chấp hành lắp đặt thiết bị phòng cháy chữa
cháy tại cơ sở, cố tình thiết kế phòng ốc, lối đi, cầu thang ngoằn nghèo để đối phó
và làm chậm bước đoàn kiểm tra cũng có nghĩa là tiềm ẩn nguy cơ chết người khi
có sự cố cháy nổ xảy ra, vi phạm Nghị định số l23/2005/NĐ-CP.
Qua kiểm tra tại quán karaoke sử dụng tiếp viên nữ phục vụ khách (tuy chưa
thức chế tài mức phạt thấp nhất.
- Ưu điểm:khuyến khích, tạo điều kiện trong kinh doanh góp phần phát triển
kinh tế xã hội.
- Nhược điểm:Thiếu tính răn đe, dễ dẫn đến xem thường pháp luật trong
ngành nghề kinh doanh.
* Với những phương án nêu trên là người làm công tác quản lý nhà nước
trong lĩnh vực văn hoá, và thực tế tình hình ở địa phương kết hợp với kiến thức lý
luận về công tác tuyên truyền, phòng chống tệ nạn xã hội tôi lựa chọn phương án
phối kết hợp giữa Phương án 1và Phương án 2là phương án tối ưu để tổ chức
thực hiện. Phương án này có tính khả thi cao trong lĩnh vực quản lý văn hoá ở địa
phương.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƢƠNG ÁN ĐÃ LỰA CHỌN
1. Các bƣớc thực hiện:
Bƣớc 1: Lập biên bản vi phạm hành chính đối với chủ cơ sở kinh doanh
karaoke Phương Đông
Bƣớc 2: Mời chủ cơ sở đến văn phòng Đội kiểm tra liên ngành làm việc để
xác định lỗi vi phạm, lắng nghe cơ sở trình bày ý kiến và bổ sung giấy tờ liên quan
(nếu có)
Bƣớc 3: Lập Tờ trình đề xuất UBND phường ra quyết định xử phạt.
Bƣớc 4: Căn cứ vào đề xuất của Đội kiểm tra liên ngành, UBND phường
ban hành Quyết định xử phạt hành chính.
Bƣớc 5: Triển khai quyết định xử phạt hành chính, phối hợp với chính
quyền địa phương theo dõi quá trình chấp hành quyết định của đương sự.
2. Kết quả giải quyết:
UBND phường Phúc La ra Quyết định xử phạt cơ sở kinh doanh karaoke
Phương Đôngdo bà Nguyễn Minh Hồng làm chủ như sau:
- Phạt tiền 10.000.000đ đối với hành vi vi phạm không có bản cam kết thực
hiện các điều kiện về an ninh trật tự với cơ quan công an, vi phạm điều 14 khoản 3
3. Những thuận lợi và khó khăn trong xử lý tình huống
3.1. Thuận lợi
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng văn hóa trong quá trình xây dựng và
phát triển đất nước, ban hành những chính sách chiến lược phát triển văn hóa bền
vững gắn với công tác xã hội hóa hoạt động văn hóa, được thể hiện một cách cụ
thể rõ ràng trong những văn bản pháp luật theo trình tự thời gian phù hợp công
cuộc đổi mới đất nước.
Ý thức trách nhiệm của người dân đóng vai trò tích cực và không thể thiếu
trong việc ngăn ngừa, phòng chống tệ nạn xã hội. Do vậy, cần nêu gương điển hình
và kịp thời khen thưởng những tổ chức, cá nhân tích cực tham gia phong trào giữ
gìn trật tự, an ninh khu phố.
3.2. Khó khăn
Các quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực kinh doanh, đặc biệt là kinh
doanh karaoke...chỉ có hình thức xử phạt chế tài, mức xử phạt mang tính răn đe
nên chủ cơ sở kinh doanh tiếp tục vi phạm vì “món hời” lợi nhuận khá cao. Hầu
như việc xử lý vi phạm mới chỉ dừng lại ở mức "hình thức", phạt rồi lại cho phép
hoạt động hoặc chỉ tiến hành theo phong trào kiểu “bắc cóc bỏ dĩa”, “đá ném ao
bèo" đã dẫn đến tình trạng coi thường pháp luật.
Rõ ràng là với những điều khoản không thống nhất, không cụ thể như vậy đã
tạo ra những bất cập và kẽ hở của Pháp luật, để cho một số những cán bộ công
chức thừa hành lợi dụng để tham nhũng "làm luật" dẫn đến vô hiệu hóa pháp luật.
Từ đó, đặt ra cho các nhà quản lý vấn đề về phẩm chất tư cách đạo đức nói chung,
đạo đức nghề nghiệp nói riêng của đội ngũ những người làm công tác quản lý kiểm
tra.
VI. KIẾN NGHỊ
Nhằm lập lại kỷ cương, trật tự, văn hoá, dịch vụ văn hoá bài trừ một số tệ
nạn xã hội trong lĩnh vực kinh doanh Karaoke trên địa bàn tôi xin kiến nghị với các
cơ quan Đảng, Nhà nước và các cơ quan quản lý cấp trên như sau:
thiện phù hợp với tình hình mới. Trong các điều khoản về vi phạm hành chính cần
tính đến các mức phạt đủ sức răn đe, trành việc tái vi phạm của các cơ sở dịch vụ
văn hoá. Tổ chức và sắp xếp lại bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước, có cơ chế,
chính sách thu hút những cán bộ có tài, có tâm, có tầm. Kiện toàn đội ngũ cán bộ
thanh tra, kiểm tra giám sát của ngành từ Thành phố đến cơ sở, đảm bảo đủ về số
lượng cho hoạt động đạt hiệu quả. Tăng cường bồi dưỡng kiến thức quản lý, kiến
thức chuyên môn, khoa học công nghệ thông tin. Tăng đầu tư ngân sách và kinh
phí hoạt động, tạo điều kiện trang thiết bị đáp ứng công tác quản lý kiểm tra đạt
hiệu quả.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra phối hợp chặt chẽ với các ngành có
liên quan như: Công an, Đội quản lý thị trường Quản lý đô thị... kiểm tra, truy quét
tệ nạn xã hội đối với các cơ sơ kinh doanh có những biểu hiện vi phạm, có đơn thư
phản ánh của quần chúng nhân dân; có biện pháp xử lý nghiêm khắc với cơ sở tái
phạm nhiều lần. Việc thanh tra, kiểm tra giám sát phải được tiến hành thường
xuyên, không mang tính hình thức tạo tâm lý coi thường pháp luật của chủ doanh
nghiệp.
Tuy nhiên tất cả các biện pháp trên có thể coi là những giải pháp tình thế,
chúng ta không thể chú trọng mặt "chống" mà cần quan tâm hơn nữa mặt xây, vì
đây là cách làm hiệu quả, là giải pháp cơ bản bền vững nhất. Xây dựng được môi
trường văn hoá lành mạnh là chúng ta đã thực hiện "chống" lại những hiện tượng
phi văn hoá đang diễn biến phức tạp trong xã hội.
Vì môi trường văn hoá lành mạnh, vì lợi ích cộng đồng, mỗi cá nhân, mỗi
doanh nghiệp chúng ta cần tôn trọng kỷ cương phép nước, hãy “sống và làm việc
theo pháp luật" nhằm hướng tới một xã hội tốt đẹp, văn minh, thanh lịch, hiện đại
hơn.
MỤC LỤC
IV. Phân tích lựa chọn phương án giải quyết
16-17
V. Tổ chức thực hiện phương án đã lựa chọn
17-19
VI. Kiến nghị
19-20
Kết luận
21-22
3