`
`
TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG
LỚP BỒI DƯỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN K.3A-2015
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC SẢN XUẤT MIẾN
DONG GIẢ NHÃN MÁC HÀNG HÓA TẠI XÃ TH & ĐQ,
HUYỆN QUỐC OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI .
Họ tên học viên : Trần Thị Thanh Hòa
Chức vụ : Chuyên viên
Đơn vị : Đội quản lý thị trường số 22
(huyện Quốc Oai)
Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội
Sở Công Thương TP Hà Nội
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
Lớp chuyên viên K3A.2015 Trường ĐTCB Lê Hồng Phong
PHẦN I. LỜI NÓI ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập mở cửa hiện nay, hàng hóa các nước trên thế giới
tràn ngập vào thị trường Việt Nam. Tuy nhiên nạn buôn lậu, gian lận thương
mại và hàng giả đang phá hoại nền sản xuất trong nước , ảnh hưởng đến đời
sống nhân dân. Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính Phủ đã thành
lập Ban Chỉ đạo 389 (BCĐ 389) quốc gia và Văn phòng thường trực của Ban
Chỉ đạo 389 quốc gia có ý nghĩa quan trọng trong việc tham mưu, theo dõi,
Oai và là cơ quan thường trực Ban chỉ đạo 389/huyện Quốc Oai;
Bản thân em là một chuyên viên công tác tại Đội Quản lý thị trường số 22
địa bàn huyện Quốc Oai thuộc Chi Cục Quản lý thị trường Hà Nội trực thuộc
Sở Công Thương TP Hà Nội, Đội là cơ quan thường trực BCĐ 389/ huyện,
Đội đã thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ, kế hoạch được giao. Qua khóa
học Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên tại lớp
Chuyên viên K3A.2015 trường Đào tạo Cán bộ Lê Hồng Phong Thành phố
Hà Nội, được tiếp thu và trang bị những kiến thức về quản lý nhà nước. Em
xin chọn đề tài: “ Giải quyết vụ việc sản xuất miến dong giả nhãn mác
hàng hóa tại xã TH & ĐQ, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội” làm đề tài tiểu
luận cuối khóa học. Đây là cơ hội tốt để bản thân em vận dụng những kiến
thức đã học, liên hệ với thực tiễn, trên cơ sở đó tìm tòi, suy nghĩ đưa ra các
giải pháp thiết thực phù hợp giúp quá trình công tác của bản thân ngày càng
tốt hơn.
2. Mục tiêu của đề tài:
- Giúp cho bản thân rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống;
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biết pháp luật về công tác kiểm tra, kiểm
soát, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả và bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trên thị trường huyện Quốc Oai;
- Tuyên truyền, phổ biến để người dân biết BCĐ 389 và cơ quan thường
trực BCĐ 389/ huyện Quốc Oai - người dân biết, phát hiện các hành vi vi
phạm về các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và sản xuất, buôn bán
Học viên thực hiện: Trần Thị Thanh Hòa
pg. 2
Lớp chuyên viên K3A.2015 Trường ĐTCB Lê Hồng Phong
trang 11
2.5. Lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án đã chọn …………...
Trang 16
Phần 3. Kết luận và kiến nghị ……………………………………
Trang 19
Học viên thực hiện: Trần Thị Thanh Hòa
pg. 3
Lớp chuyên viên K3A.2015 Trường ĐTCB Lê Hồng Phong
PHẦN 2. NỘI DUNG
2.1. Mô tả tình huống.
Thực hiện theo Quyết định số 2667/QĐ – UBND ngày 29/8/2014 của
UBND huyện Quốc Oai về việc thành lập đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra,
kiểm soát, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả năm 2015; Kiểm
tra theo kế hoạch số 292/KH-BCĐ389 ngày 26/8/2014 và kế hoạch số
308/KH-ĐKT ngày 9/9/2014 của Đoàn kiểm tra liên ngành huyện Quốc Oai.
Căn cứ vào đơn tố cáo của Ông NTĐ chủ cơ sở sản xuất miến dong Đức
Tuyết tại thôn YM, xã TH, huyện Quốc Oai, TP Hà Nội.
Ngày 1/12/2014 Đoàn Kiểm tra liên ngành Quản lý thị trường – Công an
huyện Quốc Oai tiến hành kiểm tra tại cơ sở đóng gói miến dong do bà VTL
sinh năm 1976 làm chủ tại xóm 3 thôn YN xã ĐQ huyện Quốc Oai- TP Hà
Nội.
Bà VTL sinh năm 1976 tại Xóm 3 thôn YN xã ĐQ huyện Quốc Oai – TP
Hà Nội có tường trình sự việc với Đoàn kiểm tra liên ngành như sau: Ngày
20-11-2014 Chị NTC vợ anh NQL (chủ nhãn mác Trường Giang địa chỉ Thôn
Đầm xã TH huyện Quốc Oai –Hà Nội) có trở miến đến và nhờ đóng gói miến
mang nhãn hiệu Trường Giang. Khoảng 3-4 ngày sau có anh lái xe tên Túy
đến bốc hàng nhãn mác Trường Giang ( khoảng 100 bao – 15kg/ bao) và để
lại ở sân nhà tôi một bao nhãn mác Đức Tuyết, anh Túy có gọi điện cho chị
NTC lúc đó, bà VTL có nghe thấy hai người trao đổi là để nhãn mác ở đó.
Hôm sau, Chị NTC lên tính tiền công thuê đóng gói (1.600 đ/ kg), trước khi
về chị NTC có nói mọi người lấy nhãn mác cơ sở Đức Tuyết mang vào đóng.
Từ đó, tôi và mọi người đóng gói cả 2 nhãn mác miến Trường Giang và Đức
Tuyết thì đến ngày 1/12/2014 Đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra nhà tôi.
Tuy nhiên, khi vụ việc xảy ra cả ông NQL và vợ là bà NTC (chủ cơ sở
sản xuất miến dong Trường Giang) đều cam kết với Đoàn kiểm tra liên ngành
là: Do cơ sở Trường Giang chật hẹp, nên không thể đóng gói miến được nên
đã thuê bà VTL đóng gói với giá 1.600 đ/ kg, toàn bộ miến là do cơ sở tự sản
xuất, nhãn mác thuê đóng gói là nhãn mác cơ sở Trường Giang và không biết
nhãn mác Đức Tuyết là từ đâu ra và không biết gì về việc đóng gói nhãn mác
Đức Tuyết của bà VTL.
Học viên thực hiện: Trần Thị Thanh Hòa
pg. 5
Lớp chuyên viên K3A.2015 Trường ĐTCB Lê Hồng Phong
Như vậy, việc bà VTL đóng gói miến dong nhãn hiệu Đức Tuyết khi
không được sự đồng ý của chủ cơ sở Đức Tuyết là ông NTĐ là vi phạm pháp
luật hiện hành.
Thứ hai, cơ sở sản xuất miến dong Đức Tuyết tại thôn YM xã TH huyện
Trường Giang có thuê nhà bà VTL ở Thôn YN, xã ĐQ huyện Quốc Oai đóng
gói miến dong nhãn mác mang tên Đức Tuyết có ảnh và số điện thoại của tôi.
Tôi đã kịp thời trình báo với Đội Quản lý thị trường số 22 huyện Quốc Oai,
TP Hà Nội, ngay lúc đó Đội Quản lý thị trường số 22 đã có mặt kịp thời tại
nhà bà VTL và lập biên bản tạm giữ toàn bộ số hàng hóa, nhãn mác và máy
đóng gói (như nêu trên).
Ngày 5/12/2014 Ông NTĐ có Đơn đề nghị gửi Đội Quản lý thị trường số
22 với nội dung: …Chủ cơ sở sản xuất miến dong Trường Giang đã vi phạm
sản xuất đóng gói hàng hóa giả nhãn hiệu, hình ảnh, điện thoại, mã vạch nhãn
mác bao bì hàng hóa miến dong của cơ sở tôi. Để đảm bảo tình cảm và đoàn
kết xóm làng, góp phần bảo vệ an ninh chính trị địa phương, gia đình Tôi đã
thống nhất với gia đình ông NQL, bà NTC xin giải quyết nội bộ giữa hai gia
đình. Và xin được rút đơn trình báo ngày 1/12/2014 để hai gia đình có cơ hội
đoàn kết lại và giảm nhẹ hình thức xử lý cho cơ sở sản xuất miến dong
Trường Giang và có đề nghị với cơ quan chức năng: Về phần nhãn mác giả
nhãn mác Đức Tuyết nên tiêu hủy số nhãn giả đó; Về phần ông NQL, bà NTC
(chủ cơ sở Trường Giang) mong cơ quan chức năng xem xét giảm nhẹ và tôi
không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự; Về phần bà VTL, mong cơ quan
chức năng xử lý để bà không tái phạm việc trên.
Thứ ba, cơ sở sản xuất miến dong Trường Giang tại thôn Đầm xã TH
huyện Quốc Oai – TP Hà Nội do ông NQL làm chủ hộ kinh doanh (vợ là bà
NTC) có các giấy tờ thủ tục hành chính sau:
- Giấy Chứng nhận đăng kí hộ kinh doanh số 10V8001048 do UBND
huyện Quốc Oai cấp ngày 29/7/2014;
- Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm 2014/GCN
ATTPSX-SCT do sở Công Thương Hà Nội cấp ngày 19/11/2014;
Học viên thực hiện: Trần Thị Thanh Hòa
pg. 7
Học viên thực hiện: Trần Thị Thanh Hòa
pg. 8
Lớp chuyên viên K3A.2015 Trường ĐTCB Lê Hồng Phong
- Một số nguyên nhân chính dẫn tới vụ việc:
+ Do thiếu xót trong tổ chức và hoạt động trong quản lý nhà nước ở các
cấp: Hiện vẫn còn sự chồng chéo về chức năng nhiệm vụ của các cơ quan Y
tế, Công thương, Nông nghiệp trong việc cấp thẩm định Giấy chứng nhận, mở
lớp tập huấn… trong vấn đề an toàn thực phẩm, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất
kinh doanh bột và sản phẩm từ bột (cụ thể: miến dong tại làng nghề truyền
thống – làng So huyện Quốc Oai);
+ Sự bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến
vụ việc: như Quy trình thủ tục cấp đăng kí bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của cơ
sở Đức Tuyết đã được nhận hồ sơ từ ngày 8/11/2013 đến nay ( tháng
12/2014) vẫn chưa có sự phản hồi của Cục sở hữu trí tuệ; Việc áp dụng quy
trình kiểm soát sản phẩm khi Xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn
thực phẩm của Chi cục vệ sinh an toàn thực phẩm TP Hà Nội chưa sâu xát,
dẫn đến cơ sở Trường Giang vẫn chưa làm xong thủ tục này; Sự chống chéo
trong chức năng của các cơ quan Y tế, Quản lý thị trường nên không xử lý dứt
điểm được việc cơ sở Trường Giang chưa Công bố phù hợp quy định an toàn
thực phẩm với cơ quan có thẩm quyền xác nhận mà đã đưa sản phẩm ra thị
trường tiêu thụ, ảnh hưởng đến sức khỏe, quyền lợi của người tiêu dùng;
+ Sự kém hiểu biết pháp luật của một bộ phận nhân dân, những người
liên đới đến vụ việc xảy ra, cụ thể: bà VTL và chị NTC. Do trình độ văn hoá
thấp, thiếu hiểu biết pháp luật nên cả hai người nghĩ việc đóng gói miến dong
với nhãn mác của cơ sở Đức Tuyết này là đơn giản.
Sự khai báo không thành thật của cả hai người đã làm vấn đề thêm phức
của nhân dân, và mãi đến ngày 14/5/2015 Bộ Công thương ban hành Thông
tư 13/2015/TT-BCT nêu trách nhiệm cụ thể về thủ tục cấp chứng nhận cơ sở
đủ điều kiện An toàn tực phẩm và tổ chức tập huấn kiến thức an toàn thực
phẩm của mặt hàng bột dong và sản phẩm từ bột dong do Sở Công thương các
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức và chứng nhận.
+ Ảnh hưởng xấu về mặt xã hội:
Học viên thực hiện: Trần Thị Thanh Hòa
pg. 10
Lớp chuyên viên K3A.2015 Trường ĐTCB Lê Hồng Phong
- Là vùng thuần nông, vụ việc xảy ra đã gây ra sự mâu thuẫn không nhỏ
trong quan hệ “ tình làng nghĩa xóm”;
- Ảnh hưởng đến uy tín thương hiệu miến làng So huyện Quốc Oai;
2.4. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết.
2.4.1. Phương án 1
- Nội dung phương án 1:
Việc bà VTL đóng gói miến dong nhãn hiệu Đức Tuyết khi không được
sự đồng ý của chủ cơ sở Đức Tuyết là ông NTĐ là vi phạm pháp luật hiện
hành, cụ thể: Với hành vi vi phạm: Sản xuất hàng giả mạo nhãn hàng hoá.
Vi phạm: điểm e khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 14 Nghị định số
185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng
cấm và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
- Những lợi thế/ thuận lợi của phương án 1:
Bà VTL nhận lỗi và kí vào Biên bản vi phạm hành chính lập ngày
4/12/2014 của Đoàn kiểm tra liên ngành huyện Quốc Oai lập tại trụ sở UBND
lập tại trụ sở UBND xã ĐQ nhưng cơ sở Đức Tuyết vẫn kiến nghị lại với cơ
quan điều tra về hành vi cung cấp nhãn mác của cơ sở Đức Tuyết của chị
NTC cho bà VTL đóng gói thì vụ việc lúc này chủ thể vi phạm sẽ cấu thành
vi phạm pháp luật có tổ chức và người chủ mưu sẽ là chị NTC (vợ ông NQL –
Chủ cơ sở sản xuất miến dong Trường Giang) như thế sẽ đủ yếu tố cầu thành
tội phạm hình sự theo Điều 156 Bộ Luật Hình Sự.
+ Chủ thể/ đối tượng vi phạm: Có tổ chức, cả hai người là bà VTL và bà
NTC.
+ Hành vi vi phạm: Sản xuất hàng giả (nhãn hàng hoá).
Vi phạm: Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 156 Bộ luật hình sự của nước
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số 15/1999/QH12.
- Những lợi thế/ thuận lợi của phương án 2:
Học viên thực hiện: Trần Thị Thanh Hòa
pg. 12
Lớp chuyên viên K3A.2015 Trường ĐTCB Lê Hồng Phong
Nguồn thu cho ngân sách nhà nước sẽ tăng - mức xử phạt sẽ cao hơn.
Sẽ phải chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai, khởi
tố vụ án, khởi tố bị can là Bà VTL và chị NTC, phạm tội có tổ chức : sản
xuất hàng giả . Việc răn đe các hành vi phạm tội tương tự có hiệu quả và dư
luận lớn trong xã hội, nhất là vùng thuần nông, làng nghề - miến làng So tại
huyện Quốc Oai.
- Những hạn chế/ bất cập của phương án 2:
Do sự hiểu biết của hai đương sự là lạc hậu- kém hiểu biết pháp luật, nghĩ
vụ việc đơn giản; Gây khó khăn cho cơ quan điều tra và thi hành pháp luật
(vụ việc xảy ra ở thôn quê, trình độ hiểu biết và và điều kiện kinh tế còn khó
khăn, đương sự nghĩ vụ việc đơn giản, con người sống thiên về tình cảm…),
với bà NTC về hành vi sản xuất hàng giả nhãn mác, bao bì hàng hóa theo quy
định.
Căn cứ theo Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính
phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản
xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Kết luận:
+ Chủ thể vi phạm: Bà NTC
+ Hành vi vi phạm: Sản xuất hàng giả mạo nhãn hàng hoá
+ Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền: 70.000.000 đ
Áp dụng: Điểm e khoản 1, Điểm a khoản 2 Điều 14 Nghị định số
185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính Phủ.
- Những hạn chế/ bất cập của phương án 3:
Sâu chuỗi vụ việc thì Đội Quản lý thị trường số 22 vẫn có thể lập biên
bản vi phạm hành chính về hành vi cơ sở sản xuất miến dong Trường Giang
chưa làm thủ tục Công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm với cơ quan
nhà nước có thẩm quyền theo quy định. Tuy nhiên ngay từ khi ra quyết định
và nội dung kiểm tra của Đoàn kiểm tra liên ngành đã không đề cấp đến vấn
đề này, mặt khác với mức phạt tiền nêu trên với cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, tại làng
Học viên thực hiện: Trần Thị Thanh Hòa
pg. 14
Lớp chuyên viên K3A.2015 Trường ĐTCB Lê Hồng Phong
nghề và vùng thuần nông như Quốc Oai là mức phạt đủ để răn đe hành vi vi
phạm của công dân trên địa bàn.
Kết luận: Trong ba phương án đã nêu, Tôi chọn giải pháp của phương án
3 vì:
Nếu chọn phương án 1 thì: Chỉ giải quyết được mục tiêu thứ 1(Giải quyết
Lớp chuyên viên K3A.2015 Trường ĐTCB Lê Hồng Phong
2.5. Lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án đã chọn.
Vụ việc trên vượt quá thẩm quyền xử lý của Đội trưởng Đội QLTT số 22, theo Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13
ngày 20/6/2012, kế hoạch tổ chức thực hiện phương án 3 như sau:
STT
Nội dung
Chủ thể
Thời gian thực
thực hiện
hiện
03 ngày từ
Chuyển hồ sơ vụ
1 việc lên Chi cục
QLTT Hà Nội
Đội QLTT
số 22
ngày 15/1/201517/1/2015 (sau khi
lập biên bản vi
phạm hành chính)
* Đơn vị tiếp nhận: Phó chủ
phạm hành chính
tịch UBND huyện Quốc Oai
( chủ tịch BCĐ 389 huyện)
pg. 16
Lớp chuyên viên K3A.2015 Trường ĐTCB Lê Hồng Phong
hành chính
& Chi cục QLTT Hà Nội.
* Nội dung thực hiện: Trình Quyết định Xử
* Đơn vị tiếp nhận: Phó chủ
Trình: Quyết
Chi cục
3 định Xử phạt vi
QLTT Hà
ngày 18/1/2015-
bản vi phạm hành
chính)
Học viên thực hiện: Trần Thị Thanh Hòa
* Hình thức xử phạt chính:
- Phạt tiền: 70.000.000 đ
* Thẩm quyền xử phạt:
UBND TP Hà Nội
* Hình thức xử phạt bổ sung: Buộc tiêu huỷ
toàn bộ nhãn mác (3,3 kg nhãn hiệu mang
* Đơn vị giám sát: Đội
tên cơ sở sản xuất miến dong Đức Tuyết, 23
QLTT số 22 – Chi cục QLTT
kg túi nilon sử dụng để bao gói hàng
Hà Nội, Phòng Tài chính Kế
hóa).Tịch thu xung công quỹ nhà nước:1
hoạch huyện Quốc Oai.
máy cũ dập đóng gói.
ngày kể từ khi có
Bà NTC
phạm hành chính
Quyết định Xử
phạt vi phạm hành
Đơn vị giám sát: Đội QLTT
Theo nội dung Quyết định Xử phạt vi phạm
số 22 – Chi cục QLTT Hà
hành chính
Nội, Phòng Tài chính Kế
hoạch huyện Quốc Oai
chính
Học viên thực hiện: Trần Thị Thanh Hòa
pg. 18
Lớp chuyên viên K3A.2015 Trường ĐTCB Lê Hồng Phong
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.Kết luận:
Công tác kiểm tra, kiểm soát chống buôn lậu, gian lận thương mại,hàng
huống này, Tôi xin kiến nghị: Bộ Công thương và Bộ Y tế thống nhất lĩnh
vực quản lý, cụ thể: Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BCT-BYTBNNPTNT cần phải bổ sung cụ thể và chi tiết ngành nghề, lĩnh vực quản lý
(lĩnh vực sản xuất miến dong thuộc lĩnh vực Bộ Công Thương nhưng việc xác
nhận tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm và Công bố Phù hợp quy định An
toàn thực phẩm cần phải được tổ chức định kỳ, thường xuyên tại cấp cơ sở
quy định rõ cơ quan nào thực hiện: Sở Công Thương hay Chi cục an toàn vệ
sinh thực phẩm - Sở Y tế ở cấp tỉnh; hay Phòng Y tế hay Phòng Kinh tế, Đội
Quản lý thị trường ở cấp huyện ).
+ Cục sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét trả lời Đăng kí
nhãn hiệu hàng hoá cần có quy định cụ thể, rõ ràng về trình tự tiếp nhận hồ
sơ, thời gian giải quyết và trả lời cụ thể đối với tổ chức/ cá nhân Đăng kí nhãn
hiệu hàng hoá hoặc trả trực tiếp hoặc trả qua đường bưu điện để tạo thuận lợi
cho người dân, tổ chức thực hiện.
+ Cục vệ sinh an toàn thưc phẩm - Bộ Y tế; Cục quản lý thị trường - Bộ
Công thương cần tham mưu với cấp trên trong việc hướng dẫn chi tiết và cách
khắc phục, biện pháp thực thi, chế tài xử phạt cụ thể trong việc xử lý cơ sở
sản xuất thực phẩm mà chưa Công bố quy định phù hợp An toàn thực phẩm
nhưng có hướng phù hợp với điều kiện từng vùng miền, từng lĩnh vực ngành
nghề sản xuất nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân khi thực hiện.
2.2. Cấp địa phương
+ Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đã có hiệu lực thi hành và ở các cấp
chính quyền (cấp tỉnh, cấp huyện) đã có quyết định thành lập Hội đồng Phối
hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tuy nhiên ở cấp huyện ( huyện Quốc Oai)
vấn đề này chưa được đi vào thực tiễn (việc tổ chức phổ biến pháp luật không
được tổ chức xuống cấp xã) vì vậy đề nghị Sở Tư pháp TP Hà Nội, Phòng Tư
pháp huyện Quốc Oai cần phải giám sát và phải tổ chức thường xuyên, liên
tục theo các chuyên đề kế hoạch, bằng mọi hình thức phổ biến, giáo dục: qua
Học viên thực hiện: Trần Thị Thanh Hòa
pg. 20
3.
Nghị định số: 185/2013/NĐ-CP ngày 15/12/2013 của Chính phủ
quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại,
sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng.
4.
Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BCT-BYT-BNNPTNT
ngày 16/11/2014
5.
Tài liệu Bồi dưỡng ngạch chuyên viên (Quyển I, II) trường Học
Viện Hành Chính Quốc Gia, NXB: Bách Khoa Hà Nội.
Học viên thực hiện: Trần Thị Thanh Hòa
pg. 22