Tiểu luận xử lý tình huống tiếp dân gửi đơn thư yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai - Pdf 34

TRƯỜNG ĐTCB LÊ HỒNG PHONG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LỚP BỒI DƯỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN
K6A - 2015

======  ======

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
“Xử lý tình huống tiếp dân gửi đơn thư yêu cầu
giải quyết tranh chấp đất đai ”

Họ và tên:

Đinh Thị Thùy Dung

Chức vụ:

Chuyên viên

Đơn vị công tác

Văn phòng Thành ủy Hà Nội

Hà Nội, Tháng 11- 2015


Đinh Thị Thùy Dung- Lớp K6A-2015

PHẦN I: LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tác tiếp dân và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo hiện nay là một trong
những vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công cuộc đổi mới của Đảng và

sở mà thực hiện tốt công tác tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại ngay từ bước
đầu sẽ góp phần quan trọng không chỉ hạn chế được phát sinh các vụ việc phức tạp
mà còn ngăn ngừa được tình trạng khiếu nại, tố cóa vượt cấp lên Trung ương, đồng
thời cũng sẽ hạn chế được tình trạng bức xúc khiếu nại đông người, đặc biệt là những
vấn đề có tính nhạy cảm về an ninh chính trị, điểm yếu mà hiện nay kẻ địch đang lợi
dụng nó để âm mưu “ diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ, phá hoại công cuộc đổi mới
của Đảng và nhà nước ta.
Việc tiếp công dân và xử lý đơn khiếu nại, tố cáo là những công việc thường
xuyên, liên tục, là những việc làm đầy khó khăn, phức tạp. Các vụ việc khiếu nại, tố
cáo xảy ra có từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chung quy lại nó đều xuất phát
từ việc lợi ích của nhà nước, của tập thể, của cá nhân bị xâm hại. Nhìn nhận một cách
khách quan tôi cho rằng ngay từ một văn bản chính sách của Nhà nước ban hành ra,
bản thân nó cũng đã có ẩn chứa hai mặt của một vấn đề, khi thực hiện nó mới bộc lộ
ra trên thực tiễn. Một mặt nó thể hiện tính đúng đắn, tích cực, đáp ứng được nguyện
vọng của nhiều người và phù hợp với xu thế phát triển của xã hội, của thời đại. Mặt
khác nó hạn chế, thậm chí nó đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của một số bộ phận nhân
dân, bên cạnh đó không ít những địa phương, cơ quan nhà nước, những người có
thẩm quyền trong việc thi hành chính sách, pháp luật lợi dụng để trục lợi cho bản
thân, tham nhũng, tiêu cực và gâu nhũng nhiễu nhân dân. Bởi vậy viêc công dân đi
khiếu kiện đến các cơ quan nhà nước là một tất yếu khách quan. Trong bài tiểu luận
này tôi tập trung nghiên cứu vào một số vấn đề cơ bản trong công tác tiếp dân và xử
lý đơn thư khiếu nại, tố cáo nhằm củng cố những kiến thức đã học, mong muốn
những đáp ứng tốt hơn về trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ trong công tác
2


Đinh Thị Thùy Dung- Lớp K6A-2015

tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo mà tôi đang công tác.Tôi chọn: “Xử lý tình
huống tiếp dân gửi đơn thư yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai tại bộ phận một

nước và xã hội của công dân, là sự cụ thể hoá phương châm "dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra".
Việc tiếp công dân sẽ giúp cho công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ
quan, tổ chức, đơn vị được tiến hành một cách hiệu quả. Bởi vì, tiếp công dân là điểm
khởi đầu, là một trong những khâu quan trọng của công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo. Điều này là nhằm thực hiện tốt quyền khiếu nại, tố cáo của công dân đã được
Hiến pháp ghi nhận, thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa công tác tiếp công dân và
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Tiếp công dân cũng là để hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo
đúng chính sách pháp luật, đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết, khắc phục những
hạn chế bất cập trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân. Qua đó
nhằm tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật nói chung, pháp luật khiếu
nại, tố cáo của công dân nói riêng đối với quần chúng nhân dân.
2. Mục tiêu đề tài

- Mô tả được tình huống
- Phân tích được tình huống
- Đưa ra các phương án giải quyết tình huống, chọn phương án tối ưu nhất.
- Xây dựng kế hoạch thực hiện phương án tối ưu.
3. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp quan sát;
- Phương pháp đánh giá
- Phương pháp thống kê;
4


Đinh Thị Thùy Dung- Lớp K6A-2015

- Phương pháp so sánh;

giải thích Chủ tịch và thường trực UBND đi tiếp xúc cử tri ở huyện. Ông An cố tình
không nghe giải thích quát to, cáu gắt cho rằng Chủ tịch trốn tránh giải quyết và cán
bộ tiếp nhận lảng tránh trách nhiệm. Lúc này, ông Nam có to tiếng và gọi bảo vệ yêu
cầu ông An ra ngoài nhường vị trí để tiếp tục làm việc với công dân khác, khi nào ông
An mang đầy đủ giấy tờ đến thì tiếp tục giải quyết theo quy định.
Trước khi ra về ông An có nói sẽ khiếu nại hành vi từ chối đơn của cán bộ tiếp
dân. Tuy nhiên sau đó không thấy ông mang đơn khiếu nại hành vi từ chối đơn của
ông Nam.
Hai ngày sau, ngày 28 tháng 3, ông An có mang đơn đến bộ phận một cửa tiếp
dân, lúc này ông đã mang đầy đủ các giấy tờ có liên quan và đã được cán bộ tiếp dân
tiếp nhận đơn thư sau khi đã kiểm tra. Đơn thư của ông An có nội dung như sau : Gia
đình ông có sở hữu 1 ao theo bìa đỏ số B953064 diện tích 550 m2 liền kề đất thổ cư
nhà bà Mai. Từ năm 1983 gia đình ông có thỏa thuận với ông Nguyễn Văn Hải (bố đẻ
6


Đinh Thị Thùy Dung- Lớp K6A-2015

bà Mai) cùng đi chung con đường từ trục chính đường làng dẫn vào cổng nhà bà Mai
và sang ao của nhà ông. Đến tháng 12 năm 2013 ông Hải mất thừa kế mảnh đất lại
cho bà Mai, nhưng bà Mai không sinh sống tại mảnh đất này, tháng 3 năm 2014 bà
Mai cho xây cổng ở phía con đường giáp với đường làng và khóa lại không cho gia
đình nhà ông có đường đi sang ao nhà mình.
Sau khi nhận được đơn của ông An, chính quyền xã đã cử cán bộ xuống xác
minh hiện trường và xác nhận sự việc nêu trong đơn của ông An là đúng so với thực
tế.
Tiếp đó chính quyền mời hai gia đình lên trụ sở UBND xã làm việc, tổ giải
quyết đơn thư thụ lý, cán bộ văn phòng tham mưu cho chủ tịch phân công cán bộ
chuyên trách xử lý. Chủ tịch ủy ban nhân dân xã giao cán bộ địa chính tiến hành đối
chiếu bản đồ địa chính xã với hai sổ đỏ của hai gia đình và hiện trường thì thấy: Hộ

bà Mai là ông Hải có tự san lấp kiến tạo mở 1 con đường trên phần đất công đó, con
đường này mở thẳng vào cổng của gia đình nhà bà từ trục đường chính của làng thuận
tiện cho việc đi lại của gia đình hơn. Khi đó nhà ông An vẫn đi trên con đường làng
trước đó để sang ao nhà mình. Đến năm 1983 khi con đường mới mở được hình thành
và thuận tiện cho việc đi lại hơn so với con đường cũ thì ông An thỏa thuận với ông
Hưng cùng đi chung con đường này, con đường cũ bị bỏ hoang không đi lại nữa.
Đến năm 1985 UBND xã cắt đất cho gia đình ông Hải bao gồm cả con đường
cũ mà hai gia đình đã đi trước đây (bị bỏ hoang từ năm 1983). Hai gia đình ông An,
bà Mai vẫn đi chung con đường mới không xảy ra mâu thuẫn gì từ khi có thỏa thuận
đi chung (năm 1983). Năm 2010 thực hiện chương trình Nông thôn mới thì gia đình
bà Mai có đơn xin đổ bê tông con đường này (hiện trạng dài 20m rộng 3m dày 5cm).
Đến năm 2013 bố bà Mai là ông Hải mất không nói lại cụ thể thỏa thuận giữa hai gia
đình đi chung con đường như thế nào (Thời điểm bố bà Mai mở đưởng mới thì bà
Mai đã đi lấy chồng ở địa phương khác), bà chỉ biết gia đình nhà bà có công san lấp
kiến tạo con đường khang trang như bây giờ mà không có sự hỗ trợ của gia đình nhà
8


Đinh Thị Thùy Dung- Lớp K6A-2015

ông An, và bản thân bà cũng không sinh sống trên mảnh đất được thừa kế này nên bà
xây dựng cổng để bảo vệ phần tài sản của mình khi mình không ở đây.
Vấn đề đặt ra là giải quyết sự khác nhau vị trí con đường so với trên bản đồ và
thực địa, và giải quyết sự tranh chấp đường đi chung giữa hai gia đình ông An và bà
Mai.
2. Xác định mục tiêu giải quyết tình huống
Phân tích việc từ chối đơn thư của bộ phận tiếp dân là đúng hay sai ?
Ban hành quyết định giải quyết khiếu kiện của ông Nguyễn Văn An đảm bảo
theo quy định của pháp luật, không trái với Hiến pháp; Văn bản quy phạm pháp luật;
các văn bản cấp trên.

hình thành từ năm 1982, để đến khi xảy ra khiếu kiện tranh chấp thì xã mới biết là
đường được vẽ trên bản đồ để hai gia đình sử dụng đi lại thì đã đi giao vào phần đất
cho hộ gia đình khác, còn con đường đang tranh chấp thì lại là đường mở trái phép
trên đất công.
Gia đình bà Mai (cụ thể là bố bà Mai là ông Hải) đã tự ý mở đường trên đất
công của xã mà không xin phép và không có sự đồng ý của chính quyền xã. Sau đó dù
đã có công san lấp xây dựng đường và có thỏa thuận của hai nhà đi chung nhưng đến
năm 2013 ông Hải mất thì người con thừa kế mảnh đất của ông là bà Mai đã xây dựng
cổng và khóa lại không cho nhà ông An đi chung đường để xuống ao nhà ông An
cũng là trái pháp luật vì con đường này không nằm trong diện tích đất thuộc quyền sở
hữu được thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà bà
3.1 Nguyên nhân khách quan
Do công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước đối với nhân nhân của cán bộ cơ sở còn hạn chế.

10


Đinh Thị Thùy Dung- Lớp K6A-2015

Năng lực, nhận thức của một bộ phận không nhỏ cán bộ xã, thôn còn yếu kém
dẫn tới cách làm chủ quan, thiếu kinh nghiệm và năng lực chuyên môn nên khó khăn
trong cách làm và tiến độ công việc.
Thiết sót trong tổ chức, hoạt động quản lý nhà nước ở các cấp có thẩm quyền
Sự thiếu trách nhiệm sa sút phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ công
chức liên quan đến vụ việc
3.2 Nguyên nhân chủ quan
Chất lượng cán bộ làm công tác tiếp công dân ở một số nơi chưa đáp ứng yêu
cầu; một số còn yếu kém về năng lực, trình độ chuyên môn, thiếu tinh thần trách
nhiệm, thậm chí có nơi bố trí cán bộ không làm được việc về làm công tác tiếp công

nại, tố cáo của mình và ký xác nhận những nội dung đã trình bày;
3- Được hướng dẫn, giải thích về việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo;
4- Cử đại diện để trình bày với người tiếp công dân trong trường hợp có nhiều
người khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung;
5- Được khiếu nại, tố cáo về những hành vi sai trái, cản trở, gây phiền hà, sách
nhiễu của người tiếp công dân.”
Như vậy, ông An phải xuất trình giấy tờ tùy thân khi gặp cán bộ tiếp dân và
làm theo hướng dẫn của họ. Việc ông An không có giấy tờ tùy thân nên ông Nam
không nhận đơn là có cơ sở pháp luật. Tuy nhiên ông Nam cũng bị khiển trách về
hành vi và rút kinh nghiệm trong tiếp dân lần sau.
Về giải quyết đơn thư của ông An, sau khi thụ lý đơn của ông, cán bộ Văn
phòng trình lên chủ tịch xã, tham mưu cho chủ tịch sau đó chuyển cho cán bộ địa
chính đã tiến hành xác minh và hoàn thiện hồ sơ, thủ tục giải quyết.
12


Đinh Thị Thùy Dung- Lớp K6A-2015

Phương án 1:
Điều 273 Bộ luật Dân sự 2005: “Chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất có quyền
sử dụng bất động sản liền kề thuộc sở hữu của người khác để bảo đảm các nhu cầu
của mình về lối đi, cấp thoát nước, cấp khí gas, đường dây tải điện, thông tin liên lạc
và các nhu cầu cần thiết khác một cách hợp lý nhưng phải đền bù nếu không có thỏa
thuận khác”.
Đồng thời, Khoản 1 Điều 275 Bộ luật Dân sự 2005 về quyền về lối đi qua bất
động sản liền kề quy định: “Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi bất động sản của
các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra, có quyền yêu cầu một trong những chủ sở
hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công cộng một cách
thuận tiện và hợp lý nhất…”. Căn cứ vào tình hình thực tế thì hiện nay hai hộ gia đình
ông An và bà Mai chỉ còn con đường đang xảy ra tranh chấp là con đường duy nhất

đình mình, trả lại đường đi chung, đồng thời gia đình ông An phải hỗ trợ gia đình bà
Mai chuyển cổng về đúng ranh giới đất nhà mình vì trong quá trình kiến thiết xây
dựng con đường gia đình ông An đã không có hỗ trợ nhưng lại có quyền lợi trực tiếp
từ con đường này (đây cũng chính là 1 trong những lý do bà Mai xây cổng khóa lại
không cho gia đình ông An đi chung).
Ưu điểm:
- Không gây xáo trộn lớn về tình hình khiếu kiện và hiện trạng con đường
- Giải quyết dứt điểm tranh chấp
- Vụ việc được giải quyết hợp tình hợp lý, phù hợp với tình hình thực tế, tiết
kiệm ngân sách nhà nước vì không phải đầu tư xây dựng con đường mới, đảm
bảo hài hòa lợi ích của cả cá nhân và nhà nước.
Nhược điểm:
- Đã phải thừa nhận con đường được xây dựng trái phép trên đất công của Nhà
nước
14


Đinh Thị Thùy Dung- Lớp K6A-2015

- Không thực hiện được triệt để pháp luật về đất đai, không xử lý được vi phạm
hành chính (mở đường trái phép trên đất công).
Phương án 3 :
Gia đình bà Mai chuyển cổng về đúng ranh giới đất trong sổ đỏ của gia đình
mình, trả lại đường đi chung, đồng thời gia đình ông An phải hỗ trợ gia đình bà Mai
chuyển cổng về đúng ranh giới đất nhà mình. Đồng thời yêu cầu gia đình bà Mai phải
phá bỏ cổng chặn lối đi chung, nếu gia đình bà Mai không chấp hành thì kiến nghị
UBND cấp trên ra quyết định cưỡng chế dỡ bỏ cổng xây dựng chặn đường đi chung
của gia đình bà Mai. Vì dù gia đình bà Mai có công san lấp xây dựng kiến tạo con
đường nhưng con đường này là đường được xây dựng trên đất công không nằm trong
sổ đỏ của gia đình bà.

Có văn bản chuyển lên cấp trên có thẩm quyền, điều chỉnh lại bản đồ địa chính
cũng như diện tích quỹ đất công tại khu vực này
Giám sát hai gia đình thực hiện công tác hòa giải như đã cam kết: di dời cổng,
trả lại lối đi chung
Cán bộ địa chính điều chỉnh lại bản đồ địa chính .
5.2 Các bước giải quyết trong từng thời gian
Bước 1: Tổ chức họp hòa giải giữa hai gia đình, thống nhất đổi đường xác nhận
con đường là lối đi chung
Bước 2: Thực hiện di dời cổng của gia đình bà Mai về đúng phần đất trên sổ đỏ
Bước 3: Gia đình ông An hỗ trợ gia đình bà xây dựng cổng
Bước 4: Kiểm tra việc di dời cổng đã thực hiện ở các bước trên
Bước 5: Thực hiện bàn giao lối đi chung có sự chứng kiến của đại diện chính
quyền xã, Mặt trận tổ quốc, các tổ chức đoàn thể, khu dân cư và hai gia đình

16


Đinh Thị Thùy Dung- Lớp K6A-2015

Bước 6: Hai gia đình kí kết văn bản cam đoan không tranh chấp kiện tục sau
này
Bước 7: Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định và điều chỉnh bản đồ địa giới,
cắm mốc ranh giới con đường
5.3 Dự kiến phân công thực hiện kế hoạch
- UBND xã: Đại diện UBND, cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp, Trưởng thôn và
công an viên khu vực xảy ra tranh chấp
- Đại diện mặt trận tổ quốc và các tổ chức đoàn thể
5.4 Dự kiến kinh phí, tài chính, cơ sở vật chất thực hiện kế hoạch
Thực hiên di dời và xây dựng lại cổng cho gia đình bà Mai trên đúng phần đất
thuộc sổ đỏ với kinh phí hỗ trợ của gia đình ông An theo biên bản hòa giải

hỏi sự nỗ lực của các cấp, các ngành và đặc biệt là sự chỉ đạo kịp thời, thường xuyên
của cấp Ủy Đảng, có như vậy công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại tố cáo mới đạt
hiệu quả trong thời gian tới.
2. Kiến nghị
Cần tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật khiếu nại, tố cáo; Luật sửa đổi bổ sung
một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo và Nghị định số 53/2005/NĐ- CP ngày
19/4/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật khiếu nại, tố
cáo và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo đến các tầng lớp
nhân dân.
Cơ quan quản lý nhà nước cần sắp xếp các công chức có năng lực, trình độ đại
học, có phẩm chất đạo đức, am hiểu pháp luật và kiến thức xã hội; đồng thời đã quan
tâm thực hiện chế độ chính sách cho cán bộ làm nhiệm vụ tiếp công dân theo quy định
18


Đinh Thị Thùy Dung- Lớp K6A-2015

tại Thông tư liên tịch số 46/2012/TTLT-BTC-TTCP của Thanh tra Chính phủ và Bộ
Tài chính ngày 16/3/2012 quy định chế độ bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức làm
công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
Cán bộ phụ trách công tiếp công dân thường làm cán bộ kiêm nhiệm, công tác
tiếp công dân tại nhiều xã, phường, thị trấn chưa được tập huấn về chuyên môn,
nghiệp vụ nên việc xử lý tình huống trong công tác tiếp công dân và giải quyết đơn
thư khiếu nại, tố cáo còn hạn chế. Cần phải được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ
năng trong công tác tiếp dân.
Sổ sách theo dõi việc tiếp công dân ở một số nơi chưa được cập nhật, ghi chép
đầy đủ các thông tin công dân đến trình bày, phản ánh tại nơi tiếp công dân của cơ
quan, đơn vị.

19

3.3 Phân tích hậu quả .......................................................................................... 11
4. Xây dựng phân tích, lựa chọn phương án giải quyết tình huống ......................... 12
Phương án 1 ........................................................................................................ 13
Phương án 2 ........................................................................................................ 14
Phương án 3 : ...................................................................................................... 15
5. Lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án đã lựa chọn ..................................... 16
5.1

Nội dung công việc cần giải quyết ................................................................ 16

5.2

Các bước giải quyết trong từng thời gian ...................................................... 16

5.3

Dự kiến phân công thực hiện kế hoạch.......................................................... 17

5.4

Dự kiến kinh phí, tài chính, cơ sở vật chất thực hiện kế hoạch ...................... 17

5.5

Thời gian hoàn thành kế hoạch, tổng kết rút kinh nghiệm ............................. 17

1. Kết luận.............................................................................................................. 18
2. Kiến nghị ........................................................................................................... 18

21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status