TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA – Lớp bồi dưỡng chuyên viên K4A - 2015
MỤC LỤC
PHẦN I. MỞ ĐẦU .........................................................................................................2
1. Tính cấp thiết của vấn đề .......................................................................................2
2. Mục đích nghiên cứu: ............................................................................................5
3. Phương pháp nghiên cứu:.......................................................................................5
4. Phạm vi nghiên cứu: ..............................................................................................5
5. Bố cục của tiểu luận ...............................................................................................6
PHẦN II. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG ...........................................................................6
1. Mô tả tình huống....................................................................................................6
2. Xác định mục tiêu xử lý tình huống .......................................................................8
3. Phân tích nguyên nhân, hậu quả ........................................................................... 10
4. Cơ sở lý luận và pháp lý để giải quyết tình huống ................................................ 13
5. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết ........................................ 13
6. Lập kế hoạch để thực hiện phương án đã lựa chọn ............................................... 16
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................. 17
1. Kết luận ............................................................................................................... 17
2. Kiến nghị ............................................................................................................. 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 21
Học viên: Cao Thị Ngà
Trang 1
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA – Lớp bồi dưỡng chuyên viên K4A - 2015
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề
Công chứng là một nghề xuất hiện từ rất xưa. Cách đây hàng ngàn năm ở Hy
Lạp, Ai Cập, đặc biệt là ở La Mã đã có những người làm dịch vụ văn tự. Nhưng nghề
sự quá tải của các phòng công chứng Nhà nước dẫn đến việc thực hiện các giao dịch trên
bị tác động vào gây không ít khó khăn. Trước tình hình đó, ở nước ta nói chung và nhất
là các thành phố lớn như TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh…nói riêng cũng cần một mạng
lưới phòng công chứng và VPCC tương ứng với số lượng công việc và sự đòi hỏi cần
thiết của xã hội để đáp ứng cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Trong phát triển kinh tế, các văn bản pháp lý được công chứng tạo điều kiện thuận
lợi hơn cho cá nhân, tổ chức tiện lợi trong giao dịch. Đồng thời, đây là cơ sở pháp lý để
giải quyết tranh chấp khi buộc các bên tham gia giao dịch phải xác nhận tính xác thực
của hợp đồng, cũng như địa vị, trách nhiệm pháp lý trong tham gia giao dịch. Vì vậy,
việc bắt buộc công chứng các loại hợp đồng trong giao dịch liên quan đến kinh tế sẽ
tránh được nhiều rắc rối, kiện cáo phát sinh. Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành
đối với các bên liên quan, trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ
của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ
trường hợp các bên tham gia hợp đồng có thoả thuận khác. Văn bản công chứng có giá
trị chứng cứ ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh,
trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố là vô hiệu.Do đó, xét trên bình diện công dân thì văn
bản công chứng là một công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, phòng
ngừa tranh chấp, tạo ra sự ổn định của quan hệ giao dịch dân sự, tài sản, bảo đảm trật tự,
kỷ cương. Mặt khác, về phương diện Nhà nước thì văn bản công chứng tạo ra một bằng
chứng xác thực, kịp thời không ai có thể phản bác, chối cãi, trừ trường hợp có ý kiến
của người thứ ba và được quá trình tố tụng cho là không đúng.
Hoạt động công chứng gắn liền với lĩnh vực quản lý đất đai của cơ quan nhà có
thể thấy rõ hơn tầm quan trọng của công chứng trong lĩnh vực đất đai: Theo quy định
của pháp luật hiện hành, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý.
Học viên: Cao Thị Ngà
Trang 3
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA – Lớp bồi dưỡng chuyên viên K4A - 2015
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA – Lớp bồi dưỡng chuyên viên K4A - 2015
nghề công chứng và công chứng viên trên địa bàn Thành phố. Với những hiểu biết của
bản thân và những kiến thức đã được học trong chương trình bồi dưỡng ngạch chuyên
viên năm 2015, tôi quyết định chọn xử lý tình huống về “Hồ sơ công chứng khai nhận,
thỏa thuận phân chia, tặng cho di sản thừa kế” ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân
trên địa bàn xã Y, huyện X, TP Hà Nội để làm tiểu luận cuối khóa - Lớp bồi dưỡng
chuyên viên năm 2015.
Việc giải quyết tình huống này sẽ góp phần giải quyết những băn khoăn của người
dân và cũng giúp cho Văn phòng đăng kí đất đai Hà Nội – Chi nhánh huyện X có căn cứ
thẩm định hồ sơ thừa kế, tặng cho QSD đất trên địa bàn và đây cũng là công tác quan
trọng được Thành ủy, UBND Thành phố quan tâm để đảm bảo quyền lợi chính đáng,
phục vụ lợi ích của nhân dân.
Trong thời gian gần 03 tháng tham gia chương trình bồi dướng ngạch chuyên viên
tại trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong Hà Nội, với chương trình được thiết kế khoa
học, ngắn gọn, dễ hiểu và việc bố trí lịch học xen kẽ lý thuyết với thực hành, thảo luận,
thực hành nhóm đã giúp tôi dễ dàng hơn trong việc tiếp thu các kiến thức của chương
trình. Từ đó, giúp bản than tôi học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm trong thực hiên nhiệm vụ
chuyên môn, đặc biệt là kinh nghiệm giải quyết các tình huống.
2. Mục đích nghiên cứu:
Xây dựng tình huống trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về công tác quản lý
nhà nước trên lĩnh vực công chứng và đưa ra các phương án giải quyết tình huống một
cách phù hợp nhất.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Theo phương pháp phân tích, đối chiếu.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Tại xã Y, huyện X, TP Hà Nội.
Học viên: Cao Thị Ngà
Học viên: Cao Thị Ngà
Trang 6
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA – Lớp bồi dưỡng chuyên viên K4A - 2015
dung Văn bản khai nhận thỏa thuận phân chia, tặng cho di sản thừa kế số 142/2015,
quyển số 01 TP/CC-SCC/VBKNTTPCTCDSTK mà Văn phòng công chứng M tại địa
chỉ xã Y, huyện X, TP Hà Nội đã chứng nhận ngày 20/7/2015 để có căn cứ thẩm định,
xét duyệt hồ sơ ông P.V.T đã nộp nói trên.
Ngày 15/8/2015, Phòng Quản lý các hoạt động Bổ trợ tư pháp nhận được công
văn số 15/CNTO ngày 10/8/2015 của Văn phòng đăng kí đất đai Hà Nội – Chi nhánh
huyện X về việc xin ý kiến về nội dung Văn bản khai nhận thỏa thuận phân chia, tặng
cho di sản thừa kế số 142/2015, quyển số 01 TP/CC-SCC/VBKNTTPCTCDSTK mà
Ông T. C là công chứng viên làm việc tại Văn phòng công chứng M tại địa chỉ xã Y,
huyện X, TP Hà Nội đã ký công chứng ngày 20/7/2015 nội dung hỏi: “Cháu P.T.M.A
sinh ngày 06/5/1999 được hưởng 82,4 m2 trong phần di sản được phân chia từ hộ ông
P.V.S tại thời điểm cấp GCN QSD đất (theo Điều 4, Bộ luật Dân sự năm 2005) và người
đại diện theo pháp luật của cháu P.T.M.A là mẹ cháu, bà N.T.H. Tuy nhiên, tại phần 4.8,
mục II khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thể hiện: Cháu P.T.M.A có
quyền tặng cho bố đẻ là ông P.V.T 82,4 m2 nêu trên theo Khoản 2 Điều 20, Bộ luật Dân
sự năm 2005.Vậy trong trường hợp này cháu P.T.M.A mang tài sản tặng cho người thứ
ba là bố đẻmà Văn phòng công chứng M đã công chứng nói trên là có đúng với quy định
của pháp luật không?
Là chuyên viên Phòng quản lý các hoạt động Bổ trợ tư pháp, tôi được lãnh đạo
phòng giao nhiệm vụ nghiên cứu, xử lý vụ việc này. Sau khi nghiên cứu hồ sơ, Phòng
Quản lý các hoạt động Bổ trợ tư pháp – Sở Tư pháp đã mời ông T.C – công chứng viên
đến Sở để làm việc. Trên kết quả xác mình hồ sơ và kết quả buổi làm việc với ông
T.Cvà các quy định của pháp luật trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được công văn
số 15/CNTO của Văn phòng đăng kí đất đai – Chi nhánh huyện X, kết quả giải quyết vụ
giúp cho các cơ quan chức năng sẽ xử lý tốt, không bị lung túng trong quá trình giải
quyết hồ sơ cho công dân khi gặp những tương tự như vụ việc nói ở trên. Đảm bảo lợi
ích hợp pháp của người dân không bị xâm phạm. Khi quá trình giải quyết hồ sơ được
Học viên: Cao Thị Ngà
Trang 8
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA – Lớp bồi dưỡng chuyên viên K4A - 2015
nhanh gọn, không rườm rà phúc tạp là góp phần tiết kiệm chi phí, thời gian đi lại, chờ
đợi cho công dân. Nâng cao được nhận thức pháp luật, và chuyên môn nghiệp vụ cho
cán bộ làm công tác thẩm định hồ sơ trong trường nói trên.
Tình huống xảy ra trên địa bàn xã Y, huyện X, TP Hà Nội nơi Văn phòng công
chứng M đặt trụ sở, đây cũng là một trong số những tình huống thể hiện sự những thiếu
sót của công chứng viên khi chứng nhận các hợp đồng, giao dịch liên quan đến thừa kế.
Tình huống đặt ra cho các cấp, ngành cần quan tâm hơn nữa đến hoạt động công chứng,
để tránh những sai phạm trong hoạt động công chứng của các công chứng viên trên địa
bàn TP Hà Nội, cũng như cả nước. Nâng cao được chất lượng của dịch vụ công chứng.
Việc một số Văn bản công chứng là căn cứ pháp lý để xác lập quyền lợi, lợi ích
của người dân bị cơ quan chức năng từ chối làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân
sử dụng dịch vụ, cũng như làm ảnh hưởng đến uy tín của các tổ chức hành nghề công
chứng trên địa bàn, gây giảm sút lòng tin của nhân dân vào dịch vụ pháp lý này. Sở dĩ,
đưa ra tình huống này để phân tích là để nhằm mục tiêu cụ thể trên và mục tiêu sâu rộng
sau:
a) Đối với cơ quan quản lý nhà nước
Nhằm sát sao trong công tác quản lý, kiểm tra, xử lý hoạt động của các tổ chức
hành nghề công chứng. Đề ra những giải pháp hữu ích, thiết thực để giải quyết triệt để
những sai phạm trong quá trình hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng cũng
như của các công chứng viên.
Hạn chế những sai phạm của hoạt động công chứng; nâng cao chất lượng của các
Thứ nhất, chất lượng đội ngũ công chứng viên chưa đồng đều, một số công chứng
viên còn yếu về nghiệp vụ và kỹ năng hành nghề công chứng, lượng công chứng viên
yếu này chủ yếu tập trung vào những người được miễn đào tạo, miễn tập sự hành nghề
công chứng nên chất lượng công chứng một số hợp đồng, giao dịch chưa được đảm bảo.
Học viên: Cao Thị Ngà
Trang 10
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA – Lớp bồi dưỡng chuyên viên K4A - 2015
Một số công chứng viên còn chưa chủ động, tích cực trong việc tự học tập, cập nhật kiến
thức pháp luật để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng hành nghề cũng như việc
trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp. Ngoài ra, một số công
chứng viên chưa có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, chưa tận tụy và nhiệt
tình với khách hàng, chỉ quan tâm đến thù lao mà coi nhẹ chất lượng hành nghề, từ đó
làm giảm sút niềm tin của người yêu cầu công chứng cũng như ảnh hưởng đến uy tín,
chất lượng của nghề công chứng.
Thứ hai, Hiệp hội công chứng toàn quốc chưa được thành lập, hầu hết các Hội
công chứng của các địa phương còn chưa được thành lập, Hội công chứng địa phương
đã được thành lập được thì còn non trẻ nên vai trò tự quản chưa thực sự phát huy hiệu
quả.
Thứ ba, cơ quan quản lý nhà nước chưa có các giải pháp đồng bộ để thực hiện tốt
nhiệm vụ quản lý nhà nước về công chứng; chưa xác lập được những giải pháp mang tính
chiến lược nhằm đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước. Công tác tuyên truyền, quán triệt
thực hiện Luật Công chứng nhiều nơi thực hiện hình thức, chưa đi vào chiều sâu.
Thứtư, Ý thức pháp luật, trình độ nhận thức pháp luật về công chứng của người
dân, của các nhân viên thực thi nhiệm vụ chưa cao nên vẫn tồn tại nguyên nhân chính là
rủi ro đạo đức và rủi ro tác nghiệp và gây ra các sai phạm trong công chứng hợp đồng
giao dịch.
b) Nguyên nhân khách quan:
c) Hậu quả
Việc công chứng sai ảnh hưởng đến quyền lợi của nhân dân. Người dân mất tiền
nhưng lại không được thụ hưởng dịch vụ tốt. Nếu tình trạng này còn diễn ra, hoặc có
những sai phạm nghiêm trọng hơn xảy ra sẽ dẫn tới việc người dân không còn tin tưởng
vào công chứng, mất lòng tin của nhân dân, uy tín bị giảm sút. Không những thế, sẽ khó
Học viên: Cao Thị Ngà
Trang 12
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA – Lớp bồi dưỡng chuyên viên K4A - 2015
khăn cho việc quản lý của nhà nước trong việc rất nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, ảnh hưởng đến tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nước ta.
4. Cơ sở lý luận và pháp lý để giải quyết tình huống
- Bộ luật Dân sự năm 2005;
- Luật công chứng năm 2014.
5. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết
Phương án 1: Nghiên cứu, xác mình hồ sơ công chứng để phúc đáp công văn hỏi
của Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội – Chi nhánh huyện X để cơ quan này có cơ sở
thẩm định hồ sơ của ông P.V.T công văn phúc có nội dung như sau:
“…Phúc đáp Công văn số 15/CNTO ngày 10/8/2015 của Văn phòng đăng ký đất
đai thành phố Hà Nội – Chi nhánh huyện X về hồ sơ khai nhận, thỏa thuận, tặng cho di
sản thừa kế số 142/2015, quyến số 01/TP/CC-SCC/VNKNTTPCDSTK được Văn phòng
công chứng M địa chỉ xã Y, huyện X, TP Hà Nội chứng nhận ngày 20/7/2015, trong đó
có nội dung cháu P.T.M.A sinh ngày 06/5/1999 tặng cho 82.4 m2 đất cho bố đẻ của
mình là ông P.V.T trong phần di sản được phân chia từ hộ ông P.V.S theo quy định tại
Khoản 2 Điều 20, Bộ luật Dân sự.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ công chứng, các quy định của pháp luật, Sở Tư pháp có
ý kiến như sau:
Khoản 2 Điều 20, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “ Trong trường hợp người
dịch phải là công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công
chứng đó. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng
chấm dứt hoạt động hoặc giải thể thì công chứng viên thuộc tổ chức hành nghề công
chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng,
giao dịch.”
Học viên: Cao Thị Ngà
Trang 14
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA – Lớp bồi dưỡng chuyên viên K4A - 2015
Việc yêu cầu Văn Phòng công chứng M và công chứng viên T.C sửa đổi nội dung
Văn bản khai nhận nói trên là đúng với quy định của pháp luật về công chứng, đúng với
chức năng nhiệm vụ của Phòng Quản lý các hoạt động Bổ trợ tư pháp – Sở Tư pháp Hà
Nội và rất cần thiết, để kịp thời ngăn chặn những vụ việc không đúng pháp luật xảy ra
tiếp theo dựa trên nội dung Văn bản khai nhận nói trên.
Phương án 3: Kết hợp phương án 1 và phương án 2: Kết hợp giữa việc phúc đáp
Công văn số 15/CNTO ngày 10/8/2015 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Hà
Nội – Chi nhánh huyện X với việc yêu cầu công chứng viên T.C sửa đổi nội dung Văn
bản khai nhận thỏa thuận phân chia, tặng cho di sản thừa kế số 142/2015, quyển số 01
TP/CC – SCC/VBKNTTPCTCDSTK của Văn phòng công chứng M địa chỉ tại xã Y,
huyện X, TP Hà Nội.
Trong 03 phương án trên, tôi đề xuất chọn phương án 3 để giải quyết. Tôi cho
rằng đây là phương án tối ưu nhất và có tính khả thi cao. Kết hợp chặt chẽ giữ việc phúc
đáp công văn của Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội – Chi nhành huyện X để giúp cơ
quan này sớm có cơ sở để thẩm định hồ sơ, trả lời cho ông P.V.T biết hồ sơ của ông có
được phê duyệt hay không và lý do trả lại hồ sơ là gì. Đồng thời, trong quá trình nghiên
cứu, xác minh hồ sơ công chứng phát hiện sai phạm của Văn phòng công chứng M thì
phải yêu câu. Việc chọn phương án này sẽ giải quyết được công chứng viên sửa đổi nội
dung liên quan kịp thời đảm bảo quyền lợi của công dân không bị xâm phạm. Cũng là
Xác minh hồ sơ sơ khai nhận, thỏa Đ/c Cao Thị Ngà Ngày 18/8/2015
thuận, tặng cho di sản thừa kế số – chuyên viên.
142/2015,
2
quyến
số
01/TP/CC-
SCC/VNKNTTPCDSTK được Văn
phòng công chứng M địa chỉ xã Y,
huyện X, TP Hà Nội chứng nhận
ngày 20/7/2015
3
Nghiên cứu hồ sơ và đưa ra kết luận
Đ/c Cao Thị Ngà Ngày 18-20/8/2015
– chuyên viên.
Soạn thảo công văn phúc đáp gửi tới Đ/c Cao Thị Ngà Ngày 20/8/2015
4
Văn phòng đăng kí đất đai – Chi – chuyên viên.
nhánh huyện X
Gửi công văn yêu cầu công chứng Đ/c Cao Thị Ngà Ngày 20/8/2015
phạm về đạo đức hành nghề của công chứng viên vẫn còn rất nhiều và có biểu hiện ngày
càng tinh vi hơn, thậm chí nhiều trường hợp còn lẫn lộn rất khó phân biệt đó là sai phạm
về năng lực hay về đạo đức hành nghề công chứng, khó phân biệt đó là sai phạm do vô ý
hay cố ý của công chứng viên.
Như đã biết, đặc trưng nổi bật và khác biệt nhất của công chứng viên so với
những người hành nghề khác là mặc dù với tư cách cá nhân (là một công dân hoặc một
viên chức bình thường) nhưng được Nhà nước tin tưởng, bổ nhiệm để trao cho một phần
quyền lực công của Nhà nước (thực hiện dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm) nhằm
thực hiện chức năng chính là chứng nhận tính xác thực, tính chính xác, tính hợp pháp và
tính phù hợp với đạo đức xã hội của các hợp đồng, văn bản giao dịch dân sự hoặc các
giấy tờ dân sự khác. Qua đó, chính công chứng viên sẽ làm cho các văn bản, giấy tờ này
trở thành có hiệu lực pháp luật như các văn bản của Nhà nước ban hành ra, được nhân
dân và Nhà nước thừa nhận. Đồng thời, với chức năng nói trên của mình, hành vi của
Học viên: Cao Thị Ngà
Trang 17
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA – Lớp bồi dưỡng chuyên viên K4A - 2015
công chứng viên còn được toàn bộ xã hội nhìn nhận như một chuẩn mực về sự đúng đắn,
đặt vào đó một sự tin cậy rất cao nếu như không muốn khẳng định gần như là tuyệt đối.
Chính vì những lý do nêu trên mà vấn đề năng lực và đạo đức của công chứng viên luôn
luôn phải được đặt lên hàng đầu trong tất cả các quy định về công chứng viên nói riêng
và các quy định về công chứng nói chung để đáp ứng được những kỳ vọng lớn lao đó
của người dân và của xã hội. Với các nước có nền pháp luật lâu đời và phát triển thì đội
ngũ công chứng viên của họ đã gần như khẳng định được vị thế chắc chắn, uy tín rất cao
trong giới những người hành nghề pháp luật và trong lòng xã hội. Còn đối với nước ta,
một đất nước vẫn còn nghèo, lịch sử pháp luật chưa dài, ý thức pháp luật của người dân
chưa cao, trình độ và kinh nghiệm của những nhà xây dựng pháp luật dù sao vẫn còn
những hạn chế, thiếu sót, nên việc xây dựng và thực thi pháp luật nói chung và pháp luật
như hiện tại;
Thứ năm: Tăng cường tuyên truyền, phổ biến Luật Công chứng nhằm nâng cao
nhận thức của cá nhân, tổ chức về vị trí, vai trò của nghề công chứng. Chủ động và kịp
thời hướng dẫn để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành Luật
Công chứng và các văn bản hướng dẫn;
Thứ sáu: Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hành nghề của công chứng viên,
bảo đảm để công chứng viên thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của mình;
Thứ bảy: Nâng cao chất lượng công chứng viên theo hướng tập trung đào tạo theo
chiều sâu, tăng cường kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng, kinh nghiệm hành
nghề. Tăng cường bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho các công chứng viên, nhất là công
chứng viên được miễn đào tạo, miễn tập sự hành nghề công chứng, nhằm xây dựng đội
ngũ công chứng viên vững về chuyên môn, có đạo đức và uy tín nghề nghiệp;
Thứ tám: Đầu tư thỏa đáng về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất cho đội ngũ cán bộ
tư pháp ở Trung ương và địa phương thực hiện công tác quản lý nhà nước về công
Học viên: Cao Thị Ngà
Trang 19
TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA – Lớp bồi dưỡng chuyên viên K4A - 2015
chứng; tăng cường áp dụng tin học hóa trong công tác quản lý tổ chức và hoạt động
công chứng;
Thứ chín: Tăng cường kiểm tra, thanh tra để nắm bắt tình hình về tổ chức và hoạt
động công chứng, kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc, sai phạm để tháo gỡ
và chấn chỉnh để đưa hoạt động công chứng vào nề nếp./.
Học viên: Cao Thị Ngà
Trang 20