LỜI MỞ ĐẦU.
Trách nhiệm bồi thường cuả Nhà nước đã được ghi nhận tại Hiến pháp năm
1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và trong một loạt các văn bản pháp luật quan trọng
khác như Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Nghị định
47/CP ngày 3/5/1997 của Chính phủ. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành
Nghị quyết số 388/2003 (17/3/2003) về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do
người có thẩm quyền gây ra.
Đặc biệt là ngày 18/6, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Trách nhiệm
bồi thường Nhà nước năm 2009 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2010. Có thể nói
rằng: Việc Quốc hội ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một sự
kiện quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc trong việc khẳng định chính sách của Đảng và
Nhà nước ta. Để bảo đảm thi hành Luật TNBT của Nhà nước có hiệu quả; cán bộ,
công chức cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương phải nhận thức rõ trách
nhiệm công vụ của mình, nhận thức đầy đủ nội dung của luật và các văn bản hướng
dẫn thi hành cũng như quyền yêu cầu bồi thường và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi
thường. Vậy để đi sâu vào tìm hiểu về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong
một lĩnh vực cụ thể, dưới đây nhóm Dân sự D1-1 được chọn đề tài số 2 về tìm 2 vụ
việc hình sự để phân tích các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước, và
xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường và thiệt hạn bồi thường.
Do kiến thức còn hạn chế, khả năng phân tích vấn đề chưa sâu, nên bài viết
của em không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong thầy cô góp ý sửa chữa để bài
viết của chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!.
1
NỘI DUNG.
I. VỤ VIỆC SỐ 1.
• Tóm tắt vụ việc
vào khoảng 22h ngày 24/10/2000, anh Nguyễn Chính Hải (sinh năm 1973, trú
Tháng 7/2002, cả ba bị cáo được chuyển đến trại giam Thanh Xuân để thụ án.
Những ngày tháng sống trong trại giam, Lợi - Tình - Kiên vẫn một mực kêu oan.
Trong các bút lục điều tra thì có sự mâu thuẫn trong lời khai của nạn nhân và ba bị
cáo, tang vật duy nhất tại hiện trường cũng không được chứng minh rõ ràng và có
mâu thuẫn với tang vật mà nạn nhân giữ lại. Đồng thời cả ba bị cáo khai nhận có bị ép
cung. Hàng trăm lá đơn kêu oan được gửi nhưng không được cơ quan thẩm quyền
giải quyết. Sau gần 10 năm, nhờ sự giúp sức của các cơ quan chức năng, các cơ quan
báo chí, đặc biệt là của một người bác sĩ Phạm Thị Hồng, vụ án đã được giải quyết
Ngày 26/1/2010, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ra Quyết định huỷ bản án
sơ thẩm và phúc thẩm của vụ án này, điều tra lại vụ việc, tuyên các bị cáo Nguyễn
Đình Lợi, Nguyễn Đình Tình, Nguyễn Đình Kiên không phạm tội “cướp tài sản” và
tội “hiếp dâm”, đồng thời tạm đình chỉ thi hành án đối với Lợi – Tình – Kiên.
1. Phân tích căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước trong vụ
việc trên;
Theo quy định Tại Điều 6 của Luật Trách nhiệm bồi của Nhà nước về các căn
cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước,đối chiếu vào vụ việc trên ta xác
định các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước cụ thể như sau:
- Có văn bản của cơ quan thẩm quyền xác định hành vi của người tiến hành
tố tụng hình sự là trái pháp luật. Cụ thể ở đây là các bản án sơ thẩm của TAND tỉnh
Hà Tây và bản án phúc thẩm của TAND tối cao TP Hà Nội. Theo đó, ngày
21/1/2002, Toà án nhân dân tỉnh Hà Tây đã tuyên phạt Nguyễn Đình Lợi 16 năm tù
giam, Nguyễn Đình Tình 14 năm tù giam và Nguyễn Đình Kiên 11 năm tù giam về
tội cướp tài sản và hiếp dâm. Tiếp đó, phiên hình sự phúc thẩm ngày 22/4/2002, Toà
án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã quyết định giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
- có hành vi trái pháp luật của người tiến hành TTHS thuộc phạm vi trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước. Theo Khoản 4 Điều 28 Luật TNBTNN quy
định phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước trong trường hợp: “
Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình
phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động
tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của
có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự là cơ quan được quy định
tại các điều 30, 31 và 32 của Luật này. Ta xác định hành vi sai phạm của các cơ quan
tiến hành tố tụng vụ án hình sự này như sau:
- Đối với Cơ quan điều tra
Phó viện trưởng VKSND Tối cao Lê Hữu Thể khẳng định trong kháng nghị
giám đốc thẩm ký ngày 26/1 rằng Cơ quan điều tra đã thiếu khách quan, không đầy
đủ và không triệt để, nhiều chứng cứ gỡ tội chưa được xác minh làm rõ. Công tác
điều tra có nhiều vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hình sự. Các bản án sơ thẩm
4
và phúc thẩm đã căn cứ vào các tài liệu điều tra thiếu tính khách quan để kết tội các bị
cáo...
Thứ nhất, khi khám nghiệm hiện trường, cơ quan điều tra đã không yêu cầu sự
có mặt của người bị hại, người chứng kiến, nhân chứng, mặc dù trước đó, cơ quan
công an đã ghi lại lời khai của họ, thể hiện tại các Bút lục 159, 161, 163.
Thứ hai, tại biên bản xác định hiện trường ngày 9/12/2001, Cơ quan điều tra lại
xác định hiện trường nơi xảy ra vụ án ở một địa điểm khác. Chỉ xét riêng chi tiết về
hiện trường vụ án, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã kết luận: Công tác khám
nghiệm hiện trường của Cơ quan Điều tra công an tỉnh Hà Tây (cũ) đã vi phạm Điều
125 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 (Nay là Điều 150 BLTTHS sửa đổi bổ sung
năm 2009 ), căn cứ này không có giá trị pháp lý.
Đặc biệt, Viện kiểm sát nhận định việc xét hỏi tại cả hai phiên tòa là "phiến
diện, không đầy đủ" khiến việc kết tội "không đúng với những tình tiết khách quan
của vụ án". Bên cạnh đó quá trình thẩm vấn lại chỉ tập trung vào các tình tiết buộc tội
đã có trong hồ sơ để kết tội theo kết luận điều tra và quyết định truy tố.
Ngoài ra, vật chứng duy nhất trong vụ án là chiếc áo phông thủ phạm bỏ lại tại
hiện trường, có giá trị truy nguyên thủ phạm xác nhận là chiếc áo phông màu đỏ, cổ
bẻ, có sọc ngang màu vàng, xanh. Chị Hạnh đã mang chiếc áo đến trình báo sự việc
án phúc thẩm sẽ phải bồi thường khi Toà án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng
Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án phúc thẩm để xét xử
lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.
Cả TA cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều tuyên ba thanh niên Lợi, Tình, Kiên
phạm tội cướp tài sản và hiếp dâm, tổng hợp hình phạt của 3 người là 41 năm tù. Tuy
nhiên trải qua quá trình điều tra lại trên cơ sở lời kêu oan của 3 người và sự nghiên
cứu xcung cấp tài liệu của những người có liên quan, ngày 26/1/2010, Viện Kiểm sát
nhân dân tối cao đã ra Quyết định huỷ bản án phúc thẩm của vụ án này, điều tra lại vụ
việc, tuyên các bị cáo Nguyễn Đình Lợi, Nguyễn Đình Tình, Nguyễn Đình Kiên
không phạm tội “cướp tài sản” và tội “hiếp dâm”, đồng thời tạm đình chỉ thi hành án
đối với Lợi – Tình – Kiên.
Như vậy có thể thấy trong vụ án này, cả 3 cơ quan là Cơ quan điều tra, VKS và
TAND đều có hành vi sai phạm. Tuy nhiên do quá trình tiến hành tố tụng vụ án này
không tách rời, và bản án phúc thẩm là kêt luận cuối cùng của vụ án bị oan sai nên
theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 32 luật trách nhiệm bồi thường nhà nước quy
định tòa án xét xử phúc thẩm phải bồi thường trong trường hợp: tòa án cấp phúc
thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng tòa án xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hủy
6
bản án phúc thẩm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ diều tra, đình chỉ vụ
án vì không thực hiện hành vi phạm tội.
Qua đó ta xác định tòa án cấp phúc thẩm chịu trách nhiệm bồi thường đối với
những quyết định của mình áp dụng cho 3 người là anh Lợi, anh Tình và anh Kiên
3.Xác định thiệt hại được bồi thường
Khi quan hệ bồi thường nhà nước phát sinh, xác định được cơ quan có trách
nhiệm bồi thường thiệt hại và những thiệt hại được bồi thường là điều rất quan trọng.
nhất là việc xác định thiệt hại được bồi thường trong TTHS được các cơ quan có thâm
quyền tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật. Những thiệt hại được bồi
thường được quy định tại Chương V Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước bao
bồi thường đã thụ lý vụ việc phải thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai. Có thể là
trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai hoặc đăng trên một tờ báo trung ương và một tờ
báo địa phương trong ba số liên tiếp theo yêu cầu của người bị thiệt hại hoặc đại diện
hợp pháp của họ (Khoản 2 và 3).
Thứ ba là Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Loại thiệt hại
này chỉ được tính khi Lợi, Tình, Kiên chứng minh được khoản thu nhập nào bị mất.
đó có thể là khoản thu nhập thường xuyên, ổn định hoặc không thường xuyên…
Ngoài ra, những thiệt hại về sức khỏe cũng có thể được bồi thường nếu các anh
Lợi, Tình, Kiên thực sự bị thiệt hại về sức khỏe, làm mất khả năng lao động hoặc
những chi phí hợp lý cho việc điều trị chăm sóc sức khỏe do thi hành án tù giam gây
ra theo quy định tại Điều 49 Luật TNBT nhà nước.
Trên đây là những thiệt hại được bồi thường khi các anh Lợi, Tình, Kiên có yêu
cầu bồi thường. Đa số các thiệt hại về sức khỏe, tinh thần… đều được tính giá trị bằng
tiền. Những thiệt hại này đều là những thiệt hại trên thực tế mà người bị thiệt hại phải
gánh chịu. Sự bồi thường bằng tiền hoặc xin lỗi cải chính cũng chỉ phần nào bù đắp
được những thiệt hại của họ. Và đặt ra cho cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cao
hơn khi tiến hành tố tụng hình sự. bởi việc ra một bản án, quyết đinh về hình sự có
ảnh hưởng trực tiếp và nếu có sự sai sót sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, rất khó
khắc phục trong thực tế.
II. VỤ VIỆC SỐ 2
1. Tóm tắt vụ án
Tối ngày 27/8/2010, BHV sinh ngày 16/4/1997 là con gái cô giáo Bùi Thị Đức trú
tại thành phố Sơn La sang cửa hàng Tùng Bách Plaza bị Nguyễn Văn Hưởng là người
làm thuê cho cửa hàng cưỡng hiếp. Ngay sau đó, sự việc được thông báo đến cô giáo
Bùi Thị Đức bằng cuộc nặc danh. Bên gia đình Hưởng xin cô Bùi Thị Đức giải quyết
tình cảm và bồi thường 130 triệu đồng. Nghĩ đến danh dự và tương lai của con gái, nên
8
cô giáo Đức không muốn sự việc quá ồn ã và nghĩ đến tuổi của Hưởng còn quá trẻ,
Căn cứ thứ nhất là, có bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc các trường hợp
được bồi thường theo quy định Điều 26 của Luật này. Quyết định của VKSND thành
9
phố Sơn La ngày 22/9/2010 đình chỉ điều tra bị can và quyết định hủy bỏ biện pháp
tạm giam trả tự do cho cô giáo Đức có nội dung xác định Bùi Thị Đức đã bị tạm giam
và không thực hiện hành vi phạm tội. Cho nên, văn bản này là căn cứ để xác định Nhà
nước có trách nhiệm bồi thường.
Căn cứ thứ hai là, có thiệt hại thực tế do người tiến hành tố tụng hình sự gây ra
đối với người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng chỉ phát sinh nếu hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
gây ra thiệt hại và ngược lại thiệt hại gây ra cho cá nhân, tổ chức là kết quả tất yếu của
hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Thiệt hại trong tố tụng hình sự cũng bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt
hại tổn thất về tinh thần được xác định theo quy định tại Chương V của Luật, (được
quy định từ Điều 45 đến Điều 49). Nhà nước không bồi thường đối với thiệt hại xảy ra
trong các trường hợp theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 của Luật.
Thiệt hại trong trường hợp này là thiệt hại về tài sản và tinh thần. Về tinh thần,
con gái cô Đức đã bị Nguyễn Văn Hưởng cưỡng hiếp, sau đó cô Đức còn bị vu oan
mang tội “cưỡng đoạt tài sản”, và bị cơ quan điều tra tạm giam. Cơ quan Nhà nước có
trách nhiệm bồi thường về tài sản và tinh thần, đồng thời công khai xin lỗi và khôi
phục danh dự cho cô giáo Bùi Thị Đức.
Trong hoạt động tố tụng hình sự, việc đánh giá chứng cứ, xác định hành vi
phạm tội, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có trình độ, năng lực, niềm tin nội
tâm của người tiến hành tố tụng. Việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và
thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn. Do đó, cần xem xét, phân tích
đánh giá tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng đặc biệt chú trọng đến hành
vi của con người, liên quan đến thời điểm xảy ra hành vi và hậu quả xảy ra để có kết
do người tiến hành tố tụng hình sự gây ra đối với người bị thiệt hại hay không? Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ phát sinh
nếu hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra thiệt hại và ngược lại
thiệt hại gây ra cho cá nhân, tổ chức là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật của
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Bởi các căn cứ nêu trên, chúng ta xác định được cơ quan thực hiện trách nhiệm
bồi thường là Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La.
Ta biết rằng, thiệt hại trong tố tụng hình sự cũng bao gồm thiệt hại về vật chất và
thiệt hại tổn thất về tinh thần được xác định theo quy định tại Chương V của Luật trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.
Vấn đề bồi thường thiệt hại trong trường hợp này được xác định theo khoản 2
Điều 47 Luật này như sau: “2. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp bị
tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù được xác định là ba ngày lương tối thiểu
cho một ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù”;
11
Bên cạnh đó, cơ quan có trách nhiệm bồi thường ngoài trách nhiệm bồi thường
thiệt hại về tài sản và tinh thần, thì đồng thời còn phải công khai xin lỗi và khôi phục
danh dự cho cô giáo Bùi Thị Đức theo khoản 3 Điều 51 của Luật này như sau:
“Điều 51: Khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình
sự. Việc xin lỗi, cải chính công khai được thực hiện bằng các hình thức sau đây: a)
Trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt
hại có sự tham dự của đại diện chính quyền địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú,
đại diện của cơ quan nơi người bị thiệt hại làm việc, đại diện của một tổ chức chính trị
- xã hội mà người bị thiệt hại là thành viên; b) Đăng trên một tờ báo trung ương và một
tờ báo địa phương trong ba số liên tiếp theo yêu cầu của người bị thiệt hại hoặc đại
diện hợp pháp của họ”.
III. NHẬN XÉT
KẾT LUẬN.
Tóm lại vấn đề trách nhiệm Bồi thường của nhà nước trong các lĩnh vực nói
chung và trong tố tụng hình sự nói riêng đối với các trường hợp oan sai xảy ra hiện
nay không ít . Mặc dù đã Sau hơn 01 năm triển khai thi hành Luật Trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước, nhưng do triển khai thi hành Luật cho thấy ý nghĩa, vai trò cũng
như nội dung cơ bản của luật vẫn chưa được đông đảo cán bộ, công chức, nhân dân
nhận thức đầy đủ. Bên cạnh đó, một phần là do chưa có sự chỉ đạo sát sao, kịp thời
trong việc thực hiện công tác quán triệt luật cũng như bố trí nhân sự theo dõi, thực thi
luật và chưa có hướng dẫn kịp thời từ các cơ quan trung ương nên địa phương gặp
khó khăn trong việc bố trí cán bộ. Thiếu người, thiếu biên chế .Quản lý nhà nước về
công tác bồi thường là một nhiệm vụ mới được luật và Nghị định số 16/2010/NĐ-CP
ngày 03/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định cụ thể và được giao cho Bộ
Tư pháp, Sở Tư pháp có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công
tác bồi thường. Do vậy , để hạn chế tình trạng oan sai xảy ra, nhà nước cần có chính
sách quản lý chặt chẽ các hoạt động của các công chức, cá nhân, cơ quan tiến hành tố
tụng . Qua đó cần có chế tài áp dụng thỏa đáng đối với cá nhân, cơ quan tiến hành tố
tụng gây ra hiện tượng oan sai. Đồng thời cần quy định mức bồi thường tăng lên để
đắp ứng thỏa đáng phần nào thiệt hại mà người bị oan sai đã phải gánh chịu.
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………………………………………..……………………………..1
NỘI DUNG…………………………………………..……………………………….2
I.VỤ VIỆC SỐ 1…………………………………………….……………………….2
Tóm tắt vụ việc………………………………………………………………………2
13
1. Phân tích căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước trong vụ việc
trên;…………………………………………………………………………………..3