A. LỜI MỞ ĐẦU
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được Quốc hội thông qua
ngày 18/6/2009, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Luật này quy định về nội
dung trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với tổ chức, cá nhân bị thiệt hại về vật
chất, tổn thất về tinh thần, và điều chỉnh toàn diện các nội dung: Phạm vi các lĩnh vực
hoạt động mà Nhà nước phải bồi thường và phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà
nước trong từng lĩnh vực đó (Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho tổ chức, cá
nhân bị thiệt hại đối với các trường hợp được quy định cụ thể trong lĩnh vực hoạt động
quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án). Thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại,
quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại: kinh phí bồi thường và trách nhiệm
hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại.
Là một trong các lĩnh vực được luật trách nhiệm bồi thường nhà nước điều
chỉnh, phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước trong họat động tố tụng dân sự, tố
tụng hành chính được quy định nhằm giúp các cơ quan, đơn vị, các tổ chức và cá
nhân nắm vững những vấn đề về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực
này. Để tìm hiểu vấn đề này, em xin được đi sâu tìm hiểu về đề tài: Xác định phạm vi
trách nhiệm bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành
chính. làm bài tập lớn học kỳ của mình.
Do kiến thức còn hạn chế cũng như khả năng tìm hiểu và phân tích vấn đề chưa
sâu, nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong thầy cô góp ý
sửa chữa để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!.
1
B. NỘI DUNG.
I.Khái quát chung về bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự, tố
tụng hành chính.
1.khái niệm .
Có thể nói rằng kể từ khi luật trách nhiệm bồi thường nhà nước có hiệu lực thi
Tại điều 7 Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước quy địnhvề nguyên tắc giải
quyết bồi thường thì việc giải quyết bồi thường phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
“1. Kịp thời, công khai, đúng pháp luật;
2. Được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi
thường với người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ;
3. Được trả một lần bằng tiền, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.”
Theo đó ta thấy được việc giải quyết bồi thường phải tuân theo các nguyên tắc sau:
•
Nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường kịp thời, công khai đúng luật.
Về cơ bản nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong tố tụng cũng tương tự như nguyên tác
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định trong bộ luật dân sự đó là: phải có thiệt
hại xảy ra , có hành vi trái pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp
luật và thiệt hại xảy ra, người gây thiệt hại có lỗi. Tuy nhiên đối với trách nhiệm bồi
thường của nhà nước do hành vi trái pháp luật của người tham gia tố tụng gây ra có
3
dấu hiệu đặc trưng , nên các nhà làm luật đã quy định các nguyên tắc có chứa những
nét đặc trưng này. Nhưng không trái với các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự.
Đây là nguyên tắc chung , bao trùm và là một nguyên tắc công bằng, hợp lý, phù hợp
với tập quán của nhân dân ta là gây thiệt hại thì phải khác phục ngay thiệt hại.
Việc quy định nhà nước phải bồi thường cho người bị oan sai là đảm bảo tính kịp thời
khắc phục thiệt hại cho người bị gây thiệt hại, Và về phía nhà nước thì sẽ yêu cầu
người gây thiệt hại bồi hoàn lại cho nhà nước. Do đó việc bồi thường đúng lúc, đúng
chỗ , đúng đối tượng là rất quan trọng, nhằm phát huy tối đa hiệu quả của việc bồi
thường, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, động viên kịp thời người
bị hại và đảm bảo đúng luật. Việc bồi thường phải công khai thể hiện tính minh bạch
của nhà nước và cũng là biện pháp để khẳng định với mọi người về sai sót của cơ quan
tố tụng hành chính.
1. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng dân
sự, tố tụng hành chính.
Có thể nói Nhu cầu bồi thường thiệt hại cho các công dân, các tổ chức là nghĩa vụ,
trách nhiệm của một nhà nước dân chủ, “Nhà nước của dân, do dân và vì dân”, thể
hiện sự bình đẳng, đối xử công bằng của pháp luật đối với các cơ quan Nhà nước, cán
bộ, công chức và mọi công dân. Trước đây do sự bức xúc của xã hội công dân trước
những hậu quả thiệt hại cho công dân và xã hội xuất phát từ những hành xử, việc làm
của một số cán bộ, công chức vô tình hay cố ý gây ra, trong tình hình còn thiếu các văn
bản luật pháp qui định, Nhà nước Việt Nam đã có sáng kiến đáp ứng giải quyết có tính
chất tình thế, Ví dụ như: trong lĩnh vực tố tụng hình sự, có hai văn bản: Nghị định số
47/CP ngày 03/05/1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công
chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra
5
cùng một số văn bản hướng dẫn thi hành và nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11
ngày 17/3/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị
oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Trong hoạt động
tố tụng dân sự, tố tụng hành chính có Bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính.
Tuy nhiên, các văn bản đó mang tính chữa cháy hết sức cần thiết trong giai đoạn còn
thiếu luật riêng về trách nhiệm bồi thường nhà nước nói chung cà các quy định về
trách nhiệm bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính
nói riêng. Và trong thời gian qua, kết hợp các văn bản trên với các qui định của Luật
Hình sự, Luật Dân sự và cả Luật khiếu nại, tố cáo, Nhà nước ta đã cho ra đời luật trách
nhiệm bồi thường nhà nước năm 2009. Trong đó quy định cụ thể phạm vi trách nhiệm
bồi thường nhà nước trong từng lĩnh vực cụ thể.
Cụ thể dưới đây là quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước trong
hoạt động tố tụng hành chính, tố tụng dân sự như sau:
Theo Điều 28 Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước thì trách nhiệm bồi thường
Bốn là Thẩm phán, Hội đồng xét xử ra quyết định, bản án sơ thẩm có hiệu lực
pháp luật mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án sau đó bị hủy
theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;
Năm là , Thẩm phán, Hội đồng xét xử ra quyết định, bản án phúc thẩm có hiệu lực
pháp luật mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án sau đó bị
hủy theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm .
Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự,
tố tụng hành chính phát sinh khi việc ra bản án, quyết định không có căn cứ, không
hợp pháp đã gây thiệt hại cho các đương sự hoặc người thứ ba.
7
2. Nhận xét.
Như vậy, qua tìm hiểu và phân tích vấn đề trên ta thấy: không phải mọi trường
hợp, quyết định bị hủy mà gây thiệt hại thì phát sinh trách nhệm bồi thường của nhà
nước . Bởi trên thực tế, Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử , do đó bản phán quyết
định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình
tiết mới thì được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự. Quy định này cho phép Tòa án cấp trên sửa chữa sai lầm của
Tòa án cấp dưới nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Mặt khác
trong tố tụng dân sự các đương sự có quyền xuất trình chứng cứ ở bất cứ giai đoạn tố
tụng nào, do đó, nếu họ xuất trình chứng cứ mới sau khi xét xử sơ thẩm , phúc thẩm
mà dẫn đến hậu quả bản án , quyết định đó bị hủy trong khi thẩm phán đã thực hiện
các quy định của pháp luật thì Thẩm phán và Tòa án không có lỗi , không phát sinh
trách nhiệm bồi thường của nhà nước. Trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong tố
tụng dân sự và tố tụng hành chính chỉ phát sinh khi bản án, quyết định bị hủy do lỗi cố
ý của Thẩm phán, thành viên hội đồng xét xử, biết rõ là trái pháp luật mà vẫn thực hiện
hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ. Trong trường hợp này, vấn đề đạt ra là như thế nào thì
được coi là “biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai vụ án”.? Giải quyết vấn đề này,
hoạt động tố tụng dân sự và tố tụng hành chính.
Có thể nói rằng mặc dù đã Sau hơn 01 năm triển khai thi hành Luật Trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước, nhưng do triển khai thi hành Luật
cho
thấy ý nghĩa, vai trò
cũng như nội dung cơ bản của luật vẫn chưa được đông đảo cán bộ, công chức, nhân
dân nhận thức đầy đủ. Bên cạnh đó, một phần là do chưa có sự chỉ đạo sát sao, kịp thời
9
trong việc thực hiện công tác quán triệt luật cũng như bố trí nhân sự theo dõi, thực thi
luật và chưa có hướng dẫn kịp thời từ các cơ quan trung ương nên địa phương gặp khó
khăn trong việc bố trí cán bộ. Thiếu người, thiếu biên chế .Quản lý nhà nước về công
tác bồi thường là một nhiệm vụ mới được luật và Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày
03/3/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định cụ thể và được giao cho Bộ Tư pháp,
Sở Tư pháp có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác bồi
thường. Do vậy , để hạn chế tình trạng sai trái xảy ra, nhà nước cần có chính sách quản
lý chặt chẽ các hoạt động của các công chức, cá nhân, cơ quan tiến hành tố tụng nói
chung và tố tụng dân sự và tố tụng hành chính nói riêng . Qua đó cần áp dụng mức bồi
thường phải gánh chịu tương xứng đối với cá nhân, cơ quan tiến hành tố tụng gây ra
hiện thiệt hại. Đồng thời cần quy định mức bồi thường tăng lên để đắp ứng thỏa đáng
phần nào thiệt hại mà người bị thiệt hại đã phải gánh chịu.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
10