Ngân sách nhà nước là một trong những công cụ quan trọng để thúc đẩy
hoạt động sản xuất, qua đó tạo điều kiện cho các chủ thể trong nền kinh tế có
một môi trường hoạt động thuận lợi. Theo đó, ngân sách nhà nước là toàn bộ
những khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quyết định và thực hiện trong một năm qua đó đảm bảo thực hiện các chức năng
và nhiệm vụ của nhà nước
Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa
phương. Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương. Ngân sách địa phương
bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy
ban Nhân dân.Trong vấn đề quản lý ngân sách nhà nước, quan hệ giữa các cấp
chính quyền trong việc phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân
sách là vấn đề rất phức tạp, làm sao vừa đảm bảo được tính tập trung thống nhất,
vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp chính quyền trong việc giải
quyết tốt các vấn đề kinh tế – xã hội, bảo đảm kỷ cương trong quản lý ngân sách
nhà nước theo pháp luật. Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi hợp lý có vai
trò vô cùng quan trọng trong việc sử dụng ngân sách nhà nước một cách hợp lý
nhất, vừa đảm bảo ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo trong nền tài chính
quốc gia, mặt khác đảm bảo cho ngân sách địa phương chủ động xử lý các vấn
đề trên địa bàn, vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng địa phương, tạo
điều kiện thuận lợi cho chính quyền các cấp hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Luật ngân sách nhà nước hiện tại dựa trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của
luật ngân sách nhà nước năm 2002 và cụ thể hóa tại nghị định 60/2003/NĐ-CP
ngày 6/6/2003
I. Khái niệm thu và khái niệm chi ngân sách địa phương.
1.1. Khái niệm thu và khái niệm chi ngân sách nhà nước.
a. Khái niệm thu ngân sách nhà nước.
Thu ngân sách nhà nước là huy động một bộ phận giá trị sản phẩm xã hội theo
quy định của pháp luật làm hình thành quỹ ngân sách nhà nước.
Các đặc điểm của hoạt động thu ngân sách nhà nước:
- Thu ngân sách nhà nước không thể được tiến hành một cách tùy tiện mà phải
Chi ngân sách nhà nước là phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước theo
dự toán ngân sách đã được chủ thể quyền lực quyết định nhằm duy trì sự hoạt
động của bộ máy nhà nước và bảo đảm thực hiện được các chức năng của mình.
Chi ngân sách nhà nước là hoạt động mang những đặc điểm chủ yếu sau:
- Chi ngân sách nhà nước chỉ được tiến hành trên cơ sở pháp luật và theo kế
hoạch chi ngân sách cũng như phân bổ ngân sách do cơ quan quyền lực nhà nước
quyết định.
2
- Chi ngân sách nhà nước nhằm vào mục tiêu thảo mãn nhu cầu về tài chính cho
sự vận hành của bộ máy nhà nước, bảo đảm cho Nhà nước thực hiện được các
chức năng, nhiệm vụ của mình.
- Chi ngân sách nhà nước là hoạt dộng được tiến hành bởi hai nhóm chủ thể:
nhóm chủ thể đại diện cho Nhà nước thực hiện việc quản lý, cấp phát, thanh toán
các khoản chi ngân sách nhà nước; nhóm chủ thể sử dụng ngân sách.
Chi ngân sách nhà nước gồm nhiều loại. Theo Điều 2 Luật ngân sách nhà nước
năm 2002, chi ngân sách nhà nước của ta gồm các khỏa chi phát triển kinh tế- xã
hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, an ninh bảo đảm hoạt động bộ máy nhà nước;
chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của
pháp luật.
1.2. Khái niệm thu và khái niệm chi ngân sách địa phương.
Phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi cho ngân sách địa phương là việc xác định
mỗi cấp ngân sách địa phương được tập trung những nguồn thu nào và mức độ
tập chung đến đâu; đồng thời đề ra nhiệm vụ chi cụ thể cho từng cấp ngân sách.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc phân phối nguồn thu, nhiệm vụ
chi ngân sách nhà nước ở địa phương là thẩm quyền của Hội đồng nhân dân tỉnh.
Ta có thể dễ dàng nhận thấy, việc phân định cụ thể nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ
thể của ngân sách địa phương là vô cùng cần thiết. Vì việc phân giao nguồn thu,
nhiệm vụ chi cụ thể cho từng địa phương trên địa bàn chín quyền địa phương
chống thất thu; hạn chế phân chia các nguồn thu có quy mô nhỏ cho nhiều cấp;
hạn chế sử dụng nhiều tỷ lệ phân chia khác nhau đối với từng khoản thu cũng
như giữa các đơn vị hành chính trên địa bàn.
Thứ hai, phải đảm bảo tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu cho ngân
sách cấp mình và ngân sách các cấp dưới không được vượt quá tỷ lệ phần trăm
(%) phân chia quy định của cấp trên về từng khoản thu được phân chia. Riêng
ngân sách xã, thị trấn và ngân sách thị xã, thành phố thuộc tỉnh được hưởng tỷ lệ
(%) phân chia tối thiểu về một số khoản thu theo quy định tại Khoản 1 Điều 34
Luật Ngân sách nhà nước.
Thứ ba, phải đảm bảo phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi theo đúng tiêu thức
phân cấp nguồn thu và phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính
quyền, nhằm phục vụ công tác quản lý, kiểm tra, theo dõi nguồn thu của các cấp
ngân sách.
Thứ tư, phải đảm bảo công bằng, công khai, minh bạch và phát triển cân đối
nguồn ngân sách giữa các khu vực trên địa bàn để chủ động thực hiện nhiệm vụ
được giao, đồng thời đảm bảo tập trung điều hành ngân sách các cấp trong phạm
vi địa phương.
2. Thẩm quyền quyết định phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp
ngân sách.
4
Luật ngân sách nhà nước năm 2002 đã đề cao trách nhiệm và quyền hạn của
chính quyền nhà nước cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong công tác
quản lý, điều hành ngân sách các cấp ở địa phương. Quyền hạn của chính quyền
nhà nước cấp tỉnh tương xứng với vai trò quan trọng của tỉnh trong tổ chức và
điều hành ngân sách trên địa bàn tỉnh.
Căn cứ theo quy định tại Điều 34 Luật ngân sách nhà nước 2002 thì việc phân
cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương do
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, thời gian thực hiện phân cấp này phải
được chia thành bốn nhóm lớn: ngoài hai nhóm thu tương tự như cấp ngân sách
trung ương (những nguồn thu được tập trung toàn bộ vào ngân sách địa phương
và những nguồn thu theo tỉ lệ phần trăm), địa phương còn được thu bổ sung từ
ngân sách cấp trên và thu từ huy đọng vốn của các tổ chức, cá nhân. Theo quy
định tại Điều 32 Luật ngân sách nhà nước 2002 thì các khoản thu của ngân sách
địa phương gồm:
Thứ nhất, các khoản thu mà ngân sách địa phương được hưởng toàn bộ gồm: các
loại thuế như thuế nhà đất, thuế tài nguyên (không kể thuế tài nguyên thu từ dầu
khí, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp;thuế môn bài;
lệ phí trước bạ, các khoản phí, lệ phsi thu từ hoạt động sự nghiệp, thu từ hoạt
động xổ số kiến thiết, thu hồi vốn của ngân sách địa phương tại các tổ chức kinh
tế, thu từ quỹ dự trữ tài chính của địa phương, thu nhập từ vốn góp của địa
phương;thu từ quỹ đất công tích và thu hoa lợi công sản khác; thu từ viện trợ
không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước
ngoài trực tiếp cho địa phương; đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở
trong và ngoài nước; thu kết dư ngân sách địa phương và các khoản thu khác
theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, các khoản thu phân chia theo tỉ lệ phần trăm giữa ngân sách trung ương
và ngân sách địa phương. Những khoản thu này cũng giống các khoản thu mà
trung ương được tập trung theo tỉ lệ phần trăm vào ngân sách cấp mình nhưng lại
khác nhau về tỉ lệ thu.
Thứ ba, các khoản thu bổ sung từ ngân sách trung ương, gồm: các khoản thu bổ
sung để cân đối thu, chi ngân sách địa phương và các khoản thu bổ sung có mục
tiêu giúp địa phưng thực hiện những nhiệm vụ mà pháp luật quy định.
Thứ
tư, các khoản thu từ huy đọng vốn của các tổ chức, cá nhân để đáp ứng nhu cầu
đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi cấp tỉnh đảm
nhiệm nhưng ngân sách cấp tỉnh không đủ kinh phí để thực hiện.
Hiện nay, cơ cấu chi NS đã được cải thiện đáng kể đảm bảo ưu tiên cho chi đầu
tư phát triển, bố trí NS đảm bảo yêu cầu về phát triển giáo dục đào tạo, chữa
Như vậy, việc phân giao cụ thể nguồn thu và nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân
sách huyện và xã do Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định – hội đồng nhân dân tỉnh
có quyền chủ động phân phối thu, chi cho ngân sách cấp dưới trên cơ sở căn cứ
vào tình hình cụ thể của từng địa phương mình quản lí và phải quán triệt các
nguyên tắc pháp lý nhất định.
Điều 34 Luật ngân sách nhà nước năm 2002 đề ra bốn nguyên tắc pháp lý định
hướng quyết định phân phối thu, chi của hội đồng nhân dân tỉnh.
Thứ nhất, việc phân bổ nguồn thu và nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách địa
phương phải phù hợp với phân cấp nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an
ninh và phù hợp với đặc điểm của từng vùng cũng như đối với trình độ quản lý
của từng địa phương (khoản 3 Điều 34 Luật ngân sách nhà nước năm 2002).
7
Thật vậy, trình độ kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh của mỗi vùng là khác
nhau cũng như trình độ quản lý của từng địa phương là khác nhau. Có địa
phương mạnh về lĩnh vực kinh tế – xã hội này, có địa phương mạnh về lĩnh vực
kinh tế – xã hội khác và quốc phòng, an ninh cũng vậy, hay nói cách khác, tùy
thuộc vào điều kiện của từng địa phương, cấp địa phương mà việc phân bổ
nguồn thu, nhiệm vu chi cũng có sự khác nhau và phải dựa vào đó để thực hiện.
Đây chính là yếu tố thể hiện vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương ở việc
điều hòa vốn cho các địa phương giúp cho ngân sách địa phương hoàn thành các
mục tiêu kinh tế- xã hội của mình đồng thời hỗ trợ vốn cho các địa phương miền
núi, vùng dân tộc và thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, xóa đói, giảm
nghèo, thực hiện chế độ đối với gia đình chính sách, người có công, cán bộ hưu
trí.
Thứ hai, việc phân bổ nguồn thu và nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách cấp xã
phải thỏa mãn tỷ lệ tối thiểu mà pháp luật quy định.
Điều này thể hiện, việc phân giao nguồn thu cho địa phương là việc làm cần
thiết. Chỉ khi được phân định nguồn thu cụ thể, địa phương mới có thể chủ động
đó là tất yếu.
Mặt khác, thể hiện được giá trị và vai trò to lớn của cấp trung ương trong việc
quản lý cũng như hướng dẫn chỉ đạo thực hiện ở cấp địa phương. Nhằm giúp cấp
trung ương nhìn nhận mọi việc “qua con mắt của mình” và cấp địa phương “thực
hiện, thi hành” đúng, tuân thủ cấp trên và tránh được tình trạng thất thoát, thiếu
hụt hay nhầm lẫn trong ngân sách nhà nước.
Các khoản thu mà ngân sách địa phương được hưởng toàn bộ gồm các loại thuế
và các khoản tiền thu có liên quand đến đất và tài nguyên; thuế môn bài, lệ phí
trước bạ, các khoản phí, lệ phí và thu từ hoạt động sự nghiệp; thu từ hoạt động
xổ số kiến thiết, thu hội vốn của ngân sách địa phương, thu từ viện trợ, đóng góp
tự nguyện, từ huy động của các tổ chức, cá nhân; thu kết quả dư ngân sách và
các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Các khoản thu phân chia theo tỷ
lệ phần trăm giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Những khoản
thu này cũng giống như những khoản thu mà trung ương tập trung theo tỷ lệ
phần trăm vào ngân sách cấp mình nhưng khác tỷ lệ thu. Các khoản thu bổ sung
từ ngân sách trung ương và các khoản thu từ huy động vốn của các tổ chức cá
nhân để đáp ứng nhu cầu xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi
cấp tỉnh đảm nhiệm ngân sách để thi công công trình.
Khác với khoản thu cấp trung ương, nguồn thu của ngân sách địa phương được
chia thành bốn nhóm lớn như đã nêu ở trên còn ở cấp trung ương chỉ có hai
nhóm lớn đó là các khoản thu được tập trung toàn bộ vào ngân sách địa phương
và nhưng nguồn thu theo tỷ lệ phần trăm.
Cũng chính vì lẽ đó mà cấp địa phương phải căn cứ vào tỷ lệ phần trăm phân
chia các khoản thu do Thủ tướng Chính phủ giao và nguồn thu ngân sách được
hưởng toàn bộ.
9
Thứ tư, khi phân giao nhiệm vụ chi cho ngân sách cấp thị xã, thành phố thuộc
thu, nhiệm vụ chi ngân sách của chính quyền địa phương ổn định và triệt để sẽ
tạo tính chủ động cao trong bố trí kế hoạch và hoạt động điều hành của mỗi cấp
10
chính quyền, khuyến khích địa phương tăng thu, hạn chế tư tưởng trông chờ, ỷ
lại vào nguồn thu của ngân sách cấp trên. Hiện nay, phân cấp quản lý ngân sách
giữa các cấp chính quyền phải đảm bảo tính tập trung, thống nhất nhưng bên
cạnh đó cũng phải phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp ngân sách, bảo
đảm ổn định nguồn thu và nhiệm vụ chi lâu dài. Muốn vậy cần có các qui định
sự phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi linh hoạt hơn, rộng hơn cho các cấp chính
quyền địa phương, đặc biệt là chính quyền cấp xã. Do mỗi địa phương lại có
những đặc điểm kinh tế – xã hội khác biệt, có sự chênh lệch lớn về nguồn thu,
nhiệm vụ chi, khả năng quản lý các nguồn thu. Vì vậy, luật ngân sách nhà nước
cần qui định rõ hơn các nguyên tắc về phân cấp ngân sách, tạo điều kiện cho Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện phân bổ ngân sách sao cho phù hợp với đặc thù
của từng địa phương mình quản lí.
Bên cạnh đó, các cấp ngân sách đều có nguồn thu 100% nhưng khoản thu chiếm
tỷ trọng lớn hơn cả lại thuộc về ngân sách trung ương như nguồn thu từ thuế
VAT hàng nhập khẩu, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt
hàng hoá nhập khẩu. Điều này dẫn đến tình trạng không khuyến khích địa
phương chủ động khai thác và phát triển các nguồn thu từ những hoạt động trên
tại địa bàn của mình. Ngoài ra, cách phân chia nguồn thu hiện chủ yếu dựa vào
tính chất, mức độ khoản thu mà chưa quan tâm tới đối tượng quản lý thu, dẫn
đến các khoản thu nhỏ, khó quản lý thuộc ngân sách cấp dưới lại được phân về
cho ngân sách cấp trên, làm hạn chế nỗ lực của cơ quan thu thuế cũng như chính
quyền cấp xã trong việc khai thác nguồn thu trên (ví dụ đối với thuế tiêu thụ đặc
biệt). Do vậy ở đây, nên trao cho
Thứ hai, pháp luật cần qui định cụ thể phương thức bổ sung từ ngân sách cấp
trên cho ngân sách cấp dưới theo nguyên tắc nhiệm vụ chi thuộc địa phương nào
được nhà nước hứa cấp sẽ bị huỷ bỏ, dẫn đến một thực tế là các đơn vị sử dụng
ngân sách cố tình hợp thức hoá hay chi tiêu “chạy kinh phí” mà bỏ qua sự cần
thiết và hiệu quả của các khoản kinh phí đó. Hơn nữa, đối với các dự án đầu tư
kéo dài nhiều năm thì ngân sách thường niên không ăn nhập, vì vậy nhiều dự án
đầu tư không thực hiện hiệu quả, bị đứt quãng giữa chừng do bị gián đoạn về tài
chính. Các dự án lớn do giải ngân chậm nên bị kéo dài và dẫn tới chi phí tốn kém
gấp nhiều lần so với dự toán ban đầu. Một kế hoạch thu chi ngân sách trung hạn
nhưng vẫn dự liệu một cách chi tiết, rõ ràng, đầy đủ cho từng năm sẽ hiệu quả
hơn so với kế hoạch ngân sách thường niên như hiện nay.
Thứ năm, cần sớm thực hiện việc sửa đổi, hoàn thiện Luật ngân sách nhà nước
trong đó chú trọng phân cấp mạnh và có cơ chế ràng buộc trách nhiệm đối với
các cấp ngân sách địa phương trong đầu tư xây dựng cơ bản. N ếu chỉ chú ý mở
rộng thẩm qu ền phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi cho các chính quyền địa
phương mà không chú ý tới trách nhiệm của các cấp chính quyền sẽ rất dễ dẫn
đến tính trạng phân phối ngân sách một cách vô tổ chức, dẫn tới sử dụng ngân
sách không đạt hiệu quả , gây thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước. Hiện nay
tình trạng “địa phương quyết định dự án đầu tư, trung ương lo vốn” vẫn còn
thường xuyên xảy ra đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện thu, chi
ngân sách ở địa phương, làm giảm tính linh hoạt trong hoạt động của bộ máy
chính quyền địa phương trong việc thu chi ngân sách. Vì vậy, cần xây dựng cơ
chế rằng buộc trách nhiệm đối với các cấp ngân sách địa phương, giúp các cấp
12
chính quyền tự giác hơn trong hoạt động phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chia
ngân sách nhà nước ở địa phương mình.
Ngoài ra, để việc sử dụng ngân sách địa phương sao cho có hiệu quả nhất thì
ngoài việc phân định nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách một cách
rõ ràng thì vấn đề thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong quản lý, điều
KẾT LUẬN
13
Việc hoàn thiện pháp luật về phân phối nguồn thu, nhiệm vụ cho ngân
sách địa phương là vấn đề khá quan trọng nhằm phát huy vai trò của chính quyền
địa phương trong hoạt động ngân sách, góp phần xây dựng nền tài chính công
theo hướng hiện đại và phù hợp với thông lệ quốc tế. Pháp luật về phân phối
nguồn thu, nhiệm vụ chi cho ngân sách địa phương cần phải đảm bảo tính công
khai, minh bạch, đồng bộ, đồng thời nâng cao khả năng giám sát của Quốc hội,
Hội đồng nhân dân, khả năng quản lý của Chính phủ, bảo đảm sự phối hợp chặt
chẽ giữa cơ quan quản lý ngành và địa phương trong việc thực hiện NSNN.
14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
Trường Đại học Luật Hà Nội, “Giáo trình Luật ngân sách nhà nước”,
Nxb. CAND, Hà Nội, 2008.
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, “Giáo trình Luật Tài chính”, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2005.
Luật ngân sách nhà nước 2002.
Nghị định 60/2003 /NĐ – CP ngày 6/6/2003 quy định chi tiết số điều của