MỤCLỤC
A.MỞ ĐẦU2
B.NỘI DUNG2
I.MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI
1, Khái niệm dư luận xã
hội………………………………………………………………..2
2, Khái niệm ý thức pháp luật……………………………………........3
II.MỐI QUAN HỆ GIỮA DƯ LUẬN XÃ HỘI VÀ Ý THỨC PHÁP LUẬT4
1.Sự tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật…………..4
1.1 Dư luận xã hội tác động đến ý thức pháp luật cá nhân…………..4
1.2 Dư luận xã hội tác động đến ý thức pháp luật của nhóm xã hội…..5
1.3 Dư luận xã hội tác động đến ý thức pháp luật xã hội……………..6.
2,Sự tác động của ý thức pháp luật đối với dư luận xã hội…………..8
C.KẾT LUẬN12
1
A MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, dư luận xã hội và ý thứ pháp luật luôn có mối quan hệ chặt
chẽ ,ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau.Như Ph.Ănggen đã từng viết:”sự phát
triển của chính trị ,pháp luật ,triết học ,tôn giáo,văn học nghệ thuật vv.đều dựa trên
cơ sở sự phát triển kinh tế.Nhưng tất cả chúng cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh
hưởng đến cơ sở kinh tế”(1).Luận điểm này chính là cơ sở để chung ta xem xét
mối quan hệ biện chứng giữa dư luận xã hội và ý thức pháp luật . Và việc tìm hiểu
rõ về mối quan hệ giữa chúng chính là biện pháp để nâng cao ý thức chấp hành
pháp luật trong cộng đồng xã hội. Chính vì lý do đó em xin thực hiện bài luận với
đề tài : ”Phân tích mối quan hệ giữa dư luận xã hội và ý thức pháp luật.”
hiện trong các nhận định hoặc hành động thực tiễn của họ”(4).
2 . Khái niệm ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là sản phẩm của quá trình phát triển cuả xã hội chịu sự ảnh hưởng
sâu sắc của hệ tư tưởng , quan điểm và quan niệm trong xã hội.Xung quanh khái
niệm ý thức pháp luật còn có những quan niệm ,cách hiểu khác nhau.Theo quan
niệm thông thường thì ý thức pháp luật được hiểu một cách đơn giản,gắn liền với
một trong những biểu hiện cụ thể cuả nó,như , ý thức chấp hành pháp luật của một
cá nhân hay tập thể nào đó ,phản ứng của con người trước một sự kiện pháp lý,thái
độ của người dân đối với một văn bản pháp quy.Dưới góc độ luật học, có nhiều
quan niệm về ý thức pháp luật đã được nêu ra.Chẳng
CHÚ GIẢI:
(1) ,(2) (3) (4) : TS. Ngọ Văn Nhân :Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức
pháp luật của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, Nxb.Chính trị quốc gia Hà Nội, 2011,
tr.19-20.
3
hạn : “Ý thức pháp luật là một dạng cụ thể của hệ thống ý thức xã hội ,nó phản
ánh những quy luật khách quan ,nó tác động đến mọi lĩnh vực hoạt động và đời
sống xã hội “ (1). Hay là một quan niệm khác cho rằng: “ý thức pháp luật –đó là
trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhân dân về pháp luật… , là thái độ đối với pháp
luật ,ý thức tôn trọng hay coi thường pháp luật ,đó là thái độ đối với hành vi vi
phạm pháp luật và phạm tội” (2) .Tuy nhiên ta có thẻ thể thấy một quan niệm đầy
đủ và chi tiết về ý thức pháp luật đó là: “Ý thức pháp luật là tổng thể những học
thuyết ,tư tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội ,thể hiện mối quan
hệ của con người đối với pháp luật hiện hành ,pháp luật đã qua và pháp luật cần
phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi
xử sự của con người , cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà
nước và các tổ chức xã hội” (3).
Dư luận xã hội hướng cho các cá nhân theo gương người tốt việc tốt trong lĩnh vực
chấp hành pháp luật.
Ngoài ra , thông qua dư luận xã hội , các cá nhân tự đánh giá về hành vi của mình
trong phạm vi điiều chỉnh của các quy phạm pháp luật hiện hành . Dư luận xã hội
là “ chuẩn mực “ , là “ tấm gương “ để mỗi cá nhân tự soi mình vào đó mà định
hướng điều chỉnh hành vi cuả mình. Bởi sức mạnh đặc trưng của dư luận xã hội
luôn khiến cho các cá nhân phải suy nghĩ xem xét trước khi thực hiện một hành vi
pháp luật nào đó : hành vi đó là đúng hay sai, phù hợp hay không phù hợp với pháp
luật ? Nếu thực hiện hành vi đó thì có bị dư luận xã hội lên án hay không? Điều đó
cho thấy dư luận xã hội có tác động quan trọng tới cách thức mà mỗi cá nhân tự
đánh giá hành vi ứng xử của mình .
1.2 , Dư luận xã hội tác động đến ý thức pháp luật của nhóm xã hội.
Ý thức pháp luật của nhóm xã hội hình thành , phát triển và được thể hiện ra trên
nhận thức , quan điểm , thái độ , lập trường , tình cảm đối với pháp luật và các hiện
tượng pháp luật của tập hợp người có nét tương đồng và điều kiện sống , lao động ,
sinh hoạt , lợi ích cơ bản . Các thành viên của nhóm xã hội có những tình cảm ,
nhận thức , thái độ tương đối giống nhau về pháp luật tạo lên ý thức pháp luật
chung. Dư luận xã hội với tư cách là ý chí chung của các nhóm xã hội và cộng
đồng xã hội có tác động rất quan trọng đối với ý thức pháp luật của nhóm xã hội .
Dưới tác động của các luồng thông tin về các sự kiện , hiện tượng pháp luật xảy ra
trong xã hội , các thành viên của nhóm xã hội sẽ cùng được lôi cuốn vào quá trình
bày tỏ sự quan tâm của mình thông qua các hoạt động trao đổi bàn bạc, tìm kiếm
thông tin, chia sẻ ý kiến với mọi người xung quanh . Cơ sở cho quá trình thảo luận
của nhóm xã hội là lợi ích chumg của cả nhóm và hệ thống các quy phạm pháp luật
5
hiện hành đang chi phối các khuôn mẫu tư duy và khuôn mẫu hành động của các
thành viên trong nhóm. Qua đó, nhóm xã hội cùng đi tới thái độ , tình cảm chung
trước các sự kiện , hiện tượng pháp luật. Sự va chạm , cọ xát các ý kiến , quan
6
bản chất và các hiện tượng pháp luật . Như vậy , sự tác động của dư luận xã hội đối
với ý thức pháp luật xã hội còn thể hiện ở chỗ , dư luận xã hội tham gia vào việc
phổ biến , lan truyền các tư tưởng , quan điểm pháp luật tiến bộ nhận văn trong các
tầng lớp xã hội .
Dư luận xã hội cũng bảo vệ các quyền lợi , các giá trị phổ biến của xã hội cũng như
các giá trị , lợi ích cá nhân chính đáng của con người. Mỗi khi lợi ích , giá trị xã
hội bị xâm hại thì dư luận xã hội lập tức lên án , phản đối gay gắt .Ví dụ như những
vụ án hình sự đặc biệt nghiêm trọng , xâm hại an ninh quốc gia...thường khiến cho
dư luận xã hội lên án gay gắt đòi trừng phạt nghiêm khắc những kẻ phạm tội như
vụ án hình sự đặc biệt nghiêm trọng của Lê Văn Luyện về tội giết người vừa qua.
Trong trường hợp này dư luận xã hội đã phù hợp với ý thức pháp luật xã hội tiến
bộ , đáp ứng được lợi ích, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhận dân . Điều
đó cho thấy dư luận xã hội có tác dụng củng cố, bảo vệ tính dân chủ , tính khoa học
và tính xã hội của ý thức pháp luật xã hội.
Dư luận xã hội cũng là sản phẩm của quá trình giao tiếp xã hội. Và chính trong quá
trình giao tiếp đó mà ý thức pháp luật được hình thành và phát triển; những tư
tưởng, quan điểm khoa học về pháp luật và những vấn đề cơ bản nhất của đời sống
pháp luật được thừa nhận và thịnh hành trong xã hội . Sự bàn bạc, thảo luận tìm ra
những quan điểm chung giữa các nhóm xã hội khác nhau là một trong những nhân
tố đảm bảo cho ý thức pháp luật xã hội mang tính khái quát ở trình độ cao và tính
hệ thống chặt chẽ.
Như vậy , dưới những ảnh hưởng nhất định của dư luận xã hội những tư tưởng ,
quan điểm khoa học về pháp luật và những vấn đề cơ bản nhất của đời sống pháp
luật từng bước được thẩm thấu vào trong nhận thức pháp luật của mỗi người , được
khái quát ở trình độ cao và mang tính hệ thống chặt chẽ; trở thành giá trị , chuẩn
mực chung cho toàn xã hội . Điều đó nói lên sự tác động rất quan trọng của dư luận
xã hội đến ý thức pháp luật.
(1) Nguyễn Minh Đoan:Cần đẩy mạnh nghiên cứu dư luận phục vụ các hoạt động
pháp luật ,Tạp chí Luật học , Số 6 -2004,Hà Nội , tr.33
8
pháp luật xã hội ở trình độ cao,ý thức của bộ phân tiên tiến,đại diện cho xã hội
,được chính thức hóa trong toàn xã hội. Chỉ có dựa trên ý thức pháp luật ở trình độ
cao,dư luận xã hội về các vấn đề pháp luật mới có thể phản ánh chân thực ,khách
quan bản chất các sự kiện hiện tượng pháp lý diễn ra trong xã hội .
Ngược lại , nếu ý thức pháp luật ở trình độ thấp thì tình cảm, thái độ trước các vấn
đề pháp luật không rõ ràng ,niềm tin đối với pháp luật có thể mù quáng ;khi đó sẽ
dễ dẫn đến dư luạn xã hội phản ánh sai sự thật ,phát sinh tin đồn thất thiệt.
Như vậy ý thức pháp luật đã có sự tác động trở lại rất quan trọng đến dư luận xã
hội. Nó là cơ sở , tiền đề cho sự hìnhthành thái độ tình cảm ,niềm tin đối với pháp
luật của công chúng-điều kiện tiên quyết cho sự hình thành và phát triểncủa dư
luận xã hội về các vấn đề pháp luật.
Thứ hai, ý thức pháp luật cung cấp ,bổ sung những tri thức , hiểu biết pháp luật
cho cá nhân , nhóm xã hội ; từ đó , tạo ra “ khuôn mẫu tư duy “ cho sự phán xét
đánh giá của dư luận xã hội về các sự kiện , hiện tượng pháp lý diễn ra trong xã
hội .
Dư luận xã hội là sự phản ánh , phán xét , đánh giá của công chúng trước các sự
kiện , hiện tượng diễn ra trong thực tế xã hội.Sự phán sét , đánh giá của dư luận xã
hội bao giờ cũng phải dựa trên các “ khuôn mẫu tư duy “ nhất định. Khuôn mẫu tư
duy giúp con người nhanh chóng nắm băt tình huống , không phải tiêu tốn nhiều
trí lực cho việc tìm hiểu bối cảnh . “ Chỉ có các khái quát , phán xét , suy lý phổ
biến trong xã hội mới có thể trở thành khuôn mẫu tư duy xã hội . Dư luận xã hội là
phương thức tồn tại của khuôn mẫu tư duy xã hội . Để chủ động hình thành dư luận
xã hội trước hết phải hình thành các khuôn mẫu tư duy xã hội“ (1).
Khi các tình huống diễn ra trong đời sống xã hội là những sự kiện , hiện tượng
công chúng muốn có sẽ tự khắc nảy sinh và lan truyền khi gặp các sự kiện , hiện
tượng pháp lý tương ứng. Chẳng hạn , các khuôn mẫu tư duy như “ Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân , do nhân dân , vì
nhân dân “ , “ mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật “ , “ Công dân có quyền
tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật “ , “ Công dân có nghĩa vụ tuân theo
Hiến pháp và pháp luật “ (1)... , là những quy định ngắn gọn , dễ hiểu trong Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 ( sửa đổi bổ sung năm
2001) . Những khuôn mẫu tư duy này được các cá nhân tiếp nhận , tích
10
lũy từ các kênh thông tin khác nhau , trở thành tri thức pháp luật và thường trực
trong ý thức pháp luật của họ . Sự tồn tại của những khuôn mẫu tư duy trên đây là
hết sức cần thiết , là nền tảng cho phán xét , đánh giá của dư luận xã hội về các
hiện tượng pháp lý diễn ra trong thực tiễn xã hội .
Thứ ba , ý thức pháp luật xã hội là nhân tố định hướng hành vi pháp lực hợp pháp
cho các chủ thể của dư luận xã hội .
Chủ thể của dư luận xã hội chính là các cộng đồng người mang dư luận xã hội bao
gồm các nhóm xã hội , các tập thể , các giai cấp , tầng lớp xã hội . Không có dư
luận xã hội của cá nhân đơn lẻ. Chính vì vậy dư luận xã hội được coi là biểu hiện
của hành vi tập thể thể hiện quan điểm, ý chí chung của nhiều người.
Khác với ý thức pháp luật của cá nhân và ý thức pháp luật của nhóm , ý thức
pháp luật xã hội mang tính khái quát ở trình độ cao và tính hệ thống chặt chẽ . Hệ
thống quan điểm , tư tưởng của ý thức pháp luật xã hội giữ vai trò quyết định đối
với tính đúng đắn , khoa học trong nội dung phán xét , đánh giá của dư luận xã hội
về các vấn đề pháp luật ; từ đó , ý thức pháp luật xã hội là nhân tố định hướng hành
vi pháp luật hợp pháp cho các chủ thể của dư luận xã hội .
Pháp luật là một hiện tượng khác quan , nhưng sự ra đời , hình thành và phát
đúng đắn các vụ việc trên cơ sở vận dụng các quy định mà pháp luật cho phép .
C. KẾT LUẬN .
Như vậy , dư luận xã hội và ý thức pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ , tác động
qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau . Dư luận xã hội là cơ sở để nâng cao ý thức pháp
luật trong cộng đồng xã hội . Ngược lại , ý thức pháp luật lại là tiền đề để tạo ra dư
luận xã hội về các vấn đề pháp luật và là “ khuôn mẫu tư duy “ cho sự phán xét ,
đánh giá của dư luận xã hội về các sự kiện , hiện tượng pháp lý diễn ra trong xã hội
. Ngoài ra ý thức pháp luật còn là nhân tố định hướng hành vi pháp luật hợp pháp
cho các chủ thể của dư luận xã hội . Việc nắm rõ mối quan hệ giữa dư luận xã hội
và ý thức pháp luật sẽ là điều kiện để nhà nước nhà nước và nhân dân ta tổ chức
thực hiện pháp luật một cách hiệu quả .
12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. TS. Ngọ Văn Nhân : Xã hội học pháp luật , Nxb Hồng Đức , Hà Nội –
2012
2. TS.Ngọ Văn Nhân : Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp
luật của đội ngũ cán bộ cấp cơ sở , NXB . Chính trị quốc gia Hà Nội
-2011
3. Trường Đại học Luật Hà Nội : Giáo trình lý luận nhà nước và pháp
luật NXB Công an nhân dân Hà Nội – 2011
4 . Nguyễn Minh Đoan : Cần đẩy mạnh nghiên cứu dư luận phục vụ các
hoạt động pháp luật , Tạp chí Luật học , Số 6 - 2004
5 .C.Mác và Ph. Ăngghen:Toàn tập ,Nxb.Chính trị quốc gia Hà Nội ,
1999