Sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn phường anh dũng, quận dương kinh, thành phố hải phòng - Pdf 34

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là
trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ
nguồn gốc.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Hiệp

1

1


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của
bản thân, tôi đã nhận rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ của các cá nhân,
tập thể trong và ngoài Học viện
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Học viện Nông
nghiệp Việt Nam, toàn thể các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn;
các thầy, cô trong Bộ môn Phát triển nông thôn đã truyền đạt cho tôi những kiến
thức cơ bản và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo ThS. Nguyễn
Thị Tuyết Lan - giảng viên bộ môn Phát triển nông thôn đã trực tiếp hướng
dẫn, dành nhiều thời gian, tâm huyết chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời
gian thực hiện đề tài.
Qua đây tôi cũng xin cảm ơn chân thành đến toàn thể cán bộ tại UBND
Phường Anh Dũng đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện báo cáo.

với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên, khi thực hiện CNHĐTH thì hoạt động sinh kế của hộ nông dân gặp nhiều khó khăn trong việc
chuyển đổi nghề mới. Do trình độ dân trí thấp, thu nhập chính của hộ sản xuất
nông nghiệp, lao động (LĐ) có độ tuổi cao đây chính là những hạn chế, khó
khăn khiến người dân khó tìm được kế mưu sinh phù hợp với nhu cầu. Để
giúp các hộ nông dân mất đất trong cả nước nói chung và hộ nông dân
phường Phường Anh Dũng nói riêng giảm bớt khó khăn, yên tâm sản xuất,
Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách qua từng thời kỳ. Nhưng trên thực tế,
việc triển khai còn nhiều bất cập, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn. Từ
đó tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “ Sinh kế của người dân sau khi bị thu
hồi đất nông nghiệp trên địa bàn Phường Anh Dũng, Quận Dương Kinh,
thành phố Hải Phòng”
Mục đích của đề tài là trên cơ sở kết quả nghiên cứu sinh kế của người
dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn phường Anh Dũng, từ đó
3

3


đề xuất ra một số giải pháp nhằm ổn định sinh kế, nâng cao thu nhập và đời
sống cho các hộ dân trên địa bàn Phường Anh Dũng. Đề tài đã tiếp cận vấn đề
theo khung sinh kế bền vững của DFID, sử dụng chọn điểm, chọn mẫu nghiên
cứu, phương pháp thu thập số liệu, xử lý, phân tích thông tin và sử dụng các
chỉ tiêu đo lường kinh tế, xã hội, môi trường để nghiên cứu. Qua quá trình
nghiên cứu đạt được kết quả như sau:


Về sự thay đổi sinh kế của hộ nông dân
Sự thay đổi nguồn lực sinh kế đặc biệt là nguồn lực tự nhiên. Cụ thể,

đối với những hộ nông dân bị mất đất. Diện tích đất nông nghiệp bình quân

Về định hướng giải pháp và kiến nghị
Từ thực trạng sự thay đổi sinh kế của hộ nông dân trong các TDP và

những thuận lợi khó khăn còn tồn tại, cùng với những vấn đề phát sinh đề tài
đã đưa ra định hướng chuyển đổi sang mô hình sinh tế mới mang tính bền
vững: phát triển đa dạng hóa các ngành nghề ở địa phương, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH.
Để cải thiện sinh kế cho hộ, đề tài đã đề ra một số giải pháp. Trong đó
tập trung vào 5 nguồn lực sinh kế và giải pháp cho từng nhóm hộ có mức độ
mất đất khác nhau.
Đề tài đưa ra những kiến nghị đối với cơ quan nhà nước, các doanh
nghiệp, các hộ dân nhằm thúc đẩy tiến trình cải thiện sinh kế trong thời gian tới.
Tóm lại, đề tài đã đưa ra được một số biện pháp tháo gỡ khó khăn cho
hộ nông dân. Tuy nhiên những giải pháp này có hiệu quả hay không còn tùy
thuộc vào nhiều yếu tố, không chỉ bản thân hộ nông dân mà cần phải có sự hỗ
trợ của các cơ quan chức năng.

5

5


MỤC LỤC

6

6


DANH MỤC BẢNG

CN

: Công nghiệp

CNH-ĐTH

: Công nghiệp hóa- đô thị hóa

DT

: Diện tích

HCSN

: Hành chính sự nghiệp

HĐH

: Hiện đại hóa

KCN

: Khu công nghiệp

8


9




9


PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.

Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với xu thế đô thị hóa chung của cả nước, Hải Phòng - một trong

năm đô thị lớn nhất cả nước, trực thuộc trung ương, đang có những thay đổi
mạnh mẽ về kinh tế - xã hội và các lĩnh vực khác. Với tốc độ tăng trưởng
hàng năm cao và có xu hướng tăng liên tục trong nhiều năm, đô thị Hải
Phòng có tốc độ đô thị hóa vào loại cao trong cả nước. Do nằm trong tam
giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh nên trong những năm qua
thành phố đã thu hút được rất nhiều vốn đầu tư nước ngoài tạo điều kiện đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, đặc biệt đẩy mạnh quá trình
hiện đại hóa, đô thị hóa nông thôn. Theo số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư
thành phố Hải Phòng, tính hết ngày 01/12/2014, trên địa bàn thành phố có
409 dự án đầu tư nước ngoài đến từ 28 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng
vốn đầu tư đăng ký là 9.928,4 triệu USD. Hiện nay, ở Hải Phòng các khu
công nghiệp, khu đô thị, công trình công cộng mọc lên ngày càng nhiều. Tốc
độ tăng trưởng công nghiệp và giá trị thu từ sản xuất công nghiệp không
ngừng tăng lên qua các năm.
Anh Dũng là phường thuộc quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
Đây là phường chịu ảnh hưởng mạnh của quá trình xây dựng các khu công
nghiệp, khu đô thị trong những năm qua. Trước đây người dân đa số sản xuất
nông nghiệp, cuộc sống gắn liền với ruộng đất, thu nhập chủ yếu dựa vào cây
trồng, vật nuôi. Nhưng hiện nay do sự thay đổi và hội nhập, các khu đô thị

họ những gì, sẽ tốt hơn trước hay không được như trước? Đây là những câu
hỏi được đặt ra cho địa phương để định hướng phát triển cho thời gian sau tới.
Xuất phát từ thực tế đó tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Sinh kế của
người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn Phường Anh
Dũng, Quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng”
1.2.

11

Mục tiêu nghiên cứu
11


1.2.1.

Mục tiêu chung
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi

đất nông nghiệp trên địa bàn phường Anh Dũng, từ đó đề xuất ra một số giải
pháp nhằm ổn định sinh kế, nâng cao thu nhập và đời sống cho các hộ dân
trên địa bàn Phường Anh Dũng.

-

Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến sinh kế của người dân
Phản ánh thực trạng sinh kế và những thay đổi đến sinh kế của người dân sau

-


1.3.2.3.
-

tháng đầu năm 2015

PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1. Cơ sở lý luận

12

12


2.1.1. Các lý luận về sinh kế
2.1.1.1. Khái niệm về sinh kế
Ý tưởng sinh kế được đề cập trong các tác phẩm nghiên cứu của Robert
Chamber những năm 1980. Về sau khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong
các nghiên cứu của F. Ellis, Barrett và Reardon, Morrison, Dorward... Có
nhiều cách tiếp cận khác nhau và định nghĩa khác nhau về sinh kế, tuy nhiên
có sự nhất trí rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến
hoạt động sống của mỗi cá nhân hay hộ gia đình. Về căn bản, các hoạt động
sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực và khả
năng của họ, đồng thời chịu tác động của các thể chế chính sách và những
quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng.
Trong nhiều nghiên cứu của các tác giả, tổ chức đã đưa ra các khái
niệm khác nhau về sinh kế và được chấp nhận. Một số như:
Theo Chambers and Conway (1991): “Sinh kế bao gồm năng lực, tài
sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần có để bảo

hay cộng đồng đó. Sinh kế được tạo nên bởi sự tương tác giữa những hoạt
động của cộng đồng, các quyền lợi, những công cụ đương đầu với tính dễ bị
tổn thương và những biện pháp thích hợp chống lại khủng hoảng dựa trên
nguồn lực của cộng đồng.
Phương pháp tiếp cận sinh kế có mục đích giúp người dân đạt được
thành quả lâu dài trong sinh kế mà những kết quả đó được đo bằng các chỉ số
do bản thân họ tự xác lập và vì thế họ sẽ không bị đặt ra bên ngoài. Điều đó
thể hiện tính chất lấy người dân làm trung tâm. Phương pháp này thừa nhận
người dân có những quyền nhất định, cũng như trách nhiệm giữa họ với nhau
và xã hội nói chung.
Phương pháp tiếp cận sinh kế được sử dụng để xác định, thiết kế và
đánh giá các chương trình, dự án mới, sử dụng cho đánh giá lại các hoạt động
hiện có, sử dụng để cung cấp thông tin cho việc hoạch định chiến lược và sử
dụng cho nghiên cứu. Một trong những điểm nổi trội của tiếp cận sinh kế là
khả năng linh hoạt và khả năng áp dụng của chúng đối với nhiều tình huống.
2.1.1.2.

14

Khung sinh kế bền vững

14


Khung sinh kế bền vững bao gồm những nhân tố chính ảnh hưởng đến
sinh kế của con người, và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng. Khung sinh
kế có thể sử dụng để lên kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và
đánh giá sự đóng góp vào sự bền vững sinh kế của những hoạt động hiện tại.
Một sinh kế được coi là bền vững khi con người với khả năng của
mình có thể đối phó với những yếu tố dễ bị tổn thương, đồng thời có thể duy

Sinh kế bền
vững

Kết quả

Các chiến lược thích ứng,
nguồn vốn, tri thức, công
nghệ.

Các chính sách vĩ mô,
nhà nước, địa phương

Các lựa
chọn

Công nghệ và các
hoạt động đầu tư

Công cụ

Nguồn: UNDP, 2001
Sơ đồ 2.1: Khung sinh kế bền vững của UNDP
Dựa vào khung sinh kế bền vững ở trên ta có thể thấy, để đạt được sinh kế
bền vững con người cần lựa chọn các chiến lược sinh kế sao cho phù hợp với
khả năng của mình dựa trên các tài sản, kiến thức mình có, kết hợp với đầu tư
công nghệ, hạ tầng kinh tế xã hội cùng những chính sách cũng như cơ chế quản
lý của nhà nước. Khung sinh kế là một chu trình khép kín phản ảnh mối quan hệ
tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố trong đó nhấn mạnh vào
các chiến lược sinh kế có khả năng chống chịu và đối phó với những thay đổi
trong môi trường bên ngoài mà con người không thể kiểm soát được.

mang tính tổng quát cao, có thể áp dụng rộng rãi cho nhiều đối tượng. Khung
phân tích sinh kế UNDP ra đời tạo tiền đề cho các lý thuyết sinh kế sau này.

17

17




Khung phân tích sinh kế bền vững của CARE
Khung phân tích sinh kế bền vững của CARE được thể hiện trong sơ đồ 2.2:

Bối cảnh

Chiến lược sinh kế

Kết quả sinh kế

Nguồn: IFAD SL workshops, 2010
Sơ đồ 2.2: Khung sinh kế bền vững của CARE
Khung sinh kế bền vững của CARE phát triển trên khung sinh kế của
UNDP. Tuy nhiên, khung phân tích của CARE đã chỉ rõ đối tượng phân tích
là hộ gia đình, lấy hộ gia đình làm trung tâm, cụ thể hơn khung phân tích của
UNDP, CARE cũng đã đưa các nguồn lực vào khung phân tích nhưng chia
các nguồn lực ra làm hai loại: Một loại thuộc sở hữu của hộ gia đình còn gọi
là tài sản của hộ gia đình, một loại không thuộc sở hữu của gia đình mà là tài
sản chung của cộng đồng, các hộ chỉ được phép khai thác, sử dụng, ví dụ như
tài nguyên thiên nhiên. Theo đó, nguồn lực tự nhiên không được coi là tài sản
của hộ gia đình mà chỉ là yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn sinh kế

trò như nhau trong khung phân tích.

19

19


Tổ chức DFID đã đưa khung sinh kế bền vững như sau :
TÀI SẢN SINH KẾ

Các kết quả sinh kế
Bối cảnh dễ tổn thương Chính sách , tiến trình và cơ cấu
-Thu
nhiều
-Ở
các
cấp
khác
nhau
của
Chính
phủ,
luật
pháp,
chính
sáchnhập
công,
các hơn
động lực, các quy tắc
-Xu hướng

thực
được cải thiện
Con người
Ảnh hưởng và khả năng tiếp cận
-Công bằng xã hội được cải thiện
Chiến
lược sinh kế
-Tăng tính bền vững của tài nguyên thiê
-Giá trị không sử dụng của tự nhiên đư
Xã hội

Vật chất

Tự nhiên

Tài chính

Biểu đồ 2.1 : Khung sinh kế bền vững
Nguồn ADB ( Trích từ DFID)


Tình huống dễ bị tổn thương:
Tình huống dễ bị tổn thương đề cập tới phạm vi hộ nông dân bị ảnh

hưởng và bị lâm vào các loại sốc. Một đặc điểm quan trọng trong khả năng
tổn thương là con người không hoặc khó có thể can thiệp và kiểm soát được.
Khả năng tổn thương hay sự bấp bênh trong sinh kế tạo ra từ những yếu tố
này là một thực tế cho nhiều hộ nông dân. Sự chống đỡ của hộ nông dân đối
với các yếu tố này là rất nhỏ bé và khó khăn.
 Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế:

kỹ năng, khả năng lãnh đạo và bảo vệ sức khoẻ.
Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành nên kế sinh nhai. Nó được xem
là nền tảng hay phương tiện để đạt được mục tiêu thu nhập.
Nguồn lực xã hội: là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà
con người vẽ ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ. Chúng bao gồm:
Các tương tác và mạng lưới, cả chiều dọc (người bảo lãnh/khách hàng
quen) và chiều ngang (giữa các cá nhân có cùng mối quan tâm) có tác động
làm tăng cả uy tín và khả năng làm việc của con người, mở rộng tiếp cận với
các thể chế, như các thể chế chính trị và cộng đồng.
21

21


Nguồn lực tự nhiên: là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay
cộng đồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai,
nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng... Trong thực tế, sinh kế của
người dân thường bị tác động rất lớn bởi những yếu tố biến động của nguồn
lực tự nhiên.
Trong khung sinh kế bền vững. Mối quan hệ giữa nguồn vốn tự nhiên
và các tổn hại có sự gắn kết thực sự.
Nguồn lực vật chất: gồm các cơ sở hạ tầng xã hội, tài sản hộ gia đình
hỗ trợ cho sinh kế như: giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống ngăn,
tưới tiêu, cung cấp năng lượng, nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại,
thông tin...
Nguồn lực tài chính: là những gì liên quan đến tài chính được con
người sử dụng để hướng tới mục tiêu sinh kế của hộ gia đình gồm: nguồn thu
nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn thu khác như: tiền lương,
nguồn hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài...
Sự phân chia các nguồn lực của DFID rõ ràng và cụ thể hơn so với

khả năng chống chịu, đương đầu và phục hồi trước những biến động và những
cú sốc từ môi trường dễ bị tổn thương.


Kết quả sinh kế
Mục đích của việc sử dụng khung sinh kế là để tìm hiểu những cách

thức mà con người kết hợp và sử dụng các nguồn lực, khả năng kiếm sống
cũng như đạt được mục tiêu và ước nguyện của họ. Những mục tiêu và ước
nguyện này có thể gọi là kết quả sinh kế. Cụ thể những kết quả sinh kế là
những vấn đề thuộc về an sinh xã hội, thu nhập, an ninh lương thực,khả năng
ứng biến trước những thay đổi, cải thiện công bằng xã hội cho hiện tại và cả
tương lai.
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Thực trạng nông dân mất đất nông nghiệp ở một số nước trên thế
giới.
2.2.1.1. Ở Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia có điều kiện tự nhiên và phong tục tập
quán tương đối giống Việt Nam. Là nước đông dân nhất thế giới, và phần lớn

23

23


dân số sống ở khu vực nông thôn. Trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất
nước, Trung Quốc luôn theo đuổi sự nghiệp CNH. Nông nghiệp nông thôn
cũng đưa ra mục tiêu phát triển theo hướng CNH. Trong cơ cấu ngành nghề
của Trung Quốc thì công nghiệp và xây dựng là hai ngành chủ yếu và chiếm
trên 84%. Như vậy, nông nghiệp nông thôn đã chịu tác động mạnh mẽ của

Trước năm 1970 Hàn Quốc lấy CNH-HĐH làm trọng điểm, công
nghiệp tăng trưởng rất nóng nhưng lại không có cơ hội vì không có thị trường.
Trong khi đó nông nghiệp tăng chậm. Nhưng khoảng cách giứa thành thị và
nông thôn, giữa giàu - nghèo lớn.
Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra một con đường giải phóng đó là phong
trào “Sumomidon (phong trào xây dựng nông thôn mới)”. Học tập phương
châm “lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông
nghiệp”. Một mặt vẫn phát triển công nghiệp mặt khác vẫn đầu tư vào nông
nghiệp phát huy nội lực của người nông dân trên mảnh đất của họ để phát
triển kinh tế. Chính phủ đầu tư, hỗ trợ vào nông nhiệp bằng vật chất để phát
triển nông nhiệp, nông thôn. Với tư tưởng là chỉ đầu tư tài chính một phần
chủ yếu là vật chất bằng cách đưa sản phẩm công nghiệp không thể ra thi
trường tiêu thụ về nông thôn như sắt, thép,…xây dựng cơ sở vật chất như:
đường giao thông, các công trình công cộng (trường học, bệnh viện…)
2.2.2. Một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề sinh kế và việc làm cho hộ
nông dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
2.2.3.1 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội
Theo thống kê của Bộ Lao động – TBXH trong 5 năm (2001 - 2004) số
người mất việc do bị thu hồi đất phục vụ cho các nhu cầu: xây dựng KCN,
khu chế xuất, khu đô thị... ở Hà Nội là gần 800.000 người. Trong 8 năm (từ
2001 đến 2007), Hà nội đã triển khai hơn 2800 dự án đầu tư liên quan đến thu
hồi đất. Thành phố đã bàn giao cho chủ đầu tư gần 1300 dự án với 6300 ha
đất, trong đó trên 80% là đất nông nghiệp, liên quan đến gần 180.000 hộ dân.
Bình quân mỗi năm Hà Nội đã giải phóng mặt bằng gần 1000ha.
(http://vietnamnet.vn/chinhtri/2008/03/772111/).

25

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status