TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ THỊ TRANG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH
IBA(Idolbutylic acid) ĐẾN KHẢ NĂNG RA RỄ CỦA HOM CÂY LỘC
VỪNG(Barringtonia acutangula (L.) Gaertn) TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khoá học
: Chính quy
: Quản lí tài nguyên rừng
: Lâm nghiệp
: 2011-2015
THÁI NGUYÊN – 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ THỊ TRANG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH
IBA(Idolbutylic acid) ĐẾN KHẢ NĂNG RA RỄ CỦA HOM CÂY LỘC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khoá học
: Chính quy
: Quản lí tài nguyên rừng
: Lâm nghiệp
: 2011-2015
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Lương Thị Anh
Khoa Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
THÁI NGUYÊN – 2015
ii
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài tốt nghiệp “Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích IBA
(Idolbutylic acid) đến khả năng ra rễ của hom cây Lộc vừng (Barringtonia
acutangula (L.) Gaertn) tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.” là
công trình nghiên cứu của bản thân tôi, đề tài đã sử dụng thông tin từ nhiều
nguồn khác nhau, các thông tin có sắn đã được trích rõ nguồn gốc.
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa trong đề tài
này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên
cứu khoa học nào khác. Các số liệu trích dẫn trong đề tài đều đã được ghi rõ
nguồn gốc.`
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2015
Bảng 4.9: Phân tích sai dị từng cặp xi − xj cho chỉ số ra chồi để tìm công thức
trội cho tỷ lệ chồi của hom cây Lộc vừng....................................... 45
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1: Ngâm hom trong dung dich Viben-c 50wp trước khi ngâm thuốc
kích thích ............................................................................... 24
Hình 2. Giâm hom ........................................................................................... 25
Hình 3. Giàn che.............................................................................................. 25
Hình 4.1: Tỉ lệ (%) sống trung bình của hom cây Lộc vừng ở các công thức
thí nghiệm ....................................................................................... 34
Hình 4.2 Tỷ lệ hom ra rễ ( Tỉ lệ %) của hom cây Lộc vừng ở các CTTN ...... 36
Hình 4.3 Chỉ số ra rễ của hom cây Lộc vừng ở các CTTN ............................ 36
Hình 4.4. Tỉ lệ ra chồi ( tỉ lệ %) của hom cây Lộc vừng ở các công thức thí
nghiệm về nộng độ chất kích thích . ............................................... 41
Hình 4.5 Chỉ số ra chồi của hom cây Lộc vừng qua các công thức về nồng độ
chất kích thích ................................................................................. 43
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTTN
: Công thức thí nghiệm
CT
2.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom ........................ 8
2.2. Những nghiên cứu trên Thế giới ....................................................... 15
2.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam............................................................. 17
2.4. Đặc điểm chung của Lộc vừng .......................................................... 17
2.5. Tổng quan khu vực nghiên cứu ......................................................... 18
2.5.1. Đặc điểm - vị trí địa hình, đất đai khu vực nghiên cứu .................. 18
2.5.2. Đặc điểm khí hậu, thời tiết.............................................................. 19
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .... 20
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................... 20
3.2. Địaz điểm vài thời gian nghiên cứu .................................................. 20
3.3. Nội dung nghiên cứu ......................................................................... 20
3.4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................... 20
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm ..................................................... 20
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu ......................................................... 22
i
LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là một khoảng thời có ý nghĩa rất quan trọng trong
quá trình học tập của mỗi sinh viên. Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn
chuyển tiếp giữa môi trường học tập lý thuyết với môi trường xã hội thực tiễn.
Mục tiêu của đợt thực tập này nhằm tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội cọ
sát với thực tế, gắn kết những lý thuyết đã học trên ghế giảng đường với môi
trường thực tiễn bên ngoài, đồng thời giúp sinh viên hệ thống hóa và củng cố
những kiến thức đã học.
Để đạt được mục tiêu trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa
Lâm nghiệp-Ttrường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tôi đã tiến hành đợt
thực tập tốt nghiệp với nội dung: “Ảnh hưởng của chất kích thích
IBA( Idolbutylic acid) đến khả năng ra rễ của hom cây Lộc vừng
tự nhiên. Gỗ dùng tương tự nhóm gỗ nhóm VI có thể dùng để đóng đồ đạc,
xây dựng nhà, lá non ăn được. Ngoài ra cây còn có giá trị về y học như:chữa
chàm hoặc ngâm rượu trị nhức rang, tiêu chảy, đau bụng… Do có rất nhiều
tác dụng có giá trị cao cây lộc vừng thu hút sự quan tâm của rất nhiều người,
việc khai thác sử dụng ở mức rất cao trong những năm qua.
Chính vì vậy việc bảo tồn và phát triển loài cây có giá trị này là rất cần
thiết. Những năm qua việc gây trồng Lộc vừng phát triển trong nhiều vùng
trong cả nước. Để có nhiều cây con phục vụ cho công tác trồng trên diện tích
rông cây lộc vừng, có rất nhiều cách tạo giống bằng nhiều phương pháp khác
nhau như nuôi cấy mô tế bào trong môi trường nhân tạo, nhân giống sinh
dưỡng… Trong đó nhân giống bằng hom là một trong những công cụ hiệu
quả nhất:
Phương pháp giâm hom (cutting propagation): Là phương pháp dùng một
phần lá, một đoạn thân, đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là cây
hom, cây hom có đặc tính di truyền được giữ nguyên từ cây mẹ. Nhân giống
bằng hom là phương pháp nhân giống nhanh và có hệ số nhân giống cao nên
được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả.
2
Nhân giống bằng phương pháp giâm hom phụ thuộc nhiều yếu tố như:
các yếu nội tại( xuất xứ, tuổi cây mẹ lấy cành, vị trí lấy cành, tuổi cành, độ dài
hom), các yếu tố ngoại cảnh( nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, chất kích thích ra
rễ….), trong đó các chất kích thích ra rễ cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng
ra rễ của cây Lộc vừng .
Xuất phát từ thực tế tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của
chất kích thích sinh trưởng IBA( Idolbutylic acid) đến khả năng ra rễ của
hom cây Lộc vừng (Barringtonia acutangula (L.) Gaertn) tại Trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên.”
tạo ra lượng lớn cây con với chất lượng tốt nhất.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Bảo tồn nguồn gen cây rừng là bảo tồn các đa dạng đi truyền cần thiết
cho các loài cây rừng nhằm phục vụ công tác cải thiện, duy trì giống trước
mắt hoặc lâu dài, tại chỗ hoặc nơi khác. Một trong nhiều phương pháp đang
được sử dụng nhiều hiện nay là phương pháp giâm hom.
Giâm hom là phương pháp nhân giống cây trồng bằng cơ quan sinh
dưỡng. Cơ sở khoa học của phương pháp là sau khi tiến hành giâm hom, dưới
ảnh hưởng của các chất nội sinh trong tế bào như auxin, cytokinin khi gặp
những điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp thì rễ được hình thành và chọc
thủng biểu bì đâm ra ngoài.
Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản hữu tính (bằng
hạt) và sinh sản sinh dưỡng (bằng giâm hom, chiết ghép, nuôi cấy mô…).
Sinh sản bằng hạt tạo được cây khỏe mạnh nhưng lâu có quả và khó giữ
được đặc tính di truyền tốt của cây mẹ. Để duy trì được đặc tính tốt của cây
giống người ta thường dùng các phương thức nhân giống sinh dưỡng. nhân
giống sinh dưỡng là phương pháp dựa trên cơ sở phân bào nguyên nhiễm.
Đây là phương thức phân bào về cơ bản không có sự tái tổ hợp của chất liệu
di truyền cho nên các cây mới dược tạo ra (thực chất là một phần cây mẹ) vẫn
giữ được đặc tính vốn có của cây mẹ lấy vật liệu giống.
Nhân giống bằng hom (cutting propagation): Là phương pháp dung
một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là
cây hom, cây hom có đặc tính di truyền như của cây mẹ. Nhân giống bằng
hom là phương pháp có hệ số nhân giống cao nên được dùng phổ biến trong
phân. Phân bào nguyên nhiễm là quá trình phân chia tế bào mà kết quả từ một
tế bào ban đầu cho ra hai tế bào con có số lượng NST cũng như cấu trúc và
6
thành phần hóa học của nó giống như tế bào ban đầu. Nhờ có quá trình
nguyên phân mà các NST được phân phối đồng đều, chính xác cho các tế bào
con. Ở kỳ đầu của quá trình nguyên phân, NST tự tái bản trước tiên theo
chiều dọc rồi tách theo chiều ngang, sau đó qua các kỳ tiếp theo NST phân
chia về các tế bào con đảm bảo cho các tế bào con đều có bộ NST như nhau
và giống tế bào ban đầu. Nhờ có quá trình nguyên phân mà khối lượng cơ thể
tăng lên, sau đó nhờ có quá trình phân hóa các cơ quan trong quá trình phát
triển cá thể mà tạo thành một cây con hoàn chỉnh. Đây là một quá trình đảm
bảo cho cây con duy trì tính trạng của cây mẹ.
Hom của các loài cây thân gỗ đều được lấy từ thân cây non hoặc cành
non của cây (bao gồm cả chồi vượt). Các loại cành giâm thường gặp là cành
non, cành hóa gỗ chủ yếu, cành nửa hóa gỗ và cành hóa gỗ. Tùy thuộc vào
các yếu tố như đặc tính loài cây, điều kiện thời tiết lúc giâm hom… mà chọn
cành có khả năng ra rễ cao nhất.
2.1.3. Sự hình thành rễ bất định
Nhân giống bằng hom dựa trên khả năng tái sinh hình thành rễ bất định
của một đoạn thân hoặc cành trong điều kiện thích hợp để tạo thành cơ thể mới.
Rễ bất định là những rễ được hình thành về sau này của các cơ quan
sinh dưỡng như cành, thân lá... Rễ bất định có thể được hình thành ngay trên
cây nguyên vẹn (cây đa, cây si...), nhưng khi cắt cành khỏi cơ thể mẹ là điều
kiện kích thích sự hình thành rễ và người ta vận dụng để nhân bản vô tính.
Rễ bất định của hầu hết thực vật được hình thành sau khi cắt cành khỏi cây
mẹ, nhưng cũng có một số loài rễ bất định được hình thành từ trước dưới dạng các
mầm rễ ở trong phần vỏ và chúng nằm yên đến khi cắt cành thì ngay lập tức đâm
tâm của mô mạch, ăn sâu vào trong thân cành tới gần ống mạch, sát bên
ngoài. Thời gian hình thành rễ của các loại hom giâm ở các loài cây khác
nhau biến động rất lớn từ vài ngày với các loài dễ hình thành tới vài tháng đối
với các loài khó ra rễ.
8
2.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom
Kết quả của hom giâm được xác định bởi thời gian ngắn và tỷ lệ ra rễ cao.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của việc giâm hom, nhưng phụ thuộc bởi
ba yếu tố chính là: Khả năng ra rễ của hom giâm (cá thể, giai đoạn và vị trí của
hom), môi trường giâm hom và các chất kích thích ra rễ. Cơ bản thuộc 2 nhóm
nhân tố gồm nhóm nhân tố ngoại sinh và nhóm nhân tố nội sinh.
- Nhân tố ngoại sinh: gồm đặc điểm của di truyền của từng xuất xứ, từng cá
thể cây, tuổi cành, pha phát triển của cành và các chất điều hòa sinh trưởng.
- Nhân tố nội sinh: các loại hóa chất kích thích ra rễ và các nhân tố
ngoại cảnh (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,…)
* Nhân tố ngoại sinh
Các nhân tố ngoại sinh ảnh hưởng đến ra rễ của hom giâm: Điều kiện
sinh sống của cây mẹ lấy cành, nhân tố ảnh hưởng đến quá trình giâm hom:
Mùa vụ, điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, giá thể giâm hom.
Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành: Điều kiện sinh sống của cây mẹ
lấy cành có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm, đặc biệt là của cây non.
Điều kiện ánh sáng cho cây mẹ lấy cành ảnh hưởng đến khả năng ra rễ
của hom giâm.
- Thời vụ giâm hom:
Thời vụ giâm hom là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng
tới sự ra rễ của hom giâm. Tỷ lệ ra rễ của hom giâm phụ thuộc vào thời vụ lấy
cành và thời vụ giâm hom. Một số loài có thể giâm hom quanh năm song cũng
- nhiệt - ẩm mà không phải là từng nhân tố riêng lẻ.
Ngoài ra tùy từng loại cây mà mức độ yêu cầu ánh sáng là khác nhau.
Mức độ này còn phụ thuộc vào chất dinh dưỡng có trong hom.
- Nhiệt độ:
Nhiệt độ ảnh hưởng tới quá trình quang hợp, hô hấp và quá trình vận
chuyển chất. Vì thế nhiệt độ không khí là một yếu tố quyết định đến tốc độ
10
phát triển và hình thành nên rễ của hom. Các loài cây nhiệt đới thường có yêu
cầu cao hơn các loài cây ôn đới. Đối với cây nhiệt đới:
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình quang hợp: Nhiệt độ tối thấp từ 5 7°C cây bắt đầu quang hợp, nhiệt độ tối ưu mà cây đạt hiệu quả quang hợp tốt
nhất là 25 - 30°C và nếu duy trì nhiệt độ tối cao lâu thì cây sẽ bị chết.
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình hô hấp: Nhiệt độ tối thấp từ 10-0°C
cây bắt đầu hô hấp, nhiệt độ tối ưu là 35 - 40°C và nhiệt độ tối cao 45 - 55°C
cây sẽ bị phá hủy.
- Nhiệt độ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, vận chuyển các chất
trong cây: Nhiệt độ thấp làm tăng độ nhớt của các sợi protein, cản trở tốc độ
dòng vận chuyển chất và làm giảm hô hấp của mô libe đặc biệt của tế bào
kèm làm thiếu năng lượng cung cấp cho sự vận chuyển; nhiệt độ quá cao làm
cho quá trình thoát hơi nước ở lá diễn ra mạnh đẫn đến mất nước gây ra héo;
nhiệt độ tối ưu 25 - 30°C.
Vì vậy nhiệt độ là nhân tố quyết định tốc độ ra rễ của hom giâm. Ở nhiệt độ
quá thấp hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn và không ra rễ, ở nhiệt độ quá cao tăng
cường hô hấp và hom bị hỏng từ đó làm giảm tỷ lệ ra rễ của hom giâm. Nhiệt độ
không khí trong nhà giâm hom thích hợp cho ra rễ là từ 28 - 33°C và nhiệt độ giá
thể thích hợp là 25 - 30°C. Nhiệt độ trên 35°C làm tăng tỷ lệ héo của cành giâm
hom. Nhiệt độ không khí trong nhà trong nhà giâm hom nên cao hơn nhiệt độ giá
thể là 2 - 3°C.
loài cây mà thành phần giá thể có thể là khác nhau. Các giá thể thường được
dùng hiện nay là cát tinh, mùn cưa, xơ dừa, bầu đất hay đất vườn. Khi giâm hom
chỉ tạo ra rễ sau đó mới cho cây vào bầu thì giá thể thường là mùn cưa để mục,
cát tinh, xơ dừa băm nhỏ hoặc đất vườn ươm trộn lẫn với nhau.
Một giá thể giâm hom tốt là một giá thể có độ thoáng khí tốt và duy trì
độ ẩm trong một thời gian dài mà không ứ nước, không bị nhiễm nấm bệnh.
12
- Giá thể cắm hom:
Giá thể cắm hom là nơi cắm hom sau khi đã xử lí chất kích thích ra
rễ.Giá thể được dùng làm thí nghiệm này là đất trong vườn ươm. Một giá thể
cắm hom tốt là thoát khí tốt và duy trì được độ ẩm trong thời gian dài mà
không ứ nước, tạo điều kiện cho rễ phát triển tốt, đồng thời làm sạch không bị
nhiễm nấm, không có nguồn sâu bệnh, độ Ph thích hợp.
* Nhân tố nội sinh:
- Đặc điểm di truyền của loài: Các nghiên cứu cho thấy không phải tất
cả các loài đều có khả năng ra rễ như nhau. Nanda (1970) đã dựa theo khả
năng ra rễ để chia các loài cây thành 3 nhóm chính:
+ Nhóm dễ ra rễ gồm 29 loài. Các loài này không cần sử lý bằng chất kích
thích ra rễ mà vẫn ra rễ với tỉ lệ rất cao, gồm các loài thuộc các chi Ficus sp.
+ Nhóm khó ra rễ gồm 26 loài. Loại này hầu như không ra rễ hoặc là
phải sử dụng chất kích thích ra rễ nhưng tỉ lệ ra rễ rất thấp thuộc các chi
Manlus sp,Prunus sp,… thuộc họ Rosaceae và một số chi khác.
+ Nhóm có khả năng ra rễ trung bình gồm 65 loài. Tuy vậy sự phân
chia này chỉ có ý nghĩa tương đối.
Vì thế theo khả năng giâm hom thì chia thành 2 nhóm:
+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom cành là nhiều loài cây thuộc họ
Dâu tằm (Moraceae): dâu tằm, đa, sung... Một số loài thuộc họ Liễu, một số
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
14
Rhizocalin bản chất là axit được coi là chất đặc biệt cần thiết trong quá
trình hình thành rễ nhiều loài cây.
Một số nhóm chất điều hòa sinh trưởng: Nhóm Auxin gồm NAA (a.
Naphthalene acetic acid), IAA (Indol-3acetic acid), IBA (Indol butyric acid),
IPA (Indol-3yl-Acetonitrile) và một số chất khác; nhóm Cytokinin gồm Zeatin,
Kinetin; nhóm Giberellin gồm: GA3 (Giberellic acid), GA8 (Giberellin - Lije
Substances) và nhiều chất giống Giberellin khác; nhóm chất có khả năng kìm
hãm sinh trưởng hoặc thúc đẩy quá trình già hóa như ABA (Abscisic scid),
Ethophone (2-chloroethyl), Phosphonic acid, các phenol, retedant…
* Các nhân tố kích thích:
- Loại thuốc: Các chất kích thích điều hòa sinh trưởng có vai trò đặc
biệt quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom giâm. Một số loại chất
kích thích sinh trưởng như: Auxin, Giberellin, Cytokinin…
Auxin: Có hai loại Auxin là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp. Auxin tự
nhiên là IAA (acid ß - indol axetic) và Auxin tổng hợp là các chất có bản chất
hóa học khác nhau nhưng có hoạt tính sinh lý tương tự như IAA (acid ß - indol
axetic). Các Auxin tổng hợp như: ɑ-NAA (acid ɑ - Naphtylaxetic), 2,4D (acid
2.4 Dichlorophenoxyaxetic), 2.4.5T (Acid 2,4,5 Trichlorophenoxyaxetic), IBA
(acid ß-indolbutyric), 2M4C (Acid 2metyl-4 Chlorophenoxyaxetic)… Trong sự
hình thành rễ, đặc biệt là rễ bất định phát sinh từ các cơ quan dinh dưỡng. Auxin
là hoocmon hình thành rễ.
- Nồng độ: Cùng một loại thuốc nhưng nồng độ khác nhau có ảnh hưởng
khác nhau đến khả năng ra rễ của hom giâm. Tùy từng loài cây mà hom của
chúng thích ứng với một loại chất cũng như nồng độ thích hợp nhất định. Nếu
Pháp) đã ghép 10.000 cây Thông Đen. Năm 1883, Velinski A.H công bố
công trình ghiên cứu nhân giống một số loài cây lá kim và lá rộng thường
xanh bằng hom. Ở Pháp năm 1969, Trung tâm lâm nghiệp đới bắt đầu
chương trình nhân giống Bạch đàn. Năm 1973 mới có 1ha rừng trồng bằng
16
cây hom đến năm 1986 có khoảng 24.000 ha rừng trồng bằng hom, các
rừng này đạt tăng trưởng bình quân 35 m3/ha/năm [15].
Hiện nay ở một số nước, do kết hợp được công tác chọn giống, kĩ thuật
tạo cây con bằng mô - hom và kĩ thuật thâm canh trong trồng rừng đầu dòng
vô tính mà đã đưa được năng suất từ 5 m3/ha/năm lên 15 m3/ha/năm trên đất
xấu. Năng suất trồng rừng bạch đàn 30 m3/ha/năm ở Zimbabuê, 30 m3/ha/năm
ở Công gô, ở Brazin 50 m3/ha/năm đặc biệt có nơi năng suất đạt từ 75 – 100
m3/năm/ha [7].
Theo tài liệu của Trung tâm Giống cây rừng Asean – Canada( gọi tắt là
ACFTSC), trong những năm gần đây, nghiên cứu và sản xuất hom được tiến
hành ở các nước Đông Nam á.
Ở Thái Lan, Trung tâm Giống cây rừng Asean – Canada[14] đã có
những nghiên cứu nhân giống bằng hom từ năm 1988, nhân giống với hệ
thống phun sương mù tự động không liên tục được xây dựng tại các chi
nhánh vườn ươm trung tâm, đã thu được nhiều kết quả đối với các lại cây
họ dầu, với 1ha vườn giống cây Sao đen 5 tuổi có thế sản xuất được
200.000 cây hom, đủ trồng cho 455 đến 500 ha rừng.
Ở Malaysia, nhân giống sinh dưỡng các lại cây họ Sao dầu bắt đầu từ
những năm 1970, hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở Viện nghiên cứu
Lâm nghiệp Malaysia, ở trường đại học Tổng hợp Pertanian, trung tâm
nghiên cứu lâm nghiệp ở Sepilok, cũng đã có những báo cáo các công trình
có giá trị về nhân giống sinh dưỡng cây họ Dầu. Tuy nhiên tỉ lệ ra rễ của