Tìm hiểu chế độ công bố thông tin của các chủ thể chào bán chứng khoán và thực trạng pháp luật về chế độ công bố thông tin đối với các chủ thể này - Pdf 34

Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật Chứng Khoán

BẢNG TỪ VIẾT TẮT
CBTT
BCTC
BTC
UBCKNN
LCK

Công bố thông tin
Báo cáo tài chính
Bộ tài chính
Ủy ban chứng khoán Nhà nước
Luật Chứng khoán

LỜI MỞ ĐẦU
Lớp N01- Nhóm 05

1


Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật Chứng Khoán

Thông tin là vấn đề sống còn của thị trường chứng khoán. Ngay từ khi mới
hình thành, hoạt động công bố thông tin đã trở thành mối quan tâm chung của đông
đảo các chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán. Một trong số đó không thể
không kể đến các chủ thể tham gia chào bán chứng khoán. Thông qua việc nghiên
cứu, phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến chế độ công bố thông tin đối
với các chủ thể chào bán chứng khoán cùng với việc phân tích, đánh giá thực trạng
pháp luật hiện hành quy định về vấn đề trên là một nhu cầu cấp thiết nhằm hoàn thiện
pháp luật về chế độ công bố thông tin. Đó cũng là lí do nhóm chọn đề tài: “Tìm hiểu

+ Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng;
+ Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung
tâm giao dịch chứng khoán;

Lớp N01- Nhóm 05

2


Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật Chứng Khoán

+ Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà
đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng
-

Việt Nam trở lên”
Công ty nhà nước cổ phần hóa.
Công ty trách nhiệm hữu hạn cổ phần hóa.
Công ty cổ phần đại chúng.
Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán.
Công ty đầu tư chứng khoán.
Một số chủ thể khác tham gia vào quá trình chào bán chứng khoán ra công
chúng như: chủ thể tư vấn chào bán, chủ thể bảo lãnh chào bán, đại lý chào
bán, chủ thể cấp phép chào bán (Ủy ban chứng khoán nhà nước)…
Chủ thể chào bán chứng khoán riêng lẻ: Theo Điều 2 Nghị định

01/2010/NĐ-CP về chào bán cổ phần riêng lẻ thì các chủ thể đó bao gồm:
“- Công ty cổ phần
- Các doanh nghiệp chuyển đổi thành công ty cổ phần, ngoại trừ các doanh
nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần.”

một công cụ bảo vệ tổ chức chào bán trước những tin đồn xấu, nguy hại đến lợi ích
công ty.
Để hạn chế tối đa những rủi ro có thể xảy ra, để quảng bá dược hình ảnh,
thương hiệu của mình thì chế độ CBTT luôn là sự lựa chọn của các chủ thể khi tham
gia chào bán chứng khoán. Một chế độ CBTT minh bạch, hoàn chỉnh, thống nhất sẽ
là cơ sở pháp lý cho công tác kiểm tra chất lượng và giám sát hoạt động của thị
trường. Như vậy có thể thấy, chế độ CBTT là rất cần thiết trên thị trường chứng
khoán và đặc biệt là đối với các chủ thể tham gia chào bán chứng khoán.
2. Thực trạng pháp luật về chế độ công bố thông tin đối với chủ thể
chào bán chứng khoán
Chế độ CBTT trên thị trường chứng khoán nói chung và của các chủ thể chào
bán chứng khoán nói riêng hiện nay đã được các nhà làm luật quan tâm đúng mức
thể hiện qua việc Luật chứng khoán 2006 (sửa đổi bổ sung 2010) giành cả một
chương về CBTT, hay mới đây Bộ Tài Chính đã ban hành Thông tư 09/2010/TTBTC hướng dẫn về việc CBTT trên thị trường chứng khoán.
Theo đó, chúng ta thấy chế độ CBTT đối với các chủ thể chào bán chứng
khoán có các vấn đề chính sau:
2.1.

Nghĩa vụ công bố thông tin của các chủ thể chào bán chứng

khoán
Tại Khoản 1 Điều 100 Luật chứng khoán 2006 (sửa đổi, bổ sung 2010) và
Điểm 1 Mục I của Thông tư 09/2010/TT-BTC có quy định các chủ thể có nghĩa vụ
CBTT trong đó có các chủ thể chào bán chứng khoán “ … Công ty đại chúng, tổ
chức phát hành thực hiện chào bán trái phiếu ra công chúng, tổ chức niêm yết, đăng
ký giao dịch, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán,
Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) và người có liên quan….”
Căn cứ vào thời điểm thực hiện nghĩa vụ có thể chia nghĩa vụ công bố thông
tin thành các loại sau:
- Nghĩa vụ phải thực hiện tại một thời điểm nhất định

mà trong đó có yêu cầu “...Việc công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác và kịp thời
theo quy định của pháp luật…” như vậy thì các chủ thể CBTT phải chịu trách nhiệm
về những thông tin là mình công bố. Những quy định này không chỉ giúp các nhà đầu
tư có thông tin, phân tích các thông tin đó để rồi đưa ra quyết địh có đầu tư hay
không, như vậy là quyền lợi của nhà đầu tư được quan tâm. Mà các cơ quan quản lý
còn có cơ sở để quản lý hoạt động của các tổ chức chào bán góp phần kiểm soát hoạt
động của thị trường chứng khoán, cũng như xử lý các vi phạm trong khi CBTT.

2.2.

Lớp N01- Nhóm 05

Các loại thông tin được công bố

5


Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật Chứng Khoán

Nội dung CBTT của các chủ thể chào bán chứng khoán là những thông tin mà
các chủ thể này có nghĩa vụ công bố theo quy định của pháp luật về CBTT. Các loại
thông tin cần công bố như sau:
2.2.1. Công bố thông tin định kỳ
Theo quy định tại các Điều 101, 102, 105, 106 LCK 2006 ( sửa đổi, bổ sung
2010); Các mục II, III, V, VI, VII của Thông tư 09/2010/TT-BTC thì các chủ thể
chào bán chứng khoán phải CBTT định kỳ:
Theo đó chậm nhất trong thời gian10 ngày kể từ ngày có báo cáo tài chính
(BCTC) năm được kiểm toán các chủ thể phải CBTT về BCTC năm được kiểm toán
bởi tổ chức kiểm toán độc lập đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Bộ Tài
chính. Con số “10 ngày” này là hợp lý so với điều kiện hiện nay vì nếu quá lâu thì

Việt (và bản dịch tiếng Anh - nếu có), phải công bố trên các ấn phẩm, trang thông tin
điện tử của mình và lưu trữ ít nhất mười (10) năm tại trụ sở chính của tổ chức để nhà
đầu tư tham khảo;
Riêng công ty đầu tư chứng khoán thì sẽ CBTT định kỳ trong các trường hợp
sau: Thay đổi giá trị tài sản ròng của quỹ đại chúng hằng tuần, tháng, quý và hằng
năm; Tài sản của quỹ đại chúng hằng tháng, quý và hằng năm;Tình hình và kết quả
hoạt động đầu tư của quỹ đại chúng hằng tháng, quý và hằng năm.
2.2.2. Công bố thông tin bất thường
Các chủ thể chào bán chứng khoán khác nhau trong quá trình hoạt động có thể
có thông tin bất thường khác nhau nhưng dựa vào các quy định tại các mục II, III và
V Thông tư 09/2010/TT BTC có thể phân thành 2 loại: thông tin liên quan đến hoạt
động quản trị và các sự kiện bất thường ảnh hưởng đến hoạt động của công ty.
Thông tin liên quan đến hoạt động quản trị:
- Đối với công ty đại chúng: thông tin liên quan đến quản trị là thông tin liên
quan đến quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị như Quyền
quyết định của Hội đồng quản trị về mua hoặc bán lại cổ phiếu, thực hiện quyền mua
cổ phiếu… Các quyết định này ảnh hưởng trực tiếp đến lượng cung chứng khoán trên
thị trường, chiến lược phát triển lâu dài của công ty đại chúng và các tiêu chuẩn định
giá chứng khoán, từ đó ảnh hưởng đến chứng khoán hiện tại, khả năng tăng giá trong
tương lai
- Đối với công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, thông tin về quyết định
thông qua hợp đồng sát nhập với công ty khác hoặc các thay đổi quan trọng như thay
đổi phương thức giao dịch, đặt lệnh, ký quỹ giao dịch…rất quan trọng. Hợp đồng sát
nhập là cơ sở để giải quyết việc quản lý các tài khoản chứng khoán, nghiệp vụ kinh
doanh của công ty chứng khoán mới, thay đổi này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của
nhà đầu tư có tài khoản chứng khoán. Bên cạnh đó, việc mua bán chứng khoán phải
tuân theo phương thức nhất định đảm bảo thị trường hoạt động trật tự, an toàn, ổn
định.
Các sự kiến bất thường ảnh hưởng đến hoạt động của công ty:
Các sự kiện này có liên quan đến công ty hoặc Ban quản trị của công ty. Các

Do vậy pháp luật quy định rõ như sau:
- Đối với công ty đại chúng: Theo quy định tại Khoản 3 Mục II Thông tư
09/2010/TT – BTC thì Công ty đại chúng phải công bố thông tin theo qui định tại
khoản 4 Điều 101 Luật Chứng khoán trong thời hạn hai mươi bốn (24) giờ, kể từ khi
nhận được yêu cầu của UBCKNN, bao gồm các sự kiện: Có thông tin liên quan đến
công ty đại chúng ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư hoặc
Có thông tin liên quan đến công ty đại chúng ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán và
cần phải xác nhận thông tin đó.
- Đối với công ty quản lý quỹ: Theo quy định tại Khoản 3 Mục V Thông tư
09/2010/TT – BTC thì công ty quản lý quỹ phải CBTT trong thời hạn (24) giờ, kể từ
khi nhận được yêu cầu của UBCKNN, SGDCK khi có thông tin liên quan đến công
ty ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
Lớp N01- Nhóm 05

8


Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật Chứng Khoán

2.2.4. Các loại thông tin khác phải công bố
- Đối với công ty đại chúng:
+ CBTT về giao dịch cổ phiếu của cổ đông lớn:
+ CBTT về giao dịch cổ phiếu quỹ:
+ CBTT về giao dịch cổ phiếu của cổ đông sáng lập trong thời gian bị hạn chế
chuyển nhượng theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Doanh nghiệp:
+ CBTT về giao dịch chào mua công khai
- Đối với tổ chức phát hành thực hiện chào bán trái phiếu ra công chúng còn
CBTT về việc chào bán trái phiếu ra công chúng và tiến độ sử dụng vốn thu được từ
đợt chào bán
* Nhận xét chung:

đích sử dụng vốn, tổ chức phát hành phải CBTT về lý do và người ra quyết định thay
đổi.
Trang thông tin điện tử (website) là phương tiện CBTT mới được quy định bắt
buộc đối với các chủ thể chào bán kể từ khi có Luật chứng khoán 2006 ra đời. Đây là
một sự thay đổi rất hợp lý khi mà xã hội thông tin ngày càng phát triển thì việc sử
dụng mạng internet lại càng nhiều hơn. Sự nhanh chóng cũng như những tiện ích mà
nó mang lại giúp nó trở nên ưu việt hơn. Việc yêu cầu tất cả các chủ thể phải có
website của riêng mình trừ cá nhân đảm bảo cho các chủ thể tiếp cận thông tin được
rõ ràng hơn.
Luật quy định các cá nhân CBTT sẽ không phải lập trang thông tin điện tử.
Quy định này là khá hợp lý xuất phát từ thực tế, do việc lập trang thông tin điện tử
không hề đơn giản, chi phí cao, tốn nhiều thời gian và công sức, tuy nhiên quy định
này chỉ phù hợp với các đối tượng phải CBTT là tổ chức.
2.4.

Chế tài đối với các vi phạm pháp luật về công bố thông tin
của các chủ thể chào bán chứng khoán

Theo quy định tại Điều 118 Luật Chứng khoán, các chế tài được áp dụng đối
với những hành vi vi phạm trên thị trường chứng khoán nói chung và các hành vi vi
phạm liên quan đến CBTT của các chủ thể chào bán chứng khoán nói riêng bao gồm:
chế tài hành chính, chế tài kỷ luật, chế tài dân sự, chế tài hình sự.
2.4.1. Chế tài hành chính
Chế tài hành chính được áp dụng cho các vi phạm hành chính nhưng chưa đến
mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Các hình thức phạt gồm hình thức phạt chính và
hình thức phạt bổ sung, có đi kèm các biện pháp khắc phục hậu quả. Hình thức phạt
chính gồm: phạt cảnh cáo và phạt tiền, mức phạt tiền thấp nhất là 5.000.000 đồng,
cao nhất là 90.000.000 đồng (được quy định tại Điều 33 NĐ 85/2010/NĐ - CP về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán ).
Ngoài ra còn có hình thức phạt bổ sung bao gồm: tịch thu khoản thu về chứng khoán

nghiệp. Ngoài ra, pháp luật có quy định hình phạt bổ sung, nhưng thực tế lại chưa có
hướng dẫn cụ thể cách tính khoản thu lợi trái phép.
2.4.2. Chế tài dân sự
Chế tài dân sự được áp dụng đối với các hành vi vi phạm gây thiệt hại nghiêm
trọng theo quy định về bồi thường thiệt hại của luật dân sự. Chế tài này được áp dụng
một cách độc lập. Căn cứ để áp dụng chế tài này là có hành vi vi phạm, có thiệt hại
xảy ra trong thực tế, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại. Tuy
nhiên, đối với các vi phạm liên quan đến CBTT, thiệt hại gây ra nhiều khi là rất lớn
và khó có thể xác định chính xác về chủ thể bị thiệt hại, do vi phạm ảnh hưởng rộng.
Việc áp dụng chế tài này đòi hỏi phải có một cơ sở pháp lý rõ ràng, đồng thời cần xác
định rõ các tiêu chuẩn cụ thể về thiệt hại gây ra và xác định mối quan hệ nhân quả
giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra.
2.4.3. Chế tài kỷ luật
Chế tài kỉ luật được áp dụng đối với những cá nhân có hành vi vi phạm chế độ
kỷ luật của cơ quan, đơn vị trong khi thi hành nhiệm vụ CBTT. Chế tài được áp dụng
dựa trên các quy định về trách nhiệm của các cá nhân khi thực hiện công bố thông
Lớp N01- Nhóm 05

11


Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật Chứng Khoán

tin. Việc áp dụng chế tài này trong thực tế chỉ hiệu quả nếu các tổ chức thành viên
của thị trường có nội quy, quy chế trong quá trình CBTT.
2.4.4. Chế tài hình sự
Chế tài hình sự được áp dụng đối với hành vi vi phạm cấu thành tội phạm theo
quy định của pháp luật hình sự. Đây là chế tài nghiêm khắc nhất nhằm răn đe đối với
người vi phạm. Tuy nhiên, pháp luật hình sự hiện hành chưa có quy định cụ thể về
các tội phạm liên quan đến chứng khoán nói chung và tội phạm về CBTT trên thị


12


Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật Chứng Khoán

với lí do chưa hoàn thành BCTC quý. Điều này làm ảnh hưởng đến việc tiếp cận
thông tin một cách nhanh nhất của nhà đầu tư, có thể gây hậu quả lớn đến nhà đầu tư.
Cần bổ sung thêm quy định của pháp luật về thời hạn hoàn thành BCTC của doanh
nghiệp để qua đó, thông tin được đến với nhà đầu tư một cách nhanh nhất.
Về chế tài đối với hành vi vi phạm chế độ CBTT: Cho đến nay cơ sở pháp lí
cho hành vi vi phạm pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ CBTT vẫn còn khá
lỏng lẻo, chưa có tính răn đe cao.Hình thức chế tài chủ yếu đó là phạt hành chính. Về
điểm này các nhà làm luật của nước ta nên tham khảo một số quy định của một số
nước có thị trường chứng khoán tiên tiến trên thể giới ,ví dụ như ở Nhật Bản việc
tung tin đồn, tung các tin tính toán giả mạo … gây ra biến động giá trên thị trường sẽ
bị phạt 5 năm tù, hoặc bị phạt tiền đến 5 triệu yên, còn người trong nội bộ công ty
niêm yết (người có quan hệ với công ty) biết được thông tin trước ngày công bố
thông tin mà ồ ạt mua hoặc bán thì sẽ bị phạt 3 năm tù hoặc 3 triệu yên.
3.2.

Nâng cao trình độ kỹ thuật chuyên viên, nhân viên UBCKNN

Do đây là nơi kiểm tra cũng như đánh giá tính chính xác của thông tin, nhà đâu
tư căn cứ để chọn nơi đâu tư. Do đó nếu trình độ chuyên viên và nhân viên không đáp
ứng yêu cầu, hoặc chậm nắm bắt thông tin sẽ đưa ra thông tin thiếu chính xác sẽ tác
động xấu tới nhà đầu tư, tới doanh nghiệp.
Tham gia với các đơn vị chức năng thuộc UBCKNN xây dựng, hoàn thiện quy
trình phối hợp trong việc chuyển hồ sơ vi phạm đến UBCKNN để đảm bảo xử lý
nhanh chóng, kịp thời các hành vi vi phạm chế độ báo cáo, CBTT.

7. Nguyễn Thu Dung, “Pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng
khoán”, luận văn tốt nghiệp, 2007;
8. Đinh Thị Hạnh, “Các điều kiện pháp lý đảm bảo tính minh bạch của thị
trường chứng khoán”, luận văn tốt nghiệp, 2011;
9. Đinh Thị Hoàng Hà, “Pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng
hiện nay”, luận văn tốt nghiệp, 2011;
10. Nguyễn Thị Ánh Vân, “Chế độ công bố thông tin theo Luật chứng khoán
năm 2006”, Tạp chí luật học, số 8/2006;
11. www.ssc.gov.vn;
12. www.luatvietnam.com.vn.

Lớp N01- Nhóm 05

14


Bài tập nhóm tháng 1 môn Luật Chứng Khoán

MỤC LỤC

Lớp N01- Nhóm 05

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status