TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA JOHN DEWEY VÀ VẬN DỤNG DẠY HỌC
NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM TRONG BỐI CẢNH GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN
NAY
The education philosophy of John Dewey and applying in teaching the
pedagogic methods in the current context of Vietnam education
ThS. Nguyễn Văn Hạnh
Khoa Sư phạm Kỹ thuật, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên
Department of Technical Pedagogy, Hung Yen University of Technology and
Education
Địa chỉ: Dân Tiến – Khoái Châu – Hưng Yên
Email: , sđt: 0975.300.198
Tóm tắt: John Dewey (1859-1952) là nhà triết học giáo dục tiêu biểu của
Mỹ trong thế kỷ 20. Triết lý giáo dục của ông là sự vận dụng tinh thần của
chủ nghĩa kinh nghiệm trong triết học vào trong giáo dục, được ông gọi là
chủ nghĩa thực dụng (hay chủ nghĩa hành động). Triết lý giáo dục của
Dewey có ảnh hưởng sâu sắc đến nền một giáo dục tiến bộ, giáo dục
hướng vào người học. Vận dụng triết lý giáo dục của Dewey trong dạy
học NVSP chính là con đường hữu hiệu để đổi mới nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục trong bối cảnh đổi mới toàn diện giáo dục Việt Nam hiện
nay.
Abstract: John Dewey (1859-1952) is the typical philosophy of American
education in the 20th century. Dewey’s philosophy of education is
manipulating the spirit of empiricism in philosophy in education, which
he called that pragmatism. The education philosophy of Dewey had a
profound influence educational background progressive education
directed at students. Applying the education philosophy of Dewey in the
teaching of pedagogic profession is an effective way to improve the
quality of education in the context of comprehensive renovation of
education in Vietnam.
Từ khóa: John Dewey, Nghiệp vụ sư phạm, Triết lý giáo dục
1
dạy học nghiệp vụ sư phạm (NVSP) cho sinh viên sư phạm luôn chịu ảnh hưởng
2
và gắn liền với các tư tưởng của nền giáo dục tiến bộ mà giáo viên tương lai sẽ đáp
ứng. Vấn đề đặt ra là cần phải xác định những luận điểm khoa học là cơ sở cho
việc vận dụng triết lý giáo dục của John Dewey trong dạy học NVSP hiện nay.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Triết lý giáo dục của John Dewey
2.1.1. Chủ nghĩa thực dụng trong triết học của John Dewwey
Theo từ điển Wikipedia [7]: Chủ nghĩa kinh nghiệm là một khuynh hướng lý
thuyết về tri thức trong triết học đối lập với trường phái tư tưởng của chủ nghĩa
duy lý, gắn liền với tên tuổi của các nhà triết học tiêu biểu bao gồm: Aristotle
(384-322
TCN), Thomas
Aquinas
(1225-1274), Thomas
Hobbes
(1588-
1679), John Locke (1632-1704), George Berkeley (1685-1753), David Hume
(1711-1776), và John Stuart Mill (1806-1873). Chủ nghĩa kinh nghiệm đặc biệt
nhấn mạnh vai trò của trải nghiệm, tri thức khoa học có quan hệ chặt chẽ với trải
nghiệm, đặc biệt khi được tạo ra qua các sắp đặt thử nghiệm có chủ ý. Chủ nghĩa
kinh nghiệm cho rằng, tri thức kinh nghiệm không có một cách tự động, thay vào
phối đến mọi khía cạnh của nội dung giáo dục. Sau đây là những nội dung chính về
cốt lõi triết lý giáo dục của Dewey:
- Giáo dục không phải là sự chuẩn bị mọi thứ cho một tương lai mơ hồ mà ở
đó học sinh được học các bài học về luân lý, giáo dục phải là cuộc sống, quá trình
sống của học sinh, nội dung giáo dục phải gần gũi và quen thuộc với cuộc sống của
họ. Trường học giống như là một cộng đồng dân chủ mà ở đó các giá trị của kinh
nghiệm xã hội được chuyển giao từ nhóm sang cho cá nhân.
- Giáo dục là tạo điều kiện tốt nhất cho người học kiến tạo tri thức dựa vào
kinh nghiệm đã có của bản thân thông qua sự tham gia và tương tác với môi
trường. Những kinh nghiệm mới sẽ cho phép học sinh thích ứng với môi trường
cuộc sống luôn thay đổi. Họ chủ động tham gia vào các hoạt động xã hội trong
cộng đồng lớp, nhóm.
- Các khái niệm khoa học không phải là chân lý cuối cùng, mà nó được sử
dụng như giả thuyết cho thực nghiệm khoa học để xác định những hệ quả do nó tạo
ra khi học sinh hành động dựa vào chúng, những hệ quả đó cần được quan sát, suy
xét cẩn thận để rút ra những ý nghĩa cuối cùng làm cơ sở phát triển các kinh
nghiệm tiếp theo.
4
- Giáo viên đóng vai trò là người hỗ trợ, giúp đỡ, khuyến khích, động viên
học sinh học tập khi cần thiết, tạo ra môi trường học tập năng động sáng tạo cho
người học, chứ không phải là người có quyền lực ban phát kiến thức cho trò.
- Phương pháp dạy học của giáo viên phải hướng vào sự phân hóa người học
và tích hợp trong nội dung học tập, phải phù hợp với năng lực và kinh nghiệm hiện
có của học sinh, thúc đẩy mỗi cá nhân phát triển, mở rộng vốn kinh nghiệm đó.
Việc dạy học thường đặt ra các yêu cầu khác nhau với mỗi người học trong quá
trình học tập.
Như vậy, triết lý giáo dục của Dewey phản ánh tư tưởng dân chủ trong giáo
b) Vai trò của giáo viên: Ở đây giáo viên có vai trò như một người hướng
dẫn, nâng đỡ từ phía sau và tạo ra một môi trường có tính hỗ trợ và thách thức tư
duy, cho phép người học đi đến kết luận của riêng mình trước mỗi một vấn đề học
tập.
c) Sự hợp tác giữa những người học: Người học có kỹ năng và kinh nghiệm
nền tảng khác nhau, nên cần hợp tác trong thực hiện các nhiệm vụ chung và thảo
luận để đi đến một sự hiểu biết chung về chân lý trong một lĩnh vực cụ thể (Duffy
và Jonassen 1992). Vì thế, học bằng cách dạy lại cho người khác là một phương
pháp hiệu quả.
d) Tầm quan trọng của bối cảnh: Việc học tập được xảy ra ở môi trường cho
phép người học tham gia vào các hoạt động liên quan trực tiếp đến việc áp dụng
của học tập, thực hiện các tương tác của học tập, từ đó, người học tạo ra các phản
hồi về chất lượng của các kinh nghiệm học tập. Bối cảnh phải cho phép người học
tạo ra kiến thức có tính tích hợp trọn vẹn bằng việc huy động các kinh nghiệm của
cá nhân để khám phá, thưởng thức, tương tác, xác minh các mục tiêu học tập cụ
thể.
2. Sự trải nghiệm trong suốt quá trình đào tạo đã cho sinh viên sư phạm
vốn kinh nghiệm nhất định về NVSP làm phong phú quá trình học tập
Quá trình trải nghiệm, quan sát và phản ánh các hoạt động sư phạm của nhà
giáo trên lớp đã cho sinh viên sư phạm vốn kinh nghiệm nhất định về các nguyên
tắc, quy luật nhận thức của trí tuệ, làm cơ sở để chỉ đạo các nguyên tắc dạy học,
những điều kiện để giúp người học đạt được mục đích học tập. Vì vậy, nhà giáo
nên bắt đầu quá trình dạy học bằng việc khai thác những giá trị của kinh nghiệm
mà bản thân sinh viên sư phạm đã đúc rút ra, sau đó dần dần chuyển sang những
6
vấn đề có liên quan mà họ chưa giải quyết được, tiếp tục từng bước giúp đỡ, hỗ trợ
người học lập kế hoạch và giải quyết vấn đề từ vốn kinh nghiệm đã có của bản
thân, qua đó đúc kết thành kinh nghiệm mới cho bản thân. Trong quá trình đó, cá
Thực tế cho thấy, các nhà trường sư phạm phải cung cấp cho sinh viên một
khối lượng tri thức rất lớn chỉ có thời gian hạn chế (4-5 năm) và cũng không thể đủ
điều kiện vật chất cho việc học và thực hành kỹ năng một các tốt nhất. Vì vậy, nhà
trường chỉ có thể chuẩn bị các nền móng khoa học và thực hành các kỹ năng cốt lõi
cho sinh viên để giúp họ hoàn thiện kỹ năng trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của
mình. Vì thế, giảng viên phải thiết kế và cung cấp cho sinh viên sư phạm các bài
thực hành tiêu biểu cho kỹ năng dạy học của bài học chứ không phải là nhiều về số
lượng. Như vậy, thực hành giúp sinh viên tự mình kiến tạo các tri thức sư phạm
thông qua sự trải nghiệm của bản thân, qua đó rèn luyện thành thạo các kỹ năng
dạy học và chuyển hóa thành kinh nghiệm mới.
4. Rèn luyện thói quen phát triển kinh nghiệm liên tục qua mỗi lần trải
nghiệm dạy học là điều cần thiết để thích ứng với môi trường giáo dục kỹ
thuật luôn thay đổi
Dạy học NVSP phải rèn luyện cho sinh viên sư phạm có lòng khát khao và
sự phê phán của trí tuệ trong khi sử dụng các biện pháp dạy học tốt nhất của mình.
Thói quen này sẽ được hình thành trong mỗi chủ đề học tập, sinh viên được quan
sát, phản ánh các kinh nghiệm dạy học của mình và đi tìm kiếm sự giải thích, ý
tưởng mới, cách làm mới, qua đó tiến hành lập kế hoạch và thử nghiệm ý tưởng
mới, đúc rút thành kinh nghiệm mới cho bản thân. Quá trình này liên tục diễn ra
trong mỗi bài giảng/ chủ đề học tập sẽ hình thành cho sinh viên sư phạm khả năng
phát triển liên tục, khả năng sáng tạo dựa vào kinh nghiệm đã có.
Nếu không hình thành thói quen phát triển kinh nghiệm của bản thân dựa
vào kinh nghiệm đã có ở sinh viên thì giáo viên tương lai có khả năng sẽ lệ thuộc
vào lý thuyết, vào bài giảng mẫu, vào những chỉ dẫn dạy học, vào những thứ mới
mẻ đến từ bên ngoài, hơn là sự sáng tạo của hoạt động trí tuệ độc lập của chính họ,
trở thành những những giáo viên máy móc, vụn vặt, nghi thức và quy tắc trong
nghề nghiệp.
3. Kết luận
Lý thuyết về kinh nghiệm đóng vai trò trung tâm trong triết lý giáo dục của
Dewey, đó là sự vận dụng những tư tưởng chủ nghĩa thực dụng trong triết học của
Chủ
nghĩa
kinh
nghiệm
trong
triết
học,
nguồn
từ
/>[8]. Chủ nghĩa thực dụng (hay chủ nghĩa hành động) trong triết học, nguồn từ
/>9
Nguồn: Nguyễn Văn Hạnh (2015), Triết lý giáo dục của John Dewey và vận dụng
dạy học nghiệp vụ sư phạm trong bối cảnh giáo dục Việt Nam hiện nay, tạp chí
Giáo dục và Xã hội của Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam, số đặc
biệt tháng 11/2015, tr. 13-16.
10