Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ hạ đường máu giai đoạn sơ sinh sớm tại khoa nhi bệnh viện trường Đại học Y-Dược Huế - Pdf 34

1

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

CHẾ THỊ ÁNH TUYẾT

Nghiªn cøu mét sè yÕu tè nguy c¬
h¹ ®êng m¸u giai ®o¹n s¬ sinh sím t¹i khoa nhi
bÖnh viÖn trêng §¹i häc Y-Dîc HuÕ

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn
PGS.TS. NGUYỄN THỊ KIỀU NHI

HUẾ, 2013


2

ĐẶT VẤN ĐỀ
Hạ glucose máu sơ sinh là tình trạng giảm nồng độ glucose trong máu,
đây là hội chứng thường gặp ở trẻ sơ sinh đặc biệt là những ngày đầu sau sinh
[58], nguyên nhân gây bệnh thường là sự suy giảm sản xuất glucose hoặc dự trữ
glycogen ở gan trong thời kỳ bào thai, hoặc sự gia tăng nhu cầu sử dụng glucose,
rối loạn tân tạo glucose, phân hủy glycogen. Bình thường mức độ sử dụng
glucose ở trẻ sơ sinh cao hơn người lớn trong đó não là nơi sử dụng glucose như
một nguồn năng lượng chủ yếu. Đối với trẻ sơ sinh non tháng, thấp cân, dự trữ
glycogen thường giảm, khả năng phân hủy glycogen tạo đường cũng giảm nên
trẻ dễ bị hạ đường máu trong những giờ đầu sau sinh [53].
Từ trong bào thai glucose là loại thức ăn cung cấp năng lượng duy nhất,

trước vấn đề cũng như các yếu tố nguy cơ gây hạ đường máu ở trẻ sơ sinh và
có kế hoạch để đối phó kịp thời bằng cách sàng lọc tất cả những trẻ có nguy
cơ hạ đường máu trong giai đoạn sơ sinh sớm. Vì vậy, đề tài: “Nghiên cứu
một số yếu tố nguy cơ hạ đường máu giai đoạn sơ sinh sớm tại khoa nhi
bệnh viện trường Đại học Y-Dược Huế’’ nhằm các mục tiêu sau:
1. Mô tả tỉ lệ hạ đường máu theo loại sơ sinh và một số bệnh lý thường
gặp giai đoạn sơ sinh sớm.
2. Xác định một số yếu tố nguy cơ từ mẹ, con liên quan đến hạ đường
máu giai đoạn sơ sinh sớm.


4

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TỔNG QUAN HẠ ĐƯỜNG MÁU SƠ SINH
1.1.1. Tầm quan trọng của nồng độ glucose bình thường ở trẻ sơ sinh
Trẻ sơ sinh là con người duy nhất trong số động vật có vú có một bộ
não rất lớn so với kích thước cơ thể. Vấn đề chuyến hóa glucose có tương
quan với trọng lượng não vì não đòi hỏi lượng lớn glucose cho các hoạt động
chức năng bình thường của nó, cũng như nồng độ glucose ở não có quan hệ
tuyến tính với nồng độ glucose huyết tương, khi nồng độ glucose huyết tương
thấp thì nồng độ glucose trong não cũng giảm theo thậm chí bằng 0, trong khi
đó não không thể tổng hợp glucose cũng như không có nguồn dự trữ
glycogen, chính vì lẽ đó tổn thương não thường hay xảy ra [51]. Nhiều nghiên
cứu đã chứng minh các nguồn năng lượng glucose dự trữ thường là thấp ở trẻ
sơ sinh non, trẻ sơ sinh hạn chế tăng trưởng trong tử cung, cũng như những
trẻ dễ bị tổn thương đó là những trẻ sơ sinh bị đa hồng cầu, tăng độ nhớt máu,
hạ huyết áp và giảm cung lượng tim, lại là những vấn đề gặp phổ biến trong
cả hai trẻ chậm tăng trưởng trong tử cung và trẻ sinh non. Do đó, càng làm

tuần và ≥ 40 tuần (với p < 0,001) [45].
Sự vận chuyển glucose từ mẹ sang thai nhi theo cơ chế khuếch tán dễ
dàng theo cả 2 phía. Số lượng đường cung cấp chỉ sử dụng cho thai khoảng
40-50%, còn lại để rau thai sử dụng cho các phản ứng oxy hóa, vận chuyển,
chuyển hóa đường, do có sự liên quan trao đổi qua lại giữa đường máu mẹ và
đường máu thai nhi nên nồng độ đường máu bào thai luôn giữ ở mức 70-80%
máu mẹ. Glucose khuyếch tán từ máu mẹ sang con dự trữ dưới 2 dạng chính:
+ Glycogen ở gan, cơ tim: bắt đầu từ tuần thứ 36.
+ Mỡ dưới da và nơi khác: bắt đầu từ tuần thứ 28 đến tuần thứ 30.


6

Sau khi sinh nguồn cung cấp glucose cho trẻ sơ sinh bị gián đoạn đột
ngột và nồng độ glucose trong máu giảm, hiện tượng này là phổ biến và là
sinh lý bình thường cần thiết để kích hoạt chức năng sản xuất glucose ở trẻ sơ
sinh. Những thay đổi hormon và chuyển hóa khi sinh tạo điều kiện thích nghi
cho trẻ sau sinh. Nồng độ catecholamine tăng rõ rệt khi sinh và cùng với
glucagon kích hoạt quá trình phosphoryl hóa glycogen tại gan và quá trình
phân giải glycogen tại gan. Sự tăng tiết cortisol kích thích glucose-6phosphatase tại gan hoạt động và giải phóng glucose ở gan. Tăng
catecholamine cũng kích thích sự phân giải lipid, cung cấp năng lượng (ATP)
và cùng yếu tố (NADPH) tăng cường hoạt động của các enzyme chịu trách
nhiệm tổng hợp glycogen [65].
Trong những ngày đầu năng lượng được cung cấp chủ yếu dựa vào
các dự trữ đường, quan trọng nhất là phản ứng của tụy tiết ra glucagon có lợi
cho nội tiết để nồng độ đường trong máu có thể được duy trì. Các enzyme
tham gia sản xuất đường cũng tăng mạnh sau khi sinh đảm bảo nồng độ
đường cần thiết cho các hoạt động sống ngoài tử cung, bên cạnh đó nồng độ
insulin cũng giảm dần theo giờ tuổi trung bình 1,17mU/l trong 12 giờ đầu
sau sinh xuống còn 1,03mU/l trong 12-24 giờ sau sinh [30]. Cơ chế này có

Có rất nhiều định nghĩa của hạ đường máu trẻ sơ sinh, từ điển y khoa
Stedman đã định nghĩa hạ đường máu là sự sụt giảm bất thường của glucose
trong máu, các câu hỏi đã được đặt ra là: so với cái gì? giảm như thế nào? liên
quan với những gì: chẳng hạn như lưu lượng máu não, nồng độ hemoglobin
hoặc hematocrit, mức oxygen, tình trạng thiếu oxy hay thiếu máu cục bộ, tình
trạng nhiễm trùng ..? Thuật ngữ hạ đường máu cũng liên quan đến sử dụng
glucose ở các mô, tế bào, cơ quan. Thuật ngữ hạ đường máu được định nghĩa
lần đầu tiên vào năm 1937 với mức nhẹ là từ 2,2-3,3mmol/l, vừa là 1,12,2mmol/l, nặng là
1.1.7. Các yếu tố nguy cơ hạ đường máu sơ sinh [7], [69].
- Về phía con:
+ Trẻ nhẹ cân, suy dinh dưỡng bào thai < 2500gr
+ Trẻ đẻ non
+ Trẻ già tháng
+ Trẻ > 4000gr
+ Trẻ sinh đôi
+ Trẻ nhiễm trùng
+ Trẻ bị ngạt
+ Trẻ hạ thân nhiệt
+ Trẻ truyền thay máu
+ Trẻ có các bệnh bẩm sinh


10

- Về phía mẹ:
+ Mẹ bị đái tháo đường
+ Mẹ tăng cân quá mức
+ Mẹ sinh mổ có truyền đường
+ Mẹ đẻ thường có truyền đường
+ Mẹ dùng thuốc propranolon, cocain, amphetamin
Trên thực hành lâm sàng AAP cũng đã có hướng dẫn về các yếu tố
nguy cơ của hạ đường máu sơ sinh cũng như các yếu tố giúp tiên lượng nồng
độ glucose cần phải truyền để duy trì nồng độ glucose bình thường trong máu
trẻ sơ sinh giúp tránh các nguy cơ tổn thương não [27].
1.1.8. Phân mức hạ glucose máu sơ sinh
Hạ đường máu sơ sinh nhiều khi là một cấp cứu cần xử trí kịp thời,
những trẻ có nguy cơ hạ đường máu cần phải kiểm tra glucose máu trong 2
giờ đầu mới sinh để có kế hoạch đối phó xử trí kịp thời.

5 phút.
+ Nếu chưa lấy được đường tĩnh mạch cho ngay 2ml/kg Glucose 10%
bơm qua ống thông dạ dày.
+ Cho truyền dung dịch Glucose 10% duy trì theo bảng sau:
Bảng 1.1. Tổng lượng sữa hoặc dịch hàng ngày của trẻ từ khi ra đời
Ngày tuổi

1

2

3

4

5

6

7

Sữa hoặc
dịch ml/kg

60

80

100


1.2. TỔNG QUAN VỀ SƠ SINH
1.2.1. Thời kỳ bào thai và thời kỳ sơ sinh
Trứng phát triển liên tục suốt trong 37 tuần kể từ khi thụ thai đến khi
được đẻ ra. Trong giai đoạn này sự chuyển hóa của thai dựa trên tuần hoàn
rau xảy ra một cách dễ dàng và tùy thuộc vào chất lượng của rau, sự chuyển
hóa này dựa trên hai loại chất dinh dưỡng chính là glucose và acid amin,
trong đó glucose là loại thức ăn cung cấp năng lượng duy nhất của thai. Nồng
độ glucose máu của thai bằng nồng độ glucose nước não tủy của mẹ, nghĩa là
≥ 50% nồng độ glucose máu của mẹ. Glucose trong thai có nhiệm vụ tạo dự
trữ chất béo và glucose trong quí 3 của quá trình trưởng thành của thai [11].
Thời kỳ sơ sinh [2] là thời kỳ bắt đầu cuộc sống bên ngoài từ lúc
sinh ra đến 4 tuần tuổi. Thường được chia làm 2 giai đoạn đó là giai đoạn
sơ sinh sớm (ngày thứ 0 đến ngày thứ 6 sau sinh), giai đoạn sơ sinh muộn (
từ ngày thứ 7 đến ngày 28 sau sinh).
Có rất nhiều sự việc tác động vào lúc đẻ tạo sự chuyển tiếp hài hòa từ
cuộc sống phụ thuộc hoàn toàn vào người mẹ trong môi trường nước ối trong


13

tử cung sang một cuộc sống độc lập ngoài trời bao la, phóng khoáng. Sự
chuyển tiếp đó có 4 sự kiện cơ bản xảy ra đối với đứa trẻ:
+ Sự thay đổi về hệ thống tuần hoàn
+ Sự thành lập một hệ hô hấp có hiệu lực
+ Thận đảm bảo điều hòa môi trường bên trong cơ thể trẻ
+ Cơ thể trẻ phải tự điều hòa thân nhiệt.
Như vậy, một trẻ sơ sinh muốn tồn tại bằng hoạt động của chính cơ
thể thì cần phải có một sự thích nghi tốt. Để cho giai đoạn chuyển tiếp này
được điều hòa cần phải có các hoạt động: về hô hấp (phổi bắt đầu hoạt
động để tự cung cấp oxy), tuần hoàn (vòng tuần hoàn khép kín thay thế

≥ 42 TUẦN

Cân nặng thấp
so tuổi thai

Cân nặng
lớn so tuổi
thai

Sơ đồ 1.1. Phân loại sơ sinh của WHO theo tuổi thai và cân nặng
1.2.2.1. Sơ sinh đủ tháng
- Tiêu chuẩn chẩn đoán:
+ Tuổi thai từ 37 tuần - 41 tuần 6 ngày.
- Dựa vào cân nặng so với tuổi thai có thể phân thành 3 loại:
+ Sơ sinh già tháng cân nặng tương ứng so tuổi thai
+ Sơ sinh già tháng cân nặng thấp so tuổi thai
+ Sơ sinh già tháng cân nặng lớn so tuổi thai
1.2.2.2. Sơ sinh đẻ non
- Tiêu chuẩn chẩn đoán:
+ Tuổi thai từ < 37 tuần
- Các mức độ đẻ non: Có 3 mức độ đẻ non theo tuổi thai:
+ Loại cực non: SSĐN < 28 tuần
+ Loại rất non: SSĐN 28 - 33 tuần
+ Loại đẻ non: SSĐN > 33 - 37 tuần.
- Dựa vào cân nặng so với tuổi thai có thể phân thành:
+ Sơ sinh đẻ non cân nặng tương ứng tuổi thai < 28 tuần, 28 - 32 tuần


15


móng chân

Dài

Dài, vàng

Dài, xanh thẫm màu phân su

Bong tự nhiên Bong từng mảng nhiều vị trí

- Dựa vào cân nặng so với tuổi thai có thể phân thành 3 loại:
+ Sơ sinh già tháng cân nặng tương ứng so tuổi thai
+ Sơ sinh già tháng cân nặng thấp so tuổi thai
+ Sơ sinh già tháng cân nặng lớn so tuổi thai
1.2.3 Loại sơ sinh và hạ đường máu
1.2.3.1 Loại sơ sinh đủ tháng và hạ đường máu
Hạ đường máu trẻ sơ sinh có thể xảy ra ở mọi tuổi thai vì không đáp
ứng đủ trao đổi chất do sự ngưng đột ngột của việc cung cấp glucose từ mẹ
sau khi sinh, tỷ lệ hạ đường máu là tỉ lệ nghịch với tuổi thai. Trong vòng 12
đến 24 giờ đầu tiên sau khi sinh, nồng độ các enzyme cần thiết cho chuyển
hóa glycogen và ceton tại gan tăng nhanh do đó hạ đường máu thường được
giải quyết [70].


16

Bình thường lượng đường trong máu ở trẻ sơ sinh đủ tháng là cao hơn
so với trẻ sơ sinh đẻ non, tác giả Kumar A đã đưa ra kết luận rằng nồng độ
glucose máu sau sinh ở nhóm trẻ sơ sinh non tháng luôn thấp hơn đáng kể so với
sơ sinh đủ tháng tại các thời điểm 1giờ, 2giờ, 12giờ, 24giờ, 48giờ. Do khả năng

Hạ đường máu là một trong những vấn đề phổ biến nhất ở trẻ sơ sinh,
đặc biệt là ở trẻ sinh non, hạ đường huyết có triệu chứng hoặc không có triệu
chứng có thể đưa ra các biến chứng quan trọng có thể gây tử vong hoặc chậm
phát triển sau này trong đời. Theo Asril Aminullah và cộng sự đã tiến hành
một nghiên cứu cắt ngang từ tháng 09 năm 1999 đến tháng 05 năm 2000 để
xác định các yếu tố liên quan đến hạ đường máu ở trẻ sinh non được điều trị
tại Phòng chu sinh, Bệnh viện Cipto Mangunkusumo, Jakarta. Kết quả có 112
trẻ sơ sinh với tuổi thai trong khoảng 22-37 tuần (trung bình là 33,3 tuần) , và
trọng lượng khoảng 850-2440 gram (trung bình 1801 gam), có 27 trong số
112 trẻ sơ sinh hạ đường huyết, nhóm tác giả cũng đã nhận thấy: cân nặng lúc
sinh, mức độ ngạt, cân nặng nhỏ hơn so tuổi thai (SGA), hội chứng suy hô
hấp, con các bà mẹ truyền tĩnh mạch glucose đều có liên quan đáng kể với hạ
đường huyết ở trẻ sinh non [25].
1.2.3.3. Loại sơ sinh già tháng và hạ đường máu
Vì quá ngày nên thai bị nuôi dưỡng kém do nhau thai bị hủy hoại,
mạch máu rốn bị tắt, tế bào nhau lắng đọng fibrin canxi hóa dẫn đến rối loạn
vận chuyển các chất dinh dưỡng. Lớp mỡ dưới da rất mỏng cân nặng giảm đi,
vì vậy trẻ sinh ra có có hình dạng giống như trẻ chậm phát triển trong tử cung,
đây là nhóm trẻ có nguy cơ cao về các bệnh lý giai đoạn sơ sinh sớm đặt biệt
là giảm glucose máu. Thống kê tỉ lệ chết chu sản nhóm trẻ này cao hơn gấp
đôi so với trẻ đủ tháng và gấp 4 nếu như thai già tháng có cân nặng dưới 2500
gram [10], [11]. Nghiên cứu của tác giả Costello A cũng đã chứng minh được
rằng chỉ số đường máu ở trẻ già tháng luôn thấp hơn so với trẻ đủ tháng [30].


18

1.2.3.4. Loại sơ sinh sơ sinh cân nặng nhỏ hơn so tuổi thai và hạ đường máu
Loại sơ sinh cân nặng nhỏ hơn so tuổi thai nguy cơ hạ đường máu cũng
dễ xảy ra vì trong những ngày đầu năng lượng cung cấp chủ yếu dựa vào các dự

đường máu sơ sinh trong những ngày đầu sau đẻ. Nghiên cứu của Akin Y và
cộng sự trên nhóm trẻ sơ sinh quá dưỡng có cân nặng > 4 kg và nhóm trẻ sơ
sinh có cân nặng từ 2,5 kg – 4 kg cho thấy hạ đường máu xảy ra nhiều hơn
cũng như các bệnh lý giai đoạn sơ sinh sớm như ngạt, đa hồng cầu ở nhóm trẻ
sơ sinh quá dưỡng [21].
1.3 TỔNG QUAN CÁC BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP GIAI ĐOẠN SƠ
SINH SỚM
1.3.1. Ngạt sơ sinh
Có khoảng xấp xỉ 10% trẻ khi sinh ra cần phải được hỗ trợ hô hấp ngay
sau khi sinh để giúp trẻ có được nhịp thở đầu tiên. Khoảng 1% trẻ cần phải
hồi sức tích cực hơn bao gồm cả thông khí áp lực dương. Ngạt sơ sinh là yếu
tố quan trọng cần phải được dự đoán trước, can thiệp nhanh và hiệu quả nhằm
lặp lại nhịp thở bình thường cho trẻ ngay sau sinh. Ngạt sau sinh là một trong
những yếu tố quan trọng góp phần làm tỷ lệ tử vong chu sinh ngày càng tăng.
Theo nghiên cứu của Ersdal HL và cộng sự về nguyên nhân tử vong trong 24
giờ đầu tiên sau đẻ tại một bệnh viện ở Tanzania, tác giả đã nhận thấy lên đến
61% nguyên nhân tử vong trong 24 giờ đầu tiên là do ngạt sau sinh [35]. Như
vậy một trẻ sơ sinh sinh ra cần phải đánh giá xem rằng trẻ ngay sau đẻ có cần
phải hồi sức hay không, về phương diện lâm sàng việc đánh giá nhanh 4 điểm
sau rất cần thiết :
- Trẻ có đủ tháng hay không ?
- Nước ối không có phân su ?
- Trẻ có thở tốt không ?
- Trương lực cơ có tốt không ?


20

Nếu tất cả 4 điểm trên đều có nghĩaứng tỏ là một trẻ sinh ra đủ tháng, nước
ối không có phân su, thở tốt, và trương lực cơ tốt, thì trẻ không cần phải hồi sức và

hóa dễ thấm, số lượng thực bào giảm và ít hiệu quả, dễ bị nhiễm trùng máu
trước khi sinh, có thể bị lây nhiễm trong khi sinh, miễn dịch tế bào yếu vào lúc
sinh vì IgG được truyền từ mẹ và IgM không được truyền từ mẹ qua thai.
Triệu chứng lâm sàng của NTSS rất đa dạng, không điển hình, không
đặc hiệu bao gồm: triệu chứng thay đổi thân nhiệt (thân nhiệt có thể tăng, bình
thường hoặc hạ, hạ thân nhiệt hay gặp ở trẻ sinh non, sự chênh lệch nhiệt độ
hơn 3,5°C giữa nhiệt độ hậu môn và nhiệt độ lòng bàn tay cũng là dấu hiệu
của nhiễm trùng. Triệu chứng hô hấp ( gồm các dấu hiệu như thở nhanh > 60
lần/phút, co lõm ngực, thở rên, cơn ngưng thở, thở chậm > 30 lần/phút, ngưng
thở là biểu hiện chậm của nhiễm trùng. Triệu chứng tuần hoàn (nhịp tim
nhanh, kém tưới máu ngoại biên là dấu hiệu nhạy của nhiễm trùng huyết).
Triệu chứng tiêu hóa (bú kém, chướng bụng, nôn ói, tiêu chảy thường là dấu
hiệu sớm của nhiễm trùng huyết, gan to, lách to ít gặp). Triệu chứng thần kinh
(kém thức tỉnh, kém vận động). Vàng da là dấu hiệu lâm sàng thường thấy nhất,
có thể xuất hiện từ từ hay đột ngột, gặp trong 1/3 trường hợp nhiễm trùng huyết,
triệu chứng vàng da giảm khi tình trạng nhiễm trùng cải thiện [2], [12].
1.3.3. Vàng da tăng bilirubin tự do
Vàng da tăng bilirubin tự do chiếm 25-50% ở trẻ đủ tháng và cao hơn ở
trẻ non tháng. Vàng da bệnh lý đôi khi khó phân biệt với vàng da sinh lý vì ở
một số trẻ có yếu tố nguy cơ và/ hoặc đẻ non với một nồng độ bilirubin dẫu ở
mức sinh lý vẫn có thể gây vàng da nhân. Những yếu tố nguy cơ làm vàng da
sinh lý có thể chuyển thành bệnh lý như hạ đường máu, hạ thân nhiệt, giảm
oxy sau sinh, khối máu tụ do sang chấn lúc sinh.
Trên thực hành lâm sàng vàng da ở bất cứ vị trí nào trên cơ thể mà xuất
hiện ngày đầu tiên hoặc vàng da lòng bàn tay, bàn chân xuất hiện ngày thứ 2
là vàng da nặng cần phải điều trị chiếu đèn ngay không phải đợi kết quả xét


22



trong máu nguyên nhân do tăng khối máu thứ phát vì thiếu oxy trong tử cung
hoặc do hội chứng thai cho máu nhận máu trong song thai, đa hồng cầu có
liên quan đến nhiều bệnh khác nhau là do hậu quả của tăng độ nhớt máu, hình
thành nên các micro huyết khối ảnh hưởng đến nhiều cơ quan đặc biệt là ruột,
não, thận, thượng thận. Những trẻ sơ sinh già tháng > 42 tuần, trẻ sơ sinh
chậm phát triển trong tử cung, trẻ sơ sinh có cân nặng lớn hơn so tuổi thai, trẻ
song sinh, trẻ sơ sinh con của các bà mẹ đái tháo đường và cả những trẻ sơ
sinh bất thường nhiễm sắc thể đều dễ bị đa hồng cầu [43]. Đa hồng cầu làm
tăng độ nhớt của máu và cản trở lưu lượng máu đến các cơ quan gây ra nhiều
biến chứng nặng nề thậm chí có thể tử vong, có 15-20% trẻ đẻ yếu bị đa hồng
cầu kết hợp với Erythroblast (>2000/mm³) tình trạng này dẫn đến hạ đường
máu và tăng độ quánh của máu.
Triệu chứng lâm sàng của đa hồng cầu như là da đỏ ửng, đây là dấu
hiệu thường gặp nhất và cũng là dấu hiệu giúp các nhà lâm sàng chẩn đoán
sớm can thiệp đúng, kịp thời. Ngoài ra các dấu hiệu khác như là triệu chứng
hô hấp, tim mạch (thở nhanh, suy hô hấp, ngưng thở , tím tái, suy tim), triệu
chứng thần kinh (lừ đừ, kích thích, bú kém, co giật), các triệu chứng khác
(vàng da, hạ đường máu, viêm ruột hoại tử…). Như vậy triệu chứng lâm sàng
của bệnh lý đa hồng cầu thường nhầm lẫn với triệu chứng các bệnh lý khác
như thiếu khí não, NTSS sớm... vấn đề điều trị các bệnh lý giai đoạn sơ sinh
là theo nguyên nhân và theo cơ chế bệnh sinh. Điều trị đa hồng cầu là thay
máu một phần nhằm loại bỏ bớt thể tích máu thay bằng dung dịch để pha loãng
bớt nồng độ do đó nếu không có kế hoạch chủ động tầm soát bệnh trên lâm sàng
sẽ dẫn đến xử trí và điều trị sai lầm, làm bệnh nặng gây tử vong hoặc nếu sống
được có thể để lại di chứng thần kinh nặng nề cho trẻ sau này [2]. Theo tác giả
Jeevasanka M tỷ lệ đa hồng cầu chiếm 1,5 - 4% trường hợp trẻ sinh ra, tỷ lệ này
tăng lên đến 15% ở trẻ sơ sinh SGA so với 2% trẻ sơ sinh AGA [43].




25

Nghiên cứu của Meiji A và cộng sự nghiên cứu hạ đường máu trong 36
giờ đầu tiên của cuộc sống trên trẻ sơ sinh đủ tháng cân nặng thấp tại một
bệnh viện ở Quebec từ tháng 7 năm 2005 đến tháng 6 năm 2006 nhận thấy tỷ
lệ hạ đường máu là 26% [55].
Nghiên cứu của Croke J, nghiên cứu trên trẻ sơ sinh đủ tháng có cân
nặng lớn hơn so với tuổi thai và nhỏ hơn so với tuổi thai có 36% là SGA và
64% là LGA trong đó tác giả đã ghi nhận được có 26% trẻ sơ sinh đủ tháng
SGA bị hạ đường máu và 17% trẻ sơ sinh đủ tháng LGA có nồng độ thấp hơn
2,6 mmol/l [28].
Nghiên cứu của Opara PI và cộng sự cho thấy tỉ lệ mắc và tử vong sơ
sinh ở các bà mẹ bị tiểu đường tại một đơn vị chăm sóc trẻ đặc biệt ở Port
Harcourt , Nigeria cho thấy trẻ sơ sinh sinh ra từ mẹ mắc bệnh tiểu đường có
một số điểm khác biệt bao gồm thai to và tỉ lệ mắc bệnh lý sơ sinh cao, tử
vong sơ sinh cao gấp 5 lần và cao hơn ở tất cả các tuổi thai [60].
Nghiên cứu của Hirst JE và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu thuần
tập tương lai tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ đái tháo đường trên
phụ nữ có thai là 6,1% còn rối loạn dung nạp glucose là 20,3% và tương ứng
nguy cơ hạ đường máu sơ sinh lên đến 4,94 lần so với 3,34 lần [38].
Nghiên cứu của Al-Khalifah R và cộng sự về hạ đường máu sơ sinh
tiến hành trên hai nhóm có mẹ bị đái tháo đường và nhóm có mẹ không bị đái
tháo đường thấy nhóm có mẹ đái tháo đường có nguy cơ hạ đường máu gấp
3,19 lần và cần phải nhập viện cấp cứu [22], cũng như nghiên cứu của Chang
AL trên trẻ sơ sinh con của nhóm bà mẹ bị đái tháo đường và con của bà mẹ
không bị đái tháo đường nhận thấy tỷ lệ hạ đường máu sơ sinh tương ứng là
49% so với 20% [29].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status