TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH – MARKETING
MÔN MARKETING QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI SỐ 1
PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA
NGÀNH GẠO VIỆT NAM XUẤT KHẨU SANG THỊ
TRƯỜNG INDONESIA.
Lớp Thương Mại – VB2.K14
GVHD: Th.S Quách Thị Bửu Châu
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 8/2012
THÀNH VIÊN NHÓM 1
STT
HỌ VÀ TÊN
LỚP
1
Phạm Minh Toàn
TM – VB2.K14
2
Nguyễn Vinh Thái
Phạm Minh Toàn
1. Tình hình chung ngành lúa gạo Việt nam
Phạm Minh Toàn
2. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Indonesia
Nguyễn Vinh Thái
3. Tổng quan thị trường lúa gạo Indonesia
Nguyễn Vinh Thái
4.1. Lý thuyết cạnh tranh bằng mô hình ‘‘kim cương’’ của Michael Porter Đỗ Thị Ngọc Anh
4.2 Phân tích cạnh tranh ngành xuất khẩu gạo Việt Nam và Thái Lan
Đỗ Thị Ngọc Anh
4.2.1 Yếu tố sản xuất (thâm dụng)
4.2.2 Các ngành công nghiệp liên quan và phụ trợ
Võ Thị Hồng Anh
4.2.3 Chiến lược cấu trúc cạnh tranh
Võ Thị Hồng Anh
4.2.4 Yếu tố nhu cầu
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
............................................................................................
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. TÌNH HÌNH CHUNG NGÀNH LÚA GẠO VIỆT NAM
2.
1.1. Thực trạng sản xuất lương thực và lúa hàng hóa tại Việt Nam.
1.1.1. Tình hình chung
1.1.2. Sản xuất lúa hàng hoá ở đồng bằng sông Cửu Long
1.1.3. Thực trạng chế biến lúa gạo hiện nay
1
1
1
2
3
3. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG LÚA GẠO INDONESIA
3.1. Sản xuất
3.2. Tiêu thụ
3.3. Nhập khẩu
3.4. Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Indonesia
19
19
20
20
21
3.5. Tình hình tiêu thụ gạo trong nước của Indonesia
24
4. PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH…
4.1. Lý thuyết cạnh tranh bằng mô hình ‘‘kim cương’’ của Michael Porter
4.2. Phân tích cạnh tranh ngành xuất khẩu gạo Việt Nam và Thái Lan
4.2.1. Yếu tố sản xuất (thâm dụng)
4.2.2. Các ngành công nghiệp liên quan và phụ trợ
4.2.3. Chiến lược cấu trúc cạnh tranh
4.2.4. Yếu tố nhu cầu
4.2.5. Yếu tố ngẫu nhiên
26
26
27
27
31
của Việt Nam sang Indonesia đạt hơn 1 tỉ đô la Mỹ trong tổng 2.35 tỉ đô la Mỹ xuất khẩu
của Việt Nam sang nước này trong năm 2011.
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu nhằm phân tích những lợi thế cạnh tranh của gạo
Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Indonesia bằng mô hình kim cương của Michael
Porter. Đồng thời đề xuất những giải pháp và hướng đi mới trong việc xuất khẩu gạo của
Việt Nam trong những năm tiếp theo.
1. TÌNH HÌNH CHUNG NGÀNH LÚA GẠO VIỆT NAM
1.1. Thực trạng sản xuất lương thực và lúa hàng hóa tại Việt Nam.
1.1.1. Tình hình chung
Sản xuất lúa gạo đã gắn liền với truyền thống lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và
giữ nước của dân tộc Việt Nam. Cây lúa có vị trí rất quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp và đời sống của người Việt Nam. Hiện nay, sản lượng lúa chiếm trên 90% sản
lượng cây lương thực có hạt, liên quan đến việc làm và thu nhập của khoảng 80% số hộ
nông dân. Lúa gạo cung cấp khoảng 60% năng lượng trong khẩu phần ăn của người dân
Viêt nam. Vì vậy cây lúa luôn có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương
thực quốc gia của việt nam.
Trong hơn 20 năm qua, sản xuất và kinh doanh lúa gạo của Việt Nam có nhiều cố
gắng và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Năng suất và sản lượng lúa đã tăng gấp
khoảng 2 lần, hiện nay năng suất bình quân đạt 5,3 tấn/ha một vụ, riêng vụ Đông Xuân,
nhiều nơi ở ĐBSCL và ĐBSH đã đạt 7 tấn/ha. Sản xuất lúa gạo phát triển, đã đưa Việt
Nam từ một nước nhiều năm thiếu lương thực trở thành một nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2
của thế giới. Trong 22 năm qua, Việt Nam đã xuất khẩu trên 75 triệu tấn gạo, trị giá 23 tỷ
USD. Thu nhập của người trồng lúa ngày càng được nâng lên. Hiện nay Việt Nam còn cử
chuyên gia đi chia sẻ kinh nghiệm của mình cho nhiều nước châu Á, châu Phi, Mỹ la
tinh… được Chính phủ, nhân dân nước bạn và cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Việt Nam có hai vùng trồng lúa chính là đồng bằng sông Hồng ở phía bắc và đồng
bằng sông Cửu Long ở miền Nam. Hàng năm sản lượng của cả nước đạt 33-34 triệu tấn
thóc, trong đó chỉ sử dụng khoảng 8 triệu tấn (tương đương 4 triệu tấn gạo sau khi xay
nguyên liệu, chế biến và bảo quản tốt hơn, chất lượng gạo được bảo đảm. Các doanh
nghiệp xuất khẩu gạo được chấn chỉnh nên tính chuyên nghiệp trong hoạt động được nâng
lên, có trách nhiệm với khâu sản xuất của người nông dân hơn. Năm 2010 diện tích lúa
Đồng bằng song Cửu Long là 3,939.799ha, tăng 104.808ha so năm 2009 (tăng chủ yếu vụ
HT và TĐ); năng suất bình quân 5,47 tấn/ha, tăng 1,28 tạ/ha; sản lượng đạt 21.557,936
tấn, tăng 1.064.957 tấn
Hiện tượng bán phá giá, gây thiệt hại đến quyền lợi của người sản xuất, của doanh
nghiệp đã được hạn chế. Số lượng doanh nghiệp xây dựng vùng nguyên liệu chuyên canh
bảo đảm sản xuất đáp ứng yêu cầu chất lượng và xây dựng thương hiệu hàng hóa tăng
thêm. Hệ thống thương lái và xay xát bước đầu được tổ chức lại theo hướng gắn kết với
7
các doanh nghiệp xuất khẩu và mua lúa gạo theo giá thị trường, bảo đảm cho người trồng
lúa có lãi từ 30% trở lên.
Đồng bằng sông Cửu Long đang khuyến khích các doanh nghiệp chuyển dần từ
phương thức kinh doanh truyền thống (theo kiểu thu mua, chế biến, phân loại rồi xuất
khẩu) sang hình thức đầu tư kinh doanh xuất khẩu; phối hợp với địa phương và nông dân
để sản xuất lúa chất lượng cao, chủ động đầu ra và bán với giá cao hơn, trong đó phải làm
tốt hai khâu là chất lượng và thương hiệu.
Được biết, nhiều doanh nghiệp chuyên doanh gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long
hiện bị hạn chế về vốn, khả năng bảo quản yếu, thời gian bảo quản ngắn đã gây sức ép lên
các doanh nghiệp trong việc trữ gạo chờ giá lên. Đa số các doanh nghiệp chưa tự tổ chức
được vùng nguyên liệu, còn dựa vào cung cầu thị trường. Nhiều doanh nghiệp thiếu liên
kết với người sản xuất, nhà khoa học và các doanh nghiệp khác để nâng cao chất lượng
sản phẩm và tăng sức cạnh tranh.
1.1.3. Thực trạng chế biến lúa gạo hiện nay.
Việt Nam hiện sản xuất hơn 38 triệu tấn lúa mỗi năm, trong đó dành trên dưới 5
triệu tấn gạo cho xuất khẩu. Tuy vậy, có một nghịch lý là hiện nay hệ thống kho chứa,
công nghệ sản xuất quá lạc hậu, cũ kỹ nên chỉ mang tính tạm thời và công suất chứa chỉ
ngoại tệ cho đất nước nhập khẩu máy móc, trang thiết bị hiện đại hóa cho nhiều ngành
công nghiệp đồng thời, giữ vững an ninh lương thực.
Đến năm 2007, kinh tế Việt Nam mới chính thức hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu,
nhưng người nông dân sản xuất gạo Việt Nam đã tham gia thị trường toàn cầu từ trước đó
gần 2 thập niên. Từ năm 1989, Việt Nam đã trở thành một nhà cung cấp gạo quan trọng
trên thị trường gạo thế giới. Giai đoạn 1989-2008, Việt Nam xuất khẩu bình quân hàng
năm trên 3 triệu tấn gạo sang 128 quốc gia, đạt mức 5,2 triệu tấn vào năm 2005.
Đặc biệt, năm 2009, Việt Nam có một kỷ lục mới về sản lượng xuất khẩu. Việt Nam
đã ký hợp đồng xuất khẩu được hơn 6,82 triệu tấn gạo. Nếu năm 2008 là năm đánh dấu
mốc kim ngạch xuất khẩu gạo vượt qua con số 2 tỷ USD thì năm 2009 là năm lập kỷ lục
về số lượng gạo xuất khẩu với 6 triệu tấn.
Với thị trường toàn cầu, gạo Việt Nam ngày càng khẳng định được vị trí, giữ được
giá xuất khẩu, loại gạo cấp trung bình có khả năng cạnh tranh cao. Việc duy trì các thị
trường truyền thống đóng vai trò nền tảng giúp ngành lúa gạo Việt Nam có thời gian khắc
9
phục khiếm khuyết về giống lúa, chất lượng gạo, tập quán canh tác, sức chứa kho dự trữ,
công nghệ sau thu hoạch, công nghệ chế biến…
Tuy vậy, các chuyên gia kinh tế đánh giá công tác điều hành xuất khẩu gạo cũng
đang bộc lộ những tồn tại, yếu kém cần khắc phục như chưa xác định rõ trách nhiệm của
thương nhân xuất khẩu gạo với trách nhiệm bình ổn giá thu mua, buôn bán. Trong tổng số
hơn 200 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu gạo hiện nay, nhiều doanh nghiệp năng lực yếu
kém, chỉ tham gia xuất khẩu khi thị trường có lợi và mới chỉ làm được “phần ngọn” của
quá trình sản xuất, chế biến, lưu thông, xuất khẩu.
Hiện nay thị trường gạo Việt Nam đang có dấu hiệu thuận lợi, nhưng nhu cầu nhập
khẩu gạo của các nước châu Á, châu Phi chưa rõ ràng. Do đó, Việt Nam cần có hệ thống
dự báo chính xác, nhạy bén; tổ chức tốt hệ thống thu mua, chế biến và bảo quản để bảo
đảm chất lượng gạo; đồng thời mở rộng khả năng chủ động ứng phó diễn biến thị trường;
công tác điều hành xuất khẩu sắp có cơ chế mới phù hợp, chỉnh đốn đội ngũ doanh nghiệp
Trong tháng 05/2012, lượng gạo xuất khẩu đạt 737 nghìn tấn, giảm 15,5% so với
tháng trước. Tính đến hết tháng 5/2012 lượng xuất khẩu mặt hàng này của cả nước đạt
2,93 triệu tấn, giảm 12,9% và kim ngạch là 1,36 tỷ USD giảm 17,9% so với cùng kỳ năm
2011.
Lượng, trị giá xuất khẩu gạo 5 tháng/2012 so với 5 tháng/2011
13
Nguồn: Tổng cục Hải quan
2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA GẠO Ở INDONESIA
2.1. Sản xuất lúa gạo ở Indonesia
Indonesia đứng thứ 3 trên thế giới về tổng sản lượng lúa, nhưng cũng là nước nhập
khẩu gạo lớn thứ 7 trên thế giới trong vòng 5 năm qua - trung bình nhập hơn 1,1 triệu tấn
gạo mỗi năm. Trong số các quốc gia sản xuất gạo lớn nhất thế giới chỉ có
Philippines và Indonesia cũng được xếp hạng trong top ten của tất cả các nước nhập khẩu
gạo. Do sự thiếu hụt trầm kha về sản xuất lúa gạo, an ninh lương thực và mưu cầu tự cung
tự cấp gạo quốc gia đã trở thành mối quan tâm chủ yếu của Chính phủ Indonesia. Gạo là
lương thực chính của đất nước, Indonesia có mức tiêu thụ gạo trên đầu người đứng hàng
thứ 7 trên thế giới, khoảng 139 kg trên đầu người/tháng.
Chính phủ Indonesia ước tính rằng người dân dùng gạo cung cấp khoảng 40-50%
nhu cầu lượng calo hàng ngày và yêu cầu lượng protein tương ứng. Đối với đất nước này
có 248 triệu dân (The World Factbook), tình trạng cung cấp gạo liên quan đến an ninh
lương thực của nước này. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tổng số gạo tiêu thụ đã
được tăng nhanh hơn so với sản xuất, nhưng tốc độ tăng trưởng diện tích trồng lúa quốc
gia và năng suất đã khựng lại.
Sự mất cân bằng này dẫn đến giá cả lương thực ngày càng tăng trong nước nhất là
14
15
lệ thuộc nước trời.Vùng đồng bằng trồng lúa tập trung nhiều ở Java, nhưng cũng phổ biến
trên các đảo Sumatra và Sulawesi –cả ba 3 hòn đảo này góp khoảng 89% tổng sản lượng
gạo quốc gia.
Ngoài ra còn có một lượng nhỏ lúa được trồng trên các đảo bên ngoài theo một hệ
thống canh tác truyền thống. Với cách canh tác quảng canh này chủ yếu với nông dân sản
xuất nhỏ ở vùng sâu, vùng xa, những người đang thiết lập một trang trại trồng hỗn hợp
của cây cao su và cây lương thực. Cây lúa được trồng xen trong các vườn cao su mới
trồng hoặc vườn cao su già cổi đã bị đốn hạ. Ở đây nông dân thường trồng xen lúa nương
và ngô trong vườn cao su để tự túc lương thực.
Ruộng lúa lệ thuộc nước trời ở Indonesia
Thuỷ lợi là nền tảng cho hệ thống canh tác lúa ổn định cho năng suất cao trên toàn
thế giới, và Indonesia không là ngoại lệ. Độ chắc chắn của sản xuất lúa gạo hàng năm
được tăng cường rất nhiều thông qua kiểm soát gia tăng qua thời gian và khối lượng nước
được sẵn có để cây lúa cần trong thời gian phát triển của nó. Nông dân đã thiết kế hệ
thống địa phương từ thời cổ đại, chuyển nước từ sông, suối cho đất canh tác gần đó.
Những công trình này ngày càng được cải thiện cho thích nghi với cây lúa cải tiến hiện
nay.
Đến năm 1960 đã được báo cáo rằng khoảng 60% các hệ thống thủy lợi của đất
16
nước đã xuống cấp, phát huy hiệu quả kém. Chương trình Chính phủ chủ yếu để phục hồi
cơ sở hạ tầng thuỷ lợi hiện có và xây dựng đề án bổ sung đã bắt đầu vào năm 1969. Trong
thời gian 40 năm sau Indonesia dần dần mở rộng năng lực tưới tiêu cho cây trồng hàng
năm, với tổng diện tích tưới tiêu chủ động tăng khoảng 3,25 triệu ha hay 77%. Tổng diện
tích lúa trong nước tăng cùng với việc mở rộng trong các hệ thống thuỷ lợi, tăng 4,0 triệu
năm 1997, khiến năng suất cây trồng giảm khoảng 5%. Nông dân thường có sự linh hoạt
đáng kể để gieo các loại giống lúa khác nhau để tránh né thiệt hại do các trận mưa dầm
cuối vụ để bảo đảm phẩm chất hạt gạo.
18
Diện tích và sản lượng lúa ở Indonesia
Một loạt các phát triển rất có lợi từ 1960-2000 đã giúp Indonesia triệt để tăng khả
năng sản xuất lúa gạo trong khoảng thời gian của gia tăng dân số rất nhanh chóng. Những
phát triển này đảm bảo rằng sản xuất lúa gạo quốc gia về cơ bản theo kịp với nhu cầu tiêu
thụ gạo trong nước tăng nhanh, đảm bảo an ninh lương thực cơ bản của đất nước trong
khi cũng làm giảm yêu cầu đối với hàng nhập khẩu. Thời kỳ này kéo dài sự tăng trưởng
nhanh chóng trong cả hai vụ lúa và năng suất trùng hợp với "cuộc cách mạng xanh", trong
đó các giống mới năng suất cao đã được phát triển cùng với hệ thống canh tác được cải
thiện đáng kể về năng xuất lúa.
Tổng diện tích lúa của Indonesia tăng khoảng 5,25 triệu ha hay 76% từ năm 1961
dến 2010, chủ yếu qua việc mở rộng dần dần diện tích và năng xuất trên 3 hòn đảo Java,
Sumatra, và Sulawesi. Sự phát triển của hệ thống thuỷ lợi mới, bao gồm một sự gia tăng
mạnh việc xây dựng các hồ chứa nước lớn, cho phép nhiều khu vực tăng cường chu kỳ
canh tác lúa và thu hoạch nhiều vụ trong năm thay vì chỉ trồng một vụ như trức kia.
Đến năm 2011, hơn 50% tổng diện tích lúa thường được trồng trong mùa khô (vụ
thứ 2 và 3), một kỳ công mà trước kia không thể có được khi chưa có những công trình
phát triển cơ sở hạ tầng lớn của quốc gia.
19
Các nhà nghiên cứu cây trồng Indonesia cũng đã đóng góp nhiều thập kỷ tăng
trưởng nhanh chóng bằng cách phát triển và phát hành 190 giống lúa năng suất cao
(HYV) cho đất ngập nước và 30 giống lúa năng suất cao cho vùng đất khô hạn, thay thế
trong nước để đảm bảo cung cấp đầy đủ, trợ cấp chi phí phân bón cho nông dân, và phát
triển các dịch vụ cây trồng quốc gia mở rộng để cung cấp tiếp cận cộng đồng cho người
trồng không quen thuộc với các giống mới. Sau năm 1990, tỷ lệ tiêu thụ phân bón đình trệ
khi Chính phủ giảm đáng kể cả trợ cấp phân bón và các dịch vụ khuyến nông thôn. Sự kết
hợp của chính sách và thay đổi mục tiêu ngân sách của nông nghiệp trong một thời gian
kéo dài của tình trạng làm trì trệ sản lượng lúa (1987-2000) và các vấn đề an ninh lương
thực, với mức độ cao bất thường nhập khẩu gạo từ 1994-2002. Một sự thay đổi trong
chính sách của Chính phủ khôi phục lại các khoản trợ cấp phân bón đáng kể trong năm
2002, tuy nhiên, đảo ngược xu hướng này một lần nữa và cho phép tăng trưởng hơn nữa
trong năng suất lúa quốc gia.
Mặc dù tất cả các tiến trình lịch sử, quan sát hiện tại của lúa gạo Indonesia là chậm
tốc độ tăng trưởng diện tích và năng suất lúa trong nước. Năng suất cây trồng tăng trưởng
trung bình gần 4% mỗi năm từ năm 1960 và 1989, nhưng kể từ đó đã giảm xuống còn
khoảng 0,5% mỗi năm từ năm 1990 đến năm 2010. Tương tự như vậy, sau khi khu vực
trồng lúa mở rộng tại một tỷ lệ 138.000 ha một năm từ 1960-1998 (tỷ lệ tăng trưởng 2%),
nó làm chậm lại tốc độ trung bình là 9.000 ha một năm (tăng ít hơn 0,1% mỗi năm) giữa
1999-2010.
2.3. Mục tiêu và sáng kiến Chính phủ về phát triển lúa gạo
Chính phủ Indonesia đang phải vật lộn với vấn đề an ninh lương thực bằng cách ban
hành chính sách hy vọng sẽ thúc đẩy sự gia tăng đáng kể trong sản xuất cây lương thực và
khuyến khích tiêu thụ lớn của loại cây lương thực thực phẩm ngoài gạo như sắn và ngô.
Cho đến nay chưa có bằng chứng kết luận rằng giải pháp của Chính Phủ có tác
dụng. Trong một Diễn đàn tháng 2 năm 2012 về an ninh lương thực tổ chức tại Jakarta,
khi Tổng thống nhắc lại công khai rằng nước này sẽ tiếp tục dễ bị khủng hoảng lương
thực trong tương lai miễn là họ phụ thuộc quá nhiều vào gạo là lương thực quốc gia. Nói
cách khác, Indonesia không có thể tự cung tự cấp gạo và cần phải đa dạng hóa chế độ ăn
uống bao gồm nhiều nguồn hạt lương thực không truyền thống. Thật không may, điều này
báo hiệu rằng Chính phủ hoặc là không tin rằng có thể phát triển đầy đủ trong lĩnh vực lúa
gạo, hoặc là không quan tâm bố trí đủ nguồn lực tài chính dài hạn để thực hiện nó.
21
lượng cây trồng cao hơn trung bình. Chương trình ICM dựa chủ yếu vào hỗ trợ nông học
22
và quản lý dịch hại chuyên dụng và giáo dục từ một số giới hạn các cán bộ khuyến nông
có trình độ cây trồng. Vấn đề nghiêm trọng ở cấp độ trang trại đã phát sinh trong những
năm qua là những người trồng cố gắng để thích ứng với kỹ thuật canh tác mới này. Nước
khó khăn và các vấn đề quản lý dịch hại có thể phát sinh, giảm năng suất và loại bỏ các
lợi ích của hệ thống được cải thiện. Nông dân áp dụng các kỹ thuật này được dự kiến sẽ
chậm hơn dự tính, do thiếu cán bộ khuyến nông có trình độ và hiểu biết trong thời gian
ngắn để phục vụ đông đảo lực lượng nông dân thực hiện theo chương trình củ Chính phủ
ở Indonesia.
2.3.4. Đề án công ty thương mại Nhà nước sản xuất lúa gạo 2012
Trong tháng 1/2012 Chính phủ đã công bố kế hoạch chi tiêu 998 triệu USD để tạo ra
100.000 ha ruộng lúa mới trong tỉnh Đông Kalimantan, Với phần mở rộng có thể có đến
300.000 ha, nếu dự án ban đầu thành công. Bộ trưởng Doanh nghiệp Nhà nước báo cáo
rằng 3 công ty thuộc sở hữu nhà nước chuyên về dầu cọ và sản xuất phân bón được dự
kiến sẽ huy động đủ vốn để chuyển đổi đất sản xuất lên 1,0 triệu tấn gạo vào năm 2013,
với tiềm năng mở rộng là 6,0 triệu tấn mỗi năm sau đó. Đây là một phần mục tiêu của
Chính phủ trung ương tạo ra thặng dư gạo quốc gia 10,0 triệu tấn vào năm 2015.
Bộ Bộ trưởng tiếp tục xây dựng các doanh nghiệp nhà nước cần thiết để kiểm soát
sản xuất lúa gạo bởi vì chính quyền địa phương trên Java và Sumatra không thể và không
muốn tăng sản lượng của họ, một phần do hạn chế tài trợ. Một nghiên cứu tính khả thi đất
đã được hoàn thành và cũng không có bất kỳ phát triển cơ sở hạ tầng trước các thông
báo. Nếu không có một ha đất nông nghiệp duy nhất được cấp phép hoặc chuyển đổi đất
trồng lúa (hầu hết các khu vực mục tiêu là vùng đất rừng) của tháng 3/2012, dự kiến 1.0
triệu tấn gạo sẽ được sản xuất vào năm 2013 - và gần 15,4 triệu tấn tăng theo yêu cầu của
năm 2014 để đât sản xuất thặng dư 10,0 triệu tấn gạo xay vào năm 2015.
Kết luận
Ngành nông nghiệp Indonesia báo cáo sử dụng trên 40% lực lượng lao động quốc
nông nghiệp, bao gồm cả phần mở rộng cây trồng ở cấp tỉnh và địa phương.
Như đã nêu ở trên, sự kết hợp của tình trạng trì trệ diện tích cây trồng và sản lượng
tạiIndonesia có khả năng phá hoại bất kỳ hy vọng nào của đất nước trong tương lai gần để
đạt được tự túc về gạo. Tăng dân số, ước tính ở mức 1,47% trong năm 2010 (BPS), hiện
đang tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của sản xuất lúa gạo trong nước - suy luận rằng
quy mô nhập khẩu hàng năm sẽ phát triển cho đến khi đất nước có thể làm sống lại ngành
sản xuất lúa gạo. Tăng trưởng khu vực bị ảnh hưởng bởi lịch sử Chính phủ đầu tư thấp
24
trong phục hồi chức năng cơ sở hạ tầng thủy lợi và phát triển, trong khi sản lượng bị hạn
chế bởi sự hấp thu thường chậm các giống mới HYV và nông dân thiếu vốn (nghèo đói
chung) tính theo bình quân.
Ở nhiều quốc gia Đông Nam Á, những tiến bộ dễ dàng trong sản xuất cây trồng tăng
trưởng đã đạt được nhờ phần lớn vào việc giới thiệu các giống cải tiến, phân bón tăng lên,
và tiếp cận nhiều hơn với chủ động tưới tiêu. Nhen lại ngọn lửa tăng trưởng trong lĩnh
vực lúa gạo của Indonesia trong những năm tới có thể yêu cầu đầu tư lớn hơn nhiều, giáo
dục, và phát triển hơn, Chính phủ cần đầu tư nhiều ngân sách hơn để hỗ trợ.
Trong bất kỳ trường hợp nào, các tiềm năng tự cung tự cấp gạo trong thập kỷ tới có
vẻ như ngày càng khó khăn nếu không có kế sách và quyết tâm để đạt được.
3. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG LÚA GẠO INDONESIA
(VINANET) – Chính phủ Indonesia đang cố gắng hạn chế tiêu thụ gạo và đẩy tăng
sản lượng, nhằm đạt mục tiêu tự cung từ cấp loại lương thực chủ chốt này, tránh phải
nhập khẩu nhiều.
3.1 Sản xuất
Những khu vực sản xuất chính ở Java, phía bắc Sumatra và Nam Sulawesi, nơi nông
dân có thể trồng lúa 3 vụ mỗi năm, hoặc 5 vụ trong 2 năm.Trước đây Indonesia tự cung tự
cấp gạo (năm 1984). Từ chỗ là nước nhập khẩu triền miên những năm 1970, nước này
hiện là nước sản xuất lúa gạo lớn thứ 3 thế giới.
Indonesia dự kiến sản lượng thóc sẽ đạt 67,8 triệu tấn trong năm nay, thấp hơn mục