MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY LỢI CHỐNG XÓI MÒN, BẢO VỆ ĐẤT VÀ TĂNG NGUỒN SINH THỦY CHO MỘT SỐ HUYỆN VÙNG CAO THUỘC LƯU VỰC SÔNG MÃ - Pdf 34

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY LỢI
CHỐNG XÓI MÒN, BẢO VỆ ĐẤT VÀ TĂNG NGUỒN SINH THỦY
CHO MỘT SỐ HUYỆN VÙNG CAO THUỘC LƯU VỰC SÔNG MÃ
Trần Minh Chính , Hoàng Thái Đại

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong gần nửa thế kỷ qua, độ che phủ của rừng ở Việt Nam giảm từ 48% xuống
23,6%, thậm chí có nơi chỉ còn dưới 10%. Những hậu quả của chiến tranh cùng với áp
lực về sinh kế, về phát triển kinh tế xã hội dẫn đến việc khai thác, sử dụng đất không hợp
lý. Nạn chặt phá rừng bừa bãi, đốt nương làm rẫy, canh tác không hợp lý trên đất dốc đã
tác động không nhỏ đến tài nguyên rừng, tài nguyên đất và nước. Độ phì nhiêu của nhiều
vùng đất dốc đã bị suy thoái nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của
nhân dân.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý đất dốc bền vững, trong những
năm qua tỉnh Thanh Hóa đã triển khai và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính
sách, các chương trình, dự án về phát triển lâm nghiệp (đưa độ che phủ của rừng từ
36,5% năm 1999 lên 45,1% năm 2007), góp phần quan trọng trong bảo vệ môi trường
sinh thái, phát triển kinh tế xã hội nhằm hạn chế xói mòn, rửa trôi đất, điều tiết nguồn
nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân.
Công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên, quyết định sự phát triển kinh tế – xã hội
của đất nước có bền vững hay không. Nhiều biện pháp tổng hợp (biện pháp sinh học, biện
pháp nông nghiệp kết hợp với biện pháp công trình) đã được nghiên cứu, ứng dụng có
hiệu quả trên các vùng đất dốc, nâng cao năng suất, chất lượng của nông sản, bảo vệ và
nâng cao độ phì nhiêu của đất ở nước ta. Các công trình nghiên cứu đã đề xuất được
nhiều giải pháp quản lý bền vững đất dốc. Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã
hội của các lưu vực, các vùng đất là khác nhau nên việc tiến hành nghiên cứu điển hình
về các giải pháp tổng hợp quản lý đất dốc là công việc rất cần thiết. Trong khuôn khổ thời
gian có hạn, chúng tôi đã tiến hành khảo sát các mô hình kết hợp gồm nông nghiệp, lâm
nghiệp và thủy lợi trên các huyện vùng cao của lưu vực sông Mã thuộc tỉnh Thanh Hóa
nhằm tổng kết thực tiễn, đề xuất một số biện pháp chống xói mòn, bảo vệ đất, tăng nguồn
sinh thủy phù hợp với điều kiện cụ thể của lưu vực sông Mã.

Lưu vực của hệ thống sông Mã ở trong địa bàn tỉnh Thanh Hóa nằm trải dài trên
17 huyện và thành phố, có tổng diện tích tự nhiên là 7.077 km2 và có 2.647.232 người,
bao gồm các huyện: Mường Lát, Quan Hóa, Bá Thước, Thường Xuân, Ngọc Lặc, Cẩm
Thủy, Thạch Thành, Vĩnh Lộc, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Thiệu Hóa, Yên Định, Quảng
Xương, Triệu Sơn, Thọ Xuân, thành phố Thanh Hóa. Trong khuôn khổ nghiên cứu điển
hình này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu tại các huyện miền núi, là: Mường Lát, Quan
Hóa, Bá Thước, Thường Xuân, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy và Thạch Thành. Với tổng diện tích
tự nhiên 5.174 km2 chiếm 46% diện tích toàn tỉnh và chiếm 73% diện tích lưu vực hệ
thống sông Mã. Dân số của 7 huyện là 673.570 người chiếm 18% dân số toàn tỉnh. Mật
độ dân cư trung bình là 160 người/km2, đông nhất ở huyện Ngọc Lặc với 293 người/km2,
và thưa nhất là huyện Mường Lát 41 người/km2.

Hình 1. Rừng trồng đầu nguồn sông Mã

3.2. Các biện pháp chống xói mòn, bảo vệ đất dốc
Kết quả nghiên cứu tổng quan về các biện pháp chống xói mòn, bảo vệ đất dốc có
thể được tóm tắt dưới đây.
Biện pháp nông nghiệp chống xói mòn, bảo vệ đất
Biện pháp nông nghiệp chống xói mòn là biện pháp phi công trình để giữ đất, giữ
nước bằng cách luôn duy trì một lớp phủ thực vật trên mặt đất với mục đích cải tạo và
phát triển lớp thực vật trên mặt đất, cải tạo kỹ thuật cày bừa, đánh luống, trồng tỉa để mặt
đất không bị hạt mưa trực tiếp xung kích và không để nước chảy quá mạnh gây xói mòn
mặt đất. Những kỹ thuật cụ thể là: Canh tác theo chiều ngang của hướng dốc; Cày sâu;
Trồng dày hợp lý; Trồng dày thành hàng rào; Dùng vật liệu che phủ mặt đất; Trồng xen
băng; Xen canh gối vụ; Luân canh hợp lý...


Chống xói mòn bằng biện pháp lâm nghiệp
Trồng và bảo vệ rừng là biện pháp tích cực chống xói mòn. Các kết quả nghiên
cứu thực nghiệm cho thấy khoảng 13 - 14% lượng nước mưa đọng lại trên thân, cành, lá

đưa diện tích có rừng toàn tỉnh tăng lên từ 331.782 ha(1990) lên 551.785 ha (2007), nâng
độ che phủ rừng từ 29,8% (1990) lên 45,1% (2007).
Các mô hình trồng rừng được thực hiện theo phương thức nông lâm kết hợp “Lấy
ngắn nuôi dài”. Trong 3 năm đầu, rừng mới trồng nên chưa khép tán thì người dân trồng
xen cây lương thực ngắn ngày (ngô, sắn, lạc, đậu, cây cho củ…) hoặc cây ăn quả, chè,
cây thuốc….phương thức thâm canh theo băng. Băng (cây) chắn nước ngang dốc, hoặc
chừa lại băng cây rừng khi phát đốt nương rẫy, vừa cho sản phẩm, vừa làm tăng độ phì
cho đất, chống xói mòn, bảo vệ rừng trồng, sinh trưởng phát triển nhanh (Bá Thước,
Ngọc Lặc, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Như Thanh, Như Xuân).
Mô hình trang trại VACR (vườn - ao - chuồng - rừng): Trên diện tích rừng và
đất lâm nghiệp được giao, nhiều hộ gia đình có điều kiện về vốn, lao động đã xây dựng
trang trại theo mô hình VACR (vườn - ao - chuồng - rừng). Đây là mô hình bền vững, có


hiệu quả. Hiện nay có 539 trang trại lâm nghiệp tổng hợp, bằng 15,93% số trang trại toàn
tỉnh (3.384), diện tích các trang trại lâm nghiệp 7.772 ha đất đồi núi có độ dốc từ 20 - 450,
thu hút 2.976 lao động. Điển hình một số trang trại làm ăn hiệu quả là: ông Quách Công
Chiến: xã Điền Trung (Bá Thước), Ông Bùi Đình Kim xã Thành Tân (Thạch Thành).
Mô hình kinh tế tổng hợp vùng gò đồi: Được sự hỗ trợ của Bộ KHCN & MT
(cũ), dự án xây dựng mô hình kinh tế nông lâm kết hợp trên vùng gò đồi xã Cẩm Châu
huyện Cẩm Thủy sau 5 năm thực hiện đã tạo được các mô hình trình diễn về kinh tế tổng
hợp vùng gò đồi gồm cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây nông lâm kết hợp và chăn nuôi để
phát huy tối đa tiềm năng đất đai, mở rộng diện tích có rừng từ 990 ha lên 1.320 ha - đạt
độ che phủ 43%, trong đó có 230 ha cây ăn quả tập trung, góp phần cải tạo môi trường
sinh thái.
Mô hình canh tác bền vững trên đất dốc: Trên địa bàn các huyện miền núi có
các dự án do NGO tài trợ về canh tác bền vững trên đất dốc như dự án phát triển ngành
luồng tỉnh Thanh Hóa do tổ chức nghiên cứu và chuyển giao công nghệ - Gret triển khai.
Cây luồng chủ yếu tập trung ở 11 huyện miền núi phía Tây của tỉnh, đóng vai trò chính
trong thu nhập của nhiều hộ nông dân. Đặc biệt là huyện Quan Hóa có diện tích luồng lớn

an ninh lương thực cho nông dân.
- Diện tích tương đối bằng phẳng của các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa thuộc
lưu vực sông Mã chiếm khoảng 15 - 20% tổng diện tích đất tự nhiên. Trên diện tích
này dù có trình độ thâm canh cao cũng không thể thỏa mãn nhu cầu lương thực ngày
càng tăng của địa phương. Trước tình hình đó một diện tích không nhỏ đất dốc đã
được đưa vào trồng cây lương thực ngắn ngày. Đặc biệt, thời kỳ những năm của thập
kỷ 80, trước sức ép gia tăng dân số và tình trạng thiếu lương thực, rừng đã bị chặt phá
để chuyển sang trồng lúa nương, ngô, khoai, sắn. Cây lương thực ngắn ngày được
trồng nhiều ở phần lưng chừng đồi, nơi độ dốc phổ biến từ 100 - 150. Cá biệt có
những nơi, lúa nương và sắn được trồng ở nơi độ dốc lớn hơn 250.
- Nguồn nước thiếu hụt nghiêm trọng, nhất là mùa khô. Do vậy hàng năm đất
canh tác thường chỉ được sử dụng trong vòng từ 5-6 tháng, nhiều nơi chỉ từ 3-4 tháng,
thời gian còn lại để đất hoang. Mưa lớn và phân bố không đều trong năm gây nên
hiện tượng xói mòn diễn ra mãnh liệt, nhiều nơi tầng đất mặt bị bóc đi, độ phì nhiêu
của đất suy giảm nhiều. Một yếu tố nữa là nguồn nước thiếu hụt nghiêm trọng vào
mùa khô. Chính những yếu tố này đã ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân
dân trong vùng.
Vì vậy tăng độ che phủ cho đất là yêu cầu quan trọng nhất cần khắc phục để có
thể sử dụng đất dốc hiệu quả hơn, bằng cách có thể trồng xen thành băng những cây trồng
hàng năm với cây trồng lâu năm; thiết kế cơ cấu luân phiên giữa các băng; trồng xen
trồng gối tạo được tán che tối đa có nhiều tầng. Với sự phân bố không gian, trên mặt đất
là lớp thảm thực vât, tầng trên là lớp thực vật sống nhiều lớp, nhiều tầng, sẽ hạn chế được
xung lực của các hạt mưa, sự rửa trôi và xói mòn mặt đất trong mùa mưa. Giữ ẩm, hạn
chế sự bốc hơi và khô hạn cho đất trong mùa khô.
Để khắc phục tình trạng thiếu nước, nhưng lại thiếu vốn xây dựng các công trình
tưới, việc áp dụng rộng rãi phương thức canh tác nông - lâm kết hợp để tạo tán che nhiều
tầng tán sẽ khiến giảm tốc hạt mưa/dòng chảy triệt để, giữ được nước trong đất, giúp cho
cây trồng có thể sinh trưởng tốt quanh năm. Đây là chìa khoá đảm bảo cho sự phát triển
nông nghiệp ổn định, hạn chế phá rừng, đốt nương làm rẫy và sử dụng đất được lâu bền.


cây trồng đa tác dụng, vừa có tác dụng phòng hộ vừa có giá trị kinh tế, phù hợp với sinh
thái 3 loại rừng (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất). Cụ thể:
Rừng đặc dụng: nên trồng các loài cây bản địa quý hiếm đang có nguy cơ diệt
chủng. Cần coi trọng và giải pháp bảo tồn quỹ gen: Pơ mu, Sa mu dầu, Sến mật Tam qui,
Lim xanh, Sấu, Trám, Gụ, Giổi…
Rừng phòng hộ: nên trồng các loài cây có tuổi thọ cao, thường sinh sống lâu năm,
phù hợp với đất đai, khí hậu, điều kiện sinh thái như: Lát hoa, Dẻ, Re, Lim, Xanh, Giổi,
Lim xẹt, Trám trắng, Trám đen, Chò chỉ, Quế, luồng…kết hợp cây kinh tế như: Các loại
keo, Bạch đàn, Cao su, cây ăn quả,…mang lại kinh tế cho chủ rừng.
Rừng sản xuất: Thực hiện trồng thâm canh, nhằm tăng giá trị kinh tế trên diện tích
rừng; trồng rừng theo quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với nhà máy chế biến lâm sản
như: Cây Luồng, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Keo lai, Quế, Trám…Trồng xen với cây ăn
quả các loại. Trước mắt ưu tiên trồng rừng vùng nguyên liệu bột và giấy.
Trồng 3 năm đầu rừng mới trồng chưa khép tán, trồng xen cây lương thực (ngô,
khoai, sắn, lạc, đậu..) có tác dụng chống xói mòn, cải tạo đất, tăng thu nhập cho người
dân.
3.5.2. Về các biện pháp nông nghiệp
Các huyện vùng cao đất nông nghiệp ít nên canh tác chủ yếu trên nương rẫy,
ruộng bậc thang, vườn đồi và đất lâm nghiệp được giao theo NĐ 02/CP.
Quy hoạch sử dụng nương rẫy, gắn với sử dụng đất lâm nghiệp;
Thực hiện “dồn điền, đổi thửa” tạo thuận lợi cho canh tác trên đất dốc theo mô
hình liên hoàn từ dưới lên theo đường đồng mức: Ruộng bậc thang - vườn đồi - nương
rẫy - rừng. Đây là mô hình canh tác bền vững, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, giống
và kỹ thuật canh tác mới làm thay đổi tập quán canh tác lạc hậu, tạo ra năng suất, tăng thu
nhập, nâng cao mức sống, giảm đốt phá rừng làm nương rẫy;


Xây dựng ruộng bậc thang: Tại nơi có nguồn nước tưới sẽ trồng lúa nước. Các
huyện có kinh nghiệm trồng và mở rộng diện tích lúa lai gồm: Thạch Thành, Cẩm Thủy,
Bá Thước, Như Thanh, Như Xuân, Ngọc Lặc...đã đạt năng suất cao hơn lúa thuần từ 25 40% (năng suất lúa lai từ 50 - 60 tạ/ha). Tập đoàn lúa lai trong vụ Xuân gồm: Sán ưu 63,


Hình 8. Với độ dốc vừa 200 - 250

Hình 9. Với độ dốc cao 250 - 400

Hình 10. Đào mương theo đường đồng
mức kết hợp trồng cây phòng hộ

Mô hình xếp đá kết hợp trồng cây phòng hộ:
Ở những vùng đồi có nhiều đá thì xây dựng hệ thống phòng hộ bằng bờ đá là
thích hợp nhất. Xây dựng bờ đá vừa tăng diện tích trồng cây, vừa hạn chế xói mòn đất.
Dọc theo đường đồng mức, đào vào sườn đồi 50 - 70cm tạo bậc thềm và có bờ dốc ngược
vào phía trong, dùng đá to làm nền móng, các hòn đá có mặt phẳng thì xếp ra ngoài, đá
nhỏ chèn vào giữa. Đồi có độ dốc vừa 200 - 250 khoảng cách các bờ đá là 5 - 6m, đồi có
độ dốc 250 - 400 khoảng cách các bờ đá là 4 - 5m. Trồng các cây họ đậu (keo dậu, cốt khí)
phía dưới cách bờ đá 10cm. Khi chặt để cây cao tới đầu gối và lá rải trên mặt mương.
Trồng các loại cỏ làm thức ăn cho gia súc hoặc dứa ở phía trên bờ đá, giúp ổn định bờ đá.

HÌnh 11-12. Mô hình xếp đá kết hợp trồng cây phòng hộ

Mô hình làm tiểu bậc thang kết hợp trồng cây phòng hộ:
Với độ dốc 200 - 400 có thể làm tiểu bậc thang kết hợp với trồng cây phủ đất,
nhằm giữ được phân bón, thuận lợi cho việc chăm sóc và thu hoạch. Trồng lạc dại hoặc
cỏ ở mép ngoài bậc thang để cố định bậc thang và che phủ đất, khi lạc dại tốt cắt phủ lên
mặt. Sau thu hoạch giữ lại thân cây để che phủ và cải tạo đất.
Mô hình hàng rào xanh:


Đối với đồi có độ dốc >400 biện pháp tốt nhất để giảm xói mòn là xây dựng hàng
rào xanh. Hàng rào xanh trồng theo đường đồng mức, mỗi hàng cách nhau 4 - 5m tùy


3.5.5. Các biện pháp thủy lợi
Bên cạnh các biện pháp về sinh học, về canh tác, biện pháp công trình trên đất
dốc là rất cần thiết. Việc kết hợp đồng bộ các biện pháp sinh học, kỹ thuật canh tác và


biện pháp công trình sẽ góp phần tích cực chống xói mòn, bảo vệ và cải tạo đất, giữ nước
và điều hòa nguồn nước cho đất dốc.
Giữ nước ngọt trong bể, trong ao, hồ, khe suối, giếng khơi và trong các tầng đất là
rất quan trọng cho đời sống của sinh vật, con người. Ở miền núi lại càng quan trọng. Nơi
nào có nước quanh năm thì dân định cư, sản xuất phát triển. Trong những năm gần đây,
do rừng đầu nguồn bị tàn phá gây ra hiện tượng mùa mưa thì lũ lụt, mùa khô thì hạn hán.
Do đó muốn giữ được nước cần có các giải pháp về thủy lợi như sau:
Xây dựng ao núi kết hợp hố vẩy cá:
Ao núi là loại công trình tập trung dòng chảy tự do gây xói lở đất và xói lở các
công trình khác. Ao núi có tác dụng trữ nước chống hạn và cung cấp nước cho sản xuất
và đời sống. Tác dụng quan trọng là chắn dòng lũ trên khe suối làm yếu sức phá hoại của
nước. Ao núi nên đặt ở nơi thấp nhất nhưng cao hơn ruộng để đảm bảo dẫn nước tự chảy
vào ruộng. Nên đào nơi có nền đất tốt (đất sét), đào cạnh khu dân cư và đường giao thông
để tiện quản lý. Có thể đào ao núi ở đầu hoặc chân khe kết hợp làm hố vẩy cá, trên sườn
dốc trồng cây chống xói mòn giữ ẩm cho đất. Hố vẩy cá có dung tích trữ nước nhỏ nên
phải kết hợp với ao núi.
Hố vẩy cá được bố trí men theo đường đồng mức, trên các hố vẩy cá người ta kết
hợp trồng cây gây rừng chống xói mòn. Hố vẩy cá
có thể được làm ở nơi có độ dốc trung bình >20
%, địa hình không đồng đều, đất tơi xốp nhưng
không gây nguy hiểm sạt lở. Hố vẩy cá không phù
hợp ở nơi đất nặng và mực nước ngầm nông.
Phai đập:
Phai đập là loại công trình sử dụng phổ

thân đập có thể làm bằng đá nhỏ, trên đỉnh đập có thể dùng đá hộc loại lớn. Sau khi xây
đập xong, nên thu dọn tất cả đá dăm hoặc sỏi thừa đổ xuống phía thượng lưu đập, làm
thành kiểu dốc nghiêng để bảo vệ đập.
Đập đá xây hồ: Đập đá xây hồ thích hợp trên nền đá. Nếu lòng khe là đất thì phải
cắm sâu vào hai bờ 0,5m hoặc cho thêm đá hộc lớn để bảo vệ bờ. Nếu khe núi là đá, có
thể dùng vữa xi măng gắn chặt đầu đập vào thành đá.
Đập rọ đá: Đập rọ đá thường làm ở khe đất bùn, phù sa tương đối sâu, khó dọn
móng. Đập có tính chất bán vĩnh cửu, thường ở những nơi có nhiều tre và đá cuội. Đập
cao 1,5 - 2 m là vừa, đỉnh rộng tùy theo dòng nước lớn hay nhỏ mà định. Phía sau đập
đóng một hàng cọc cách nhau 0,5 - 0,8m. Để tránh hiện tượng nước thấm sâu qua thân
đập, phía thượng lưu nên phủ một lớp đất sét chống thấm. Loại đập này có ưu điểm là dễ
làm, ít tốn kém, sử dụng được vật liệu địa phương, làm nhanh nhưng có hạn chế là không
được bền và mất nhiều công bảo dưỡng.
Đập bằng bó cành cây: Đập bằng bó cành cây thường làm ở các suối, khe có độ
dốc nhỏ và lưu lượng nước lũ không lớn. Nó có ưu điểm là dễ làm và làm nhanh, ít tốn
kém, nhưng có hạn chế là dễ mục, mau hỏng. Cách làm: Lấy cành tre hoặc cành cây
thẳng, bó thành bó tròn, đường kính 0,4 - 0,5m, cứ 0,5m buộc một dây. Giữa các bó cây
với nhau có một lớp cát sỏi hoặc đất nèn chặt lại, mỗi bó đóng độ 2-3 cọc gỗ, mỗi cọc
cách nhau 1m, đóng sâu xuống đất độ 1-1,5m. Hai đầu đập gối chắc vào bờ 0,5 - 1m.
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trong khuôn khổ thời gian có hạn, các tác giả đã tiến hành điều tra thực địa, khảo
sát địa bàn nghiên cứu, tìm hiểu về các biện pháp kỹ thuật quản lý đất dốc, các mô hình
canh tác trên đất dốc hiện đang được áp dụng phổ biến tại 7 huyện miền núi thuộc lưu
vực sông Mã. Trên cơ sở tổng kết các kết quả nghiên cứu các mô hình canh tác bảo vệ đất
của các nước kết hợp với điều kiện cụ thể của địa bàn nghiên cứu, các tác giả đã đề xuất
một số giải pháp công trình và phi công trình về canh tác bảo vệ đất, chống xói mòn, tăng
nguồn sinh thủy cho các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa thuộc lưu vực sông Mã. Vì địa
bàn nghiên cứu rộng lớn, điều kiện đi lại khó khăn nên kết quả nghiên cứu chỉ là bước
đầu và còn thiên về định tính. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đất nước ta trong thời kỳ
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, cần áp dụng cách tiếp cận hệ sinh thái để quản lý

learned from successful models were highlighted. Some measures of agroforestry,
hydraulic works are proposed aimed at protecting soil from soil erosion, increasing water
resources, soil moisture in the studied areas.
Key words: farming system, soil erosion, soil protection, water resources.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status