Nghiên cứu tính đa dạng thực vật trạng thái rừng phục hồi tự nhiên tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên - Pdf 34

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------

NGUYỄN THỊ KIM OANH

NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG
TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC DAO
TẠI KHU RỪNG DU LỊCH VĂN HÓA XÃ MẪU SƠN,
HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Quản lý tài nguyên rừng

Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa học

: 2011 - 2015

Thái Nguyên - 2015



: 2011 - 2015

Giảng viên hướng dẫn : 1. TS. Nguyễn Văn Thái
2. TS. Đỗ Hoàng Chung

Thái Nguyên - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------

NGUYỄN THỊ KIM OANH

NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG
TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC DAO
TẠI KHU RỪNG DU LỊCH VĂN HÓA XÃ MẪU SƠN,
HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Quản lý tài nguyên rừng

Khoa


Bảng mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái của một số loài cây tiêu
biểu được cộng đồng dân tộc Dao sử dụng làm thuốc ........................30

Bảng 4.4:

Các bài thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại xã Mẫu Sơn huyện Lộc
Bình – tỉnh Lạng Sơn ...........................................................................45

Bảng 4.5.

Phân hạng cây thuốc theo mức độ đe dọa của loài tại xã Mẫu Sơn,
huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn...........................................................50


iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1.

Đường cong xác định cây thuốc trong một cộng đồng cho thấy có thể
dừng phỏng vấn khi số loài không tăng...............................................14

Hình 4.1.

Biểu đồ thể hiện bộ phận thu hái các loài cây thuốc ...........................42

Hình 4.2.

Biểu đồ thể hiện cách dùng các loài cây thuốc ....................................43


SĐVN

Sách đỏ Việt Nam

NĐ32/CP

Nghị định 32 chính phủ

IUCN

Liên minh bảo tồn thiên nhiên thế giới

EN

Nguy cấp cao

VU

Bị đe dọa, sắp nguy cấp

STT

Số thứ tự

UBND

Ủy ban nhân dân

THCS

2.3.2. Địa hình địa thế ...............................................................................................10
2.3.3. Khí hậu thủy văn .............................................................................................10
2.3.4. Điều kiện kinh tế - xã hội ...............................................................................11
2.3.5. Trình độ văn hóa – phong tục tập quán ...........................................................11
2.3.6. Cơ sở hạ tầng và các công trình đầu tư ...........................................................11
2.3.7. Đất đai tài nguyên rừng, đất lâm nghiệp .........................................................11
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .........12
3.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu .....................................................................12


i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn
khoa học của TS. Nguyễn Văn Thái và TS. Đỗ Hoàng Chung.
Các số liệu kết quả nghiên cứu trong khóa luận của tôi hoàn toàn trung thực
và chưa hề công bố hoặc sử dụng để bảo vệ học vị nào.
Nội dung khóa luận có tham khảo và sử các tài liệu, thông tin được đăng tải
trên các tác phẩm, tạp chí,…đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Thái Nguyên,15 tháng 06 năm 2015
Giảng viên hướng dân

Sinh viên

TS. Đỗ Hoàng Chung

Nguyễn Thị Kim Oanh

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN

được dùng làm thuốc (viện dược liệu, 2007) chiếm khoảng 37% số loài đã biết. Đó
chưa kể đến những cây thuốc gia truyền của 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam, cho
đến nay chúng ta chỉ mới biết được có một phần. Ngoài ra các nhà khoa học Nông


2
Nghiệp đã thống kê được 1.066 loài cây trồng trong đó cũng có 179 loài cây sử dụng
làm thuốc. Theo kết quả điều tra của viện dược liệu trong thời gian 2002 –
2005 số loài cây thuốc ở một số vùng trọng điểm thuộc các tỉnh gắn với dãy
Trường Sơn như sau: Đắc Lắc (751 loài), Gia Lai (783 loài), Kon Tum (814
loài), Lâm Đồng (756 loài). Với hệ thực vật như vậy, thành phần các loài cây
thuốc hết sức phong phú và đa dạng.
Sức khỏe lại là một phần quan trọng của con người, trong mỗi chúng ta không
phải lúc nào cũng khỏe và ai cũng khỏe cả, mà nhiều lúc ốm đau, bệnh tật cần thuốc
chữa bệnh nhằm ổn định và nâng cao cuộc sống hằng ngày. Với các đồng bào dân
tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh khi mà nguồn thuốc Tây Y không phục
vụ đến kịp thời. Các bài thuốc Nam lại là nguồn nguyên liệu sẵn có, đó là các loài
cây xung quanh mình để sử dụng làm thuốc an toàn và có hiệu quả. Chính vì thế mà
các loài thuốc dân gian của các đồng bào dân tộc thật sự cần thiết và hết sức quan
trọng đôi khi được xem như là “sức mạnh vô hình” cứu sống tính mạng con người.
Hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị suy giảm nghiêm trọng ,
kéo theo đa dạng sinh học cũng bị giảm trong đó có cả cây thuốc bản địa có giá trị
chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn tiến đến
sử dụng bền vững bền vững tài nguyên cây thuốc bản địa là một vấn đề rất cần thiết
trong giai đoạn hiện nay. Đối với các cộng đồng dân tộc ở xã Mẫu Sơn- huyện Lộc
Bình - tỉnh Lạng Sơn họ có những bài thuốc, kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng
hiệu quả trong việc chữa bệnh. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để ghi nhận và gìn giữ
vốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc, bài thuốc của cộng đồng dân
tộc xuất phát từ lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu tri thức bản
địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại khu

sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từ rừng hoặc từ bất kỳ
vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ ở tất cả các hình thái của nó.
Các loài cây thuốc đa phần là các sản phẩm Lâm sản ngoài gỗ thuộc một phần của
tài nguyên thực vật. Tài nguyên thực vật là tổng hợp của sinh quyển trong một loạt


5
các thảm thực vật. Tài nguyên thực vật như là các nhà sản xuất chính, để duy trì chu
kỳ dinh dưỡng sinh quyển và cơ sở dòng năng lượng trên trái đất. Tài nguyên thực
vật giữ một vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của con người nói riêng và
sinh vật nói chung. Nhưng trong thời gian vừa qua tài nguyên này đã bị suy thoái
nghiêm trọng do sự tác động tiêu cực của con người, chính vì vậy, gần đây Đảng và
nhà nước ta đã có những chủ trương, đường lối mới như: Luật Bảo vệ và phát triển
rừng năm 2004, Luật đất đai 2013, Luật đa dạng sinh học 2008, Nghị định 99 của
Chính phủ 2010…cùng với hàng loạt các văn bản khác đã ra đời nhằm bảo vệ và sử
dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lí. Đây là một cơ sở pháp lí quan trọng
để thực hiện thành công đề tài tri thức bản về khai thác và sử dụng cây thuốc của
cộng đồng dân tộc Dao ở xã Mẫu Sơn.
2.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, nhiều nước đã sử dụng nguồn Lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc,
nhiều nước đã có các đề tài nghiên cứu về thuốc và họ cũng đã sử dụng nhiều nguồn
tài nguyên này để xuất khẩu làm dược liệu và thu được một nguồn tài chính khá lớn.
Đặc biệt là Trung Quốc, có thể khẳng định đây là quốc gia đi đầu trong việc sử dụng
cây thuốc để chữa bệnh. Một nghiên cứu rất thành công của họ đã cho ra đời cuốn
sách "Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở Trung Quốc" vào năm 1968, do các nhà
nghiên cứu Vân Nam - Trung Quốc thực hiện. Cuốn sách này đã đề cập tới đặc
điểm sinh thái, công dụng, kỹ thuật gây trồng, ché biến và bảo quản cây Thảo quả
(Phan Văn Thắng, 2002) [7].
Vào thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó năm 1955

á nhiệt đới, phù hợp với việc trồng cây thuốc ưa khí hậu mát mẻ. Đặc biệt là nước ta
có dãy núi Trường Sơn rộng lớn là nơi có rất nhiều cây thuốc phục vụ cho đồng bào
nhân dân sống gần ở trong rừng mà họ sống xa các trạm xá, bệnh viện thì việc cứu
chữa tại chỗ là vô cùng cần thiết và cấp bách.
Theo nguồn thông tin Viện Dược liệu (2004) [8] thì Việt Nam có đến 3.948
loài cây làm thuốc, thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công
dụng làm thuốc. Trong số đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên.
Nhưng qua điều tra thì con số này có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây


7
thuốc của một số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ
hay còn bỡ ngỡ, trong đó có cộng đồng dân tộc Dao ở xã Mẫu Sơn, Huyện Lộc
Bình, Tỉnh Lạng Sơn . Những năm qua, chỉ riêng ngành Y học dân tộc cổ truyền
nước ta đã khai thác một lượng dược liệu khá lớn. Theo thống kê chưa đầy đủ thì
năm 1995, chỉ riêng ngành Đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng 20.000 tấn
dược liệu khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây. Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng
trên 10.000 tấn nguyên liệu thô (Viện Dược Liệu, 2002) [9].
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thanh Huyền tại xã Địch Quả- huyện Thanh
Sơn tỉnh Phú Thọ về việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của cộng
đồng dân tộc cho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây thuốc của đồng bào dân
tộc Dao ở đây. Với kiến thức đó họ có thể chữa khỏi rất nhiều loại bệnh nan y bằng
những bài thuốc cổ truyền. Tuy nhiên những kiến thức quý báu này chưa được phát
huy và chưa có cách duy trì hiệu quả, chưa có tổ chức. Tác giả đã chỉ rõ những loài
thực vật rừng được người dân sử dụng làm thuốc, nơi phân bố, công dụng, cách thu
hái chúng. Thêm vào đó họ còn đưa ra một cách rất chi tiết về mục đích, thời vụ, và
các điều kiêng kị khi thu hái cây thuốc. Họ đã đánh giá được mức độ tác động của
người dân địa phương, nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc
(Phạm Thanh Huyền, 2000) [3].
Ở nước ta số loài cây thuốc được ghi nhận trong thời gian gần đây không

Đỏ cây thuốc Việt Nam (1996, 2001, 2004) nhằm khuyến cáo bảo vệ.
- Đặc biệt đối với một số loài cây thuốc như Ba kích, Tam thất và Sâm mọc tự
nhiên, Hoàng liên, Lan một lá,…đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao
(Nguyễn Văn Tập, 2006) [6].
Việt Nam là một nước có tài nguyên rừng rất đa dạng và phong phú nhưng vì ở
trong những khu rừng hay gần rừng lại thường tập trung nhiều thành phần dân tộc sinh
sống, có nhiều nền văn hóa đặc sắc khác nhau, kiến thức bản địa trong việc sử dụng
cây làm thuốc cũng rất đa dạng và phong phú, mỗi dân tộc có các cây thuốc và bài
thuốc riêng biệt, cách pha chế và sử dụng khác nhau. Nên hiện nay nguồn tài nguyên
rừng của chúng ta đang bị giảm sút nghiêm trọng, kéo theo sự đa dạng sinh học cũng bị
suy giảm trong đó có cả một số cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng


10
đã mất dần, vậy việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn sử dụng tài nguyên cây thuốc bản
địa là một việc rất cần thiết. Đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số, họ có những bài
thuốc kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng chữa bệnh lại hiệu quả rất cao. Lạng Sơn
cũng là một tỉnh tập trung nhiều dân tộc thiểu số sinh sống đặc biệt là huyện Lộc Bình
nơi có khá nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống trong rừng và gần rừng, trong đó
có dân tộc Dao. Chính vì vậy, đây là một nơi lý tưởng cho nghiên cứu kiến thức bản địa
về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc, các bài thuốc dân gian từ thiên nhiên cuả
cộng đồng dân tộc địa phương nơi đây.
2.3.Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.3.1. Vị trí địa lý
Xã Mẫu Sơn là xã vùng cao biên giới nằm ở phía Bắc huyện Lộc Bình cách
trung tâm huyện 10km và nằm trên vùng đồi núi cao thuộc dải Mẫu Sơn.
- Phía Bắc giáp với các xã Xuân lễ, Bằng Khánh, Đồng Bục, Xuân Mãn, Hữu
Khánh, Yên Khoái.
- Phía Đông giáp với Trung Quốc.
2.3.2. Địa hình địa thế

87,5%.
- Hệ thống đường liên thôn, liên xã còn nhỏ hẹp, xấu và dốc đi lại khó khăn về
mùa mưa chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân và vận chuyển hàng hóa.
- Xã có 1 trường tiểu học, 7 phân trường tiểu học, 1 trường THCS.
- Về khám chữa bệnh có 1 trạm y tế xã (nhà cấp IV).
2.3.7. Đất đai tài nguyên rừng, đất lâm nghiệp
Tổng diện tích tự nhiên: 6.829,75ha
Trong đó:
- Đất lâm nghiệp: 6.508,47ha
- Đất khác: 321,18ha.
Mẫu Sơn là xã vùng cao, Diện tích đất rừng chiếm phần lớn diện tích đất tự
nhiên của xã. Vì vậy xã có những thế mạnh nhất định về lâm nghiệp như: khai thác
gỗ rừng trồng (thông), các cây dược liệu (hồi), các loại cây có giá trị kinh tế cao
thuận lợi cho phát tiển mô hình VACR (vườn – ao – chuồng – rừng).


12
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Tri thức bản địa về khai thác và sử dụng
tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao
- Địa điểm nghiên cứu: Tại xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
3.2. Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014
3.3. Nội dung nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu đặt ra của đề tài có những nội dung sau:
Nội dung 1: Thành phần loài cây được sử dụng làm thuốc
- Xác định các loài cây được người dân khai thác và sử dụng làm thuốc.
- Xác định tên địa phương, tên dân tộc, tên khoa học của các loài cây thuốc.

Liệt kê tự do: Là việc hỏi/ phỏng vấn một tập hợp người cung cấp tin
(NCCT), đề nghị họ cho tên tất cả các tên của cây làm thuốc.
Chọn mẫu: NCCT được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên – phân tầng:
NCCT được phân thành một số nhóm nhất định (theo kinh nghiệm; dân tộc; độ tuổi;
giới...), sau đó lấy ngẫu nhiên NCCT từ các loại đó.
Phỏng vấn: Sử dụng một câu hỏi duy nhất cho tất cả NCCT, ví dụ: “Xin bác
(anh/chị/ông/bà) kể tên tất cả các cây trong khu vực có thể được sử dụng làm thuốc
mà bác (anh/chị/ông/bà) biết?”. Điều quan trọng nhất khi phỏng vấn là đề nghị
NCCT liệt kê đầy đủ tên cây làm thuốc bằng tiếng dân tộc của mình. Điều này tránh
được sự nhầm lẫn tên cây thuốc giữa các ngôn ngữ, văn hóa khác nhau.


14

Số tên cây thuốc

Số người cần hỏi

Số người cung cấp tin

Hình 3.1. Đường cong xác định cây thuốc trong một cộng đồng cho thấy có thể
dừng phỏng vấn khi số loài không tăng
Xử lý dữ liệu: Dữ liệu điều tra được xử lý bằng tay hay bằng các phần mềm
máy tính, bao gồm: (i) liệt kê tất cả các tên cây thuốc được NCCT nhắc đến, (ii)
đếm số lần tên cây thuốc n được nhắc đến (tần số nhắc đến), và (iii) xếp danh mục
các tên theo thứ tự nào đó, ví dụ như xếp theo tần số giảm dần. Có thể xác định
danh mục các loài được dùng làm thuốc tiêu biểu (hay các loài cốt lõi), là các loài
được nhiều NCCT nhắc đến, cộng với một số lượng lớn các loài được một số ít
NCCT hay chỉ một người nhắc đến. Các loài tiêu biểu phản ánh sự tồn tại của một
tiêu chuẩn văn hóa, tri thức chung của cộng đồng liên quan đến lĩnh vực cây thuốc

khách quan trong quá trình điều tra, tuyến điều tra nên đi qua các địa hình và thảm
thực vật khác nhau. Trong điều tra tại cộng đồng, lấy trung tâm công đồng làm tâm
và đi theo bốn hướng khác nhau. Số lượng tuyến phụ thuộc vào thời gian và nhân
lực sẵn có.
+ Thu thập thông tin tại thực địa: Cách đơn giản nhất là NCCT và điều tra
viên cùng đi theo tuyến và phỏng vấn đối với bất kỳ cây nào gặp trên đường đi.
Cách thu thập thông tin khác, có hệ thống hơn, là NCCT và điều tra viên dừng lại


iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1:

Bảng các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Dao khai thác sử dụng
làm thuốc tại xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn ...............20

Bảng 4.2

Cây thuốc được người dân nhắc đến với số lần nhiều nhất từ cao
xuống thấp ...........................................................................................29

Bảng 4.3:

Bảng mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái của một số loài cây tiêu
biểu được cộng đồng dân tộc Dao sử dụng làm thuốc ........................30

Bảng 4.4:

Các bài thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại xã Mẫu Sơn huyện Lộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status