Luận văn Bản chất pháp lý của tập đoàn kinh tế nhà nước và khung pháp luật điều chính doanh nghiệp nhà nước và tập đoàn kinh tế nhà nước - Pdf 34

MỤC LỤC
MỤC LỤC......................................................................................................................................................1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT....................................................................................................................4
MỞ ĐẦU.......................................................................................................................................................5
Chương 1......................................................................................................................................................9
TỔNG QUAN.................................................................................................................................................9
1.1 Các mô hình kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước trên thế giới............................................9
1.1.1 Mở đầu........................................................................................................................................9
1.1.2 Mô hình nước Nga ....................................................................................................................10
1.1.3 Mô hình các nước OECD qua ví dụ Cộng hoà liên bang Đức (“CHLB Đức”).............................12
1.1.4 Mô hình Singapore.....................................................................................................................15
1.1.5 Mô hình Trung Quốc, Việt Nam.................................................................................................19
1.1.6 Tóm lược và nhận xét................................................................................................................22
1.2 Các mô hình tập đoàn công ty..........................................................................................................23
1.2.1 “Conglomerate” và “Multinational Corporation” ở Phương Tây...............................................23
1.2.2 “Zaibatsu” và “Keiretsu” ở Nhật................................................................................................27
1.2.3 “Chaebol” ở Hàn Quốc...............................................................................................................30
1.2.4 Tóm lược và nhận xét................................................................................................................33
1.3 Tóm tắt quá trình xây dựng và cải cách DNNN ở Việt Nam..............................................................34
1.3.5 Tóm lược và nhận xét................................................................................................................43
1.4 Các vấn đề đặt ra từ khung pháp luật về doanh nghiệp hiện hành ..................................................45
1.4.1 Mục tiêu của khung pháp luật...................................................................................................45
1.4.2 Phương pháp xây dựng khung pháp luật...................................................................................46
1.4.3 Hiện trạng các vấn đề đặt ra và giới hạn nghiên cứu ...............................................................48
Chương 2....................................................................................................................................................50

1


KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT PHÁP LÝ.............................................................................................................50
CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC..........................................................................................................50

4.2.2 Khuyến nghị về xây dựng cơ chế thực hiện chính sách............................................................102
4.2.3 Khuyến nghị về xây dựng khung pháp luật có liên quan..........................................................102
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................................................................106

3


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DNNN:

Doanh nghiệp nhà nước

TĐKTNN:

TĐKTNN

4


MỞ ĐẦU
Cải cách doanh nghiệp nhà nước (sau đây viết tắt là “DNNN”) ở Việt Nam,
bắt đầu từ năm 1980, được tiến hành nhằm hai mục tiêu xuyên suốt, đó là (i) tăng
hiệu quả kinh tế của DNNN (nhằm đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết
việc làm, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước), và (ii) tạo các điều kiện để
DNNN khẳng định vị trí độc tôn trong thời kỳ kinh tế kế họach hoá tập trung và giữ
vững vai trò chủ đạo khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với đa thành phần
sở hữu.
Để thực hiện các mục tiêu trên, nhiều biện pháp và công cụ đã được thiết lập
và áp dụng, trong đó có việc cấu trúc mô hình tổ chức và pháp lý các DNNN. Từ
các hình thức ban đầu như xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, xí nghiệp liên hợp,

90/TTg và số 91/TTg ngày 7/3/1994 về thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh và
Nghị định 101/2009/NĐ-CP ngày 5/11/2009 về thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt
động và quản lý TĐKTNN. Vấn đề ở chỗ cả ba văn bản này đều có tính chất và
hiệu lực áp dụng “thí điểm”, có nghĩa rằng các quy định của hai văn bản này có thể
được hiểu là có hiệu lực hạn chế cả về thời gian và đối tượng điều chỉnh, chưa
chính thức, không cơ bản, không lâu dài và hơn nữa có thể sửa đổi, huỷ bỏ hay thay
thế bắt cứ lúc nào (mà không dự báo được) v.v.. Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật cũng không quy định loại hình văn bản pháp quy “thí điểm”. Như vậy,
đối chiếu với thực tiễn pháp luật Việt Nam, nó phải được coi là các văn bản hành
chính hơn là văn bản quy phạm pháp luật.
Điều đáng chú ý và xin nhấn mạnh là mặc dù có cấp độ hiệu lực thấp và chứa
đựng các “rủi ro” pháp lý như vậy, hai văn bản nói trên đã và đang là căn cứ pháp
lý hầu như duy nhất cho 12 TĐKTNN và hàng chục Tổng Công ty nhà nước lớn
khác (Tổng Công ty 91) hoạt động. Về quy mô hoạt động, các Tập đoàn và Tổng
công ty nhà nước này đều hoạt động đa ngành trên hầu hết các lĩnh vực trọng yếu
của nền kinh tế quốc dân, tại thời điểm năm 2008 sở hữu nguồn vốn hoạt động tới
400.000 tỷ đồng, đồng thời chiếm hữu và sử dụng khoảng 75% tài sản cố định của
quốc gia và 60% vốn tín dụng nhà nước và vốn vay nước ngoài. Bản thân Tập đoàn
Vinashin khi sụp đổ và buộc phải tái cấu trúc theo quyết định của Thủ tướng Chính
phủ vào tháng 8/2010 đã mang một khoản nợ theo thông báo tạm thời tới 80.000 tỷ
đồng.
Với ý nghĩa và tác động lớn về mặt kinh tế như vậy, nhiệm vụ đặt ra cho giới
luật học là việc nghiên cứu từ các góc độ lý luận và thực tiễn nhằm đưa ra câu trả
lời về các vấn đề pháp lý đang bỏ ngỏ liên quan đến sự tồn tại và hoạt động của các
TĐKTNN. Cụ thể, theo nhận thức của tác giả, cần có sự nghiên cứu mang tính tập
trung vào các vấn đề sát thực, tuy nhiên một cách có hệ thống, về hai nhóm vấn đề
cơ bản sau:
(a) Khái niệm và bản chất pháp lý của TĐKTNN
Dưới tiêu đề này, khi sử dụng thuật ngữ “bản chất pháp lý” chứ không phải
“địa vị pháp lý”, tác giả có hàm ý không đi vào phân tích, đánh giá các quy định cụ

nghiệp có liên quan. Sự phức tạp ở chỗ, với tư cách là hai phạm trù hoàn toàn độc
lập với nhau, DNNN hay TĐKTNN chịu sự chi phối của hai lĩnh vực pháp luật:
“luật tư” (hay luật dân sự và thương mại) điều chỉnh các vấn đề liên quan đến công
ty và doanh nghiệp; và “luật công” (hay luật hành chính) điều chỉnh các vấn đề liên
quan đến tài sản công, quyền và chức năng hoạt động kinh tế của nhà nước, các
chính sách kiểm soát và điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế. Ngoài ra, một khi các
doanh nghiệp hay công ty đã phát triển tới một quy mô to lớn, cả về chiều ngang
7


(ví dụ hoạt động đa ngành, đa quốc gia) lẫn chiều dọc (ví dụ sự phân tầng, phân cấp
trong sơ đồ cấu trúc nội bộ), được gọi là “tập đoàn công ty” hay “tập đoàn doanh
nghiệp”, do các ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ và sâu rộng của nó vào đời sống
kinh tế và xã hội, thậm chí cả chính trị, của một quốc gia, sự kiểm soát về mặt pháp
lý đối với các doanh nghiệp này cần thiết được nâng lên một cấp độ khác, thông
qua các luật đặc thù (có tính chất đan xen giữa luật công và luật tư) như luật chống
độc quyền, luật giám sát đầu tư, luật giám sát tài chính, luật công bố thông tin v.v..
Do đó, tác giả cho rằng, cần thiết phải có một cách nhìn sâu sắc và tổng thể
về TĐKTNN, ở mức độ căn bản hơn so với cách tiếp cận hiện nay về vấn đề này.
Để bảo đảm cho sự nghiên cứu mang tính hệ thống, cấu trúc của Luận văn này sẽ
bao gồm trước hết sự tham khảo kiến thức và kinh nghiệm quốc tế về cả hai vấn đề
kinh tế nhà nước và tập đoàn công ty, sự phân tích các vấn đề chủ yếu có liên quan
của pháp luật hiện hành, các đánh giá và kết luận có tính nguyên lý về DNNN và
tập đoàn công ty, và cuối cùng là các đề xuất, khuyến nghị nhằm xây dựng và hoàn
thiện một khung pháp luật điều chỉnh TĐKTNN.
Viết thêm ít dòng: bài này gồm mấy chương, mục đích nghiên cứu cụ thể là
gì, các phương pháp đã áp dụng là gì, đóng góp đáng kể của bài là gì?

8


9


và (iii) khung pháp luật điều chỉnh có liên quan. Trong khi trình bày, tác giả cũng
sẽ chú trọng vào các vấn đề có tính liên quan hay thực sự hữu ích đối với việc
nghiên cứu có tính so sánh với mô hình và hiện trạng của nước ta.
1.1.2 Mô hình nước Nga
Tác giả sử dụng Mô hình nước Nga vì có nhiều sự giống nhau trong quá khứ
với Việt Nam, đồng thời hiện nay, sự “trùng hợp” còn ở chỗ Chính phủ Nga với
một ý đồ chính sách rõ ràng đặc biệt coi trọng sự khẳng định quyền lực của chính
quyền trung ương thông qua DNNN và mặc dù quá trình tư nhân hoá ở Nga diễn ra
rất mạnh mẽ và triệt để từ đầu những năm 90 (thế kỷ trước), sức mạnh và ảnh
hưởng của các DNNN vẫn đang tiếp tục hết sức mạnh mẽ.
Về mục tiêu của DNNN.
Cũng giống như ở Việt Nam, mục tiêu của DNNN ở Nga không phải luôn
luôn được quy định một cách rõ ràng và đầy đủ trong các đạo luật hay quy chế hoạt
động của doanh nghiệp, tuy nhiên, khai quát hoá từ các chính sách và thực tiễn thì
có thể xác định, bao gồm hai nội dung cơ bản. Đó là:
Mục tiêu chính trị, nhằm bảo đảm an ninh và thực thi các nhiệm vụ
chiến lược của quốc gia như an ninh quốc phòng, an ninh năng lượng, thực hiện
chính sách bao cấp của nhà nước trong việc cung ứng các sản phẩm và dịch vụ thiết
yếu của đời sống dân sự; và
Mục tiêu kinh tế và công nghiệp, nhằm huy động các nguồn lực của
nhà nước và xã hội để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, nghiên cứu cơ bản và bảo hộ
doanh nghiệp bản địa nhằm đối phó với quá trình cạnh tranh quốc tế đang diễn ra
gay gắt ở bên ngoài cũng như trong nước.
Về hình thức tổ chức pháp lý. Các DNNN ở Nga được hiểu là tất cả các
doanh nghiệp có cổ phần sở hữu của nhà nước (trung ương hoặc địa phương) từ ít
nhất 10% trở lên, (là mức sở hữu có thể tác động đến hoạt động của doanh nghiệp)
và bao gồm ba hình thức sau:

độ kinh tế nói chung và vai trò của doanh nghiệp nhà nước bao giờ cũng được coi
là một phần không thể thiếu của Hiến pháp, thì Hiến pháp Cộng hoà liên bang Nga
lại không hề đề cập đến vấn đề này, ngoại trừ một nội dung có “tính liên quan” duy
nhất là nguyên tắc về sự bình đẳng giữa các loại hình sở hữu. Đây là sự thay đổi có
tính “bước ngoặt” so với Hiến pháp Liên Xô trước đây, trong đó, tương tự như
Hiến pháp của nước tá, có cả một chương riêng về Hệ thống kinh tế, bao hàm vấn
đề sở hữu nhà nước và kinh tế nhà nước.
Trong hệ thống pháp luật của nước Nga đã có sự phân biệt giữa “luật tư” và
“luật công”. Liên quan đến các tổ chức kinh tế và doanh nghiệp, Luật Công ty cổ
phần Cộng hoà liên Bang Nga được coi là một bộ phận của phạm trù “luật tư”.
Theo đó, các DNNN Nga tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, dù ở dạng
“đóng” (ZAO) hay dạng “mở” (OAO) đều được thành lập và hoạt động theo Luật
này.
11


Đối với hai loại hình DNNN còn lại là doanh nghiệp đơn nhất hay một chủ
(Unitary Enterprise) và DNNN đóng vai trò chiến lược thuộc 100% sở hữu nhà
nước, Nhà nước Nga (tức chính phủ liên bang và/ hoặc chính quyền các bang) ban
hành các văn bản pháp luật riêng rẽ điều chỉnh các loại doanh nghiệp này, bao gồm
hai loại là (i) văn bản điều chỉnh một nhóm doanh nghiệp cùng loại và (ii) văn bản
quy định việc thành lập và hoạt động của một doanh nghiệp cụ thể. Nhìn từ góc độ
pháp lý, so với Luật Công ty Cổ phần, các văn bản pháp luật này chứa đựng nhiều
hạn chế liên quan đến các quy định về tổ chức, quản lý, quyền hạn và trách nhiệm
của doanh nghiệp như một công ty hay đơn vị kinh doanh thực sự, chịu sự hạch
toán kinh tế và cạnh tranh theo các quy luật thị trường. Tuy nhiên, về bản chất, mặc
dù có các chức năng kinh doanh để đạt lợi nhuận, mục tiêu cơ bản của nhà nước
Nga trong việc duy trì các doanh nghiệp này không phải là “kinh tế” (tức làm tăng
nguồn thu cho ngân sách, xét về tầm nhìn lâu dài) mà chính là “chính trị”, hiểu theo
nghĩa rộng bao hàm việc bảo đảm các chức năng điều hành và điều tiết của các cơ

vụ này, cơ quan chính quyền được sử dụng các biện pháp “tốt nhất có thể”, bao
gồm cả việc tham gia vào các hoạt động kinh tế, tuy nhiên với điều kiện rằng các
hoạt động kinh tế đó phải mang lại hiệu quả đích thực. Cụ thể, điều đáng lưu ý là
chẳng hạn, nếu cơ quan chính quyền đã quyết định góp vốn vào một doanh nghiệp
để làm tìm kiếm nguồn thu bổ sung cho ngân sách địa phương, hoặc thành lập một
DNNN để đảm bảo việc cung ứng một dịch vụ công trên địa bàn, nhưng việc làm
đó không có hiệu quả thì cơ quan chính quyền sẽ phải xem xét chấm dứt việc kinh
doanh và giải thể DNNN.
Như vậy, xét về tổng thể, DNNN bản thân nó không phải là một phạm trù có
tính nguyên lý cũng như không đóng vai trò tất yếu trong bảo đảm thực thi các
chức năng chính trị, kinh tế và xã hội của nhà nước Đức, ngày cả khi nhà nước đó
được xây dựng trên nền tảng của học thuyết “kinh tế thị trường xã hội”. Một vấn đề
mấu chốt nhưng đồng thời cũng rất “tinh tế” được giới luật học Đức quan tâm
chính là làm sao bảo đảm được tính nguyên tắc trong các mối quan hệ giữa “nhà
nước” và “thị trường” và gianh giới rõ ràng giữa hai thiết chế này. Chính vì thế khi
bàn đến phạm trù DNNN, một vấn đề khác có liên quan đã tất yếu được đề cập, đó
là “tư nhân hoá” (Privatizierung). Khái niệm “tư nhân hoá” ở Đức không chỉ được
hiểu là bán hay chuyển đổi hình thức sở hữu của các DNNN từ “công” sang “tư”,
mà bao gồm cả việc xem xét, đánh giá việc tư nhân hoá các nhiệm vụ công
(oeffentliche Aufgaben), vốn thuộc chức năng của các cơ quan chính quyền được
người đóng thuế uỷ nhiệm. Một cách tiếp cận vấn đề đi tới bản chất và “cốt lõi”
như vậy, theo tác giả, rất đáng là một tham khảo tốt cho các nhà lập chính sách và
làm luật của Việt Nam trong lĩnh vực đang bàn đến này.
Về hình thức tổ chức pháp lý

13


Hệ thống pháp luật của Đức phân biệt khá rành mạch giữa “luật công” và
“luật tư”. Nguyên tắc này cũng được áp dụng đối với DNNN, theo đó có hai hình

phần (ban hành năm 1937) và Luật Công ty trách nhiệm hữu hạn (ban hành từ năm
1892, trước khi ra đời Bộ luật Thương mại).
14


Các DNNN hoạt động theo “luật tư” đều chịu sự điều chỉnh của các luật nói
trên.
Ngoài ra, ở Đức không có một luật chung về DNNN. Đối với các DNNN
hoạt động theo “luật công”, có thể nói rằng cơ sở pháp lý quan trọng nhất chính là
Đạo luật cơ bản. Mặc dù Đạo luật cơ bản không có bất cứ điều khoản nào nói tới
DNNN nhưng lại quy định về quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền. Với cách
tiếp cận theo “quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền”, việc thành lập các
DNNN hoạt động theo “luật công” sẽ tuỳ thuộc vào việc áp dụng hai nguyên tắc
sau, đó là (i) nguyên tắc “linh hoạt theo nhu cầu” và “linh hoạt theo lãnh thổ” (có
nghĩa rằng tuỳ từng thời điểm khác nhau và ở mỗi vùng, miền hay lãnh thổ hành
chính khác nhau mà có thể tồn tại nhiều, ít hay các loại DNNN khác nhau; và (ii)
mọi việc thành lập DNNN phải được các cơ quan dân cử từ Quốc hội liên bang,
Quốc hội bang đến “hội đồng nhân dân” của các tỉnh hay thành phố phê chuẩn
bằng các đạo luật hay quyết định.
Tóm lại, điều đáng lưu ý và cũng đáng để “học tập” nhất trong Mô hình
CHLB Đức là sự rõ ràng tới mức chuẩn mực và có tính nguyên tắc trong việc phân
định gianh giới giữa nhà nước và thị trường. Thị trường là nền tảng và trung tâm.
Nhà nước buộc phải sử dụng trước tiên các phương pháp thị trường để đạt được các
mục tiêu và thực thi thành công nhiệm vụ chính trị, xã hội của mình. Việc thành lập
và duy trì các DNNN chỉ được coi là biện pháp và công cụ, chứ không phải vấn đề
có tính nguyên tắc. Một hệ quả của việc sử dụng “biện pháp DNNN” được giới luật
học Đức đặc biệt quan tâm là sự phình to của nhà nước (chí ít là phương diện bộ
máy và tài sản), dẫn đến nguy cơ lấn át thị trường. Trong trường hợp đó, các
nguyên tắc của Đạo luật cơ bản sẽ bị vi phạm.
1.1.4 Mô hình Singapore

Invesment Corporation - GIC), đã đảm nhiệm đồng thời cả hai sứ mệnh chính trị và
kinh tế, là điều rất giống với mô hình DNNN ở các quốc gia phát triển thuộc khối
xã hội chủ nghĩa trước đây. Sự kết hợp thành công giữa DNNN và kinh tế thị
trường, tuy nhiên, vẫn được coi như một “bí quyết” hay đặc thù riêng của
Singapore mà khó có thể trở nên phổ quát.
Về hình thức tổ chức pháp lý
Có khá nhiều chất vấn và tranh cãi về loại hình pháp lý của hai DNNN hàng
đầu và chủ chốt nhất của Singapore là Temasek Holdings và GIC, với một câu hỏi
trọng tâm: đó là cơ quan chính phủ hay doanh nghiệp? Thậm chí, năm 2008, trong
bối cảnh của khủng hoảng tài chính toàn cầu, Quốc hội Mỹ đã chất vấn lãnh đạo
của Temasek Holdings về câu hỏi trên liên quan đến các đầu tư của tập đoàn này tại
Hoa Kỳ.
Chính phủ Singapore đã khẳng định và thực tế cũng chứng minh đặc điểm
chung của cả hai tập đoàn này, đó là các tổ chức thuộc sở hữu 100% của Chính phủ
Singapore nhưng được tổ chức và hoạt động hoàn toàn như một doanh nghiệp. Cả
16


Temasek và GIC đều lấy chức năng đầu tư làm chính, tuy nhiên, nếu như Temasek
được tổ chức theo mô hình công ty holding thì GIC lại hoạt động như một quỹ đầu
tư (Sovereign Wealth Fund).
- Về Temasek Holdings. Công ty này được Chính phủ Singapore thành lập từ
năm 1974 với nhiệm vụ sử dụng vốn nhà nước đề đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào
các doanh nghiệp chủ chốt và thuộc các lĩnh vực kinh tế thiết yếu của Singapore.
Thời gian sau đó, cùng với sự lớn mạnh về tài chính và năng lực kinh doanh, hoạt
động của Temasek đã bao gồm một mạng lưới bao phủ cả khu vực Đông Nam Á và
Trung Quốc. Ngay tại Singapore, Tập đoàn này đang có sở hữu một danh mục đầu
tư tại 28 công ty hàng đầu trong 8 lĩnh vực khác nhau (từ dịch vụ tài chính, hạ tầng
cảng, lọc dầu đến giải trí và thời trang), với tỷ lệ cổ phần tham gia (tại thời điểm
cuối 2009) từ 4% đến 100%. Tổng số tài sản Temasek đang quản lý có giá thị

hội đồng quản trị của tất cả các công ty được đầu tư mà chỉ cần tác động qua các
đại điện của mình tại đại hội cổ đông, nhưng khả năng “giám sát” và “đóng góp”
của họ vẫn luôn luôn được bảo đảm.
Về khung pháp luật điều chỉnh
Để bảo đảm sự tuân thủ tuyệt đối với nguyên tắc thị trường, các DNNN của
Singapore (điển hình là Temasek Holdings và GIC như đề cập ở trên), đều được tổ
chức và hoạt động thống nhất theo Luật Công ty Singapore ban hành năm 1967.
Điểm đáng lưu ý là việc các nhà làm luật đặt các DNNN (mặc dù sở hữu 100% của
chính phủ và do các quan chức hàng đầu chính phủ lãnh đạo) dưới sự chi phối của
Luật Công ty dường như không nhằm phải mục đích tạo sự bình đẳng và tự do cạnh
tranh trên cùng một “luật chơi” (xét cả phương diện chính trị và pháp lý) giữa khu
vực nhà nước và tư nhân (như quan niệm thông thường), mà chủ yếu để bảo đảm
tính hiệu qủa của quản trị công ty. Luận điểm này có thể được minh chứng như sau:
Thứ nhất, cách thức tổ chức và hoạt động của DNNN ở Singapore không thông lệ
(tập trung vào mô hình công ty đầu tư), do đó, không dẫn đến các cạnh tranh về lợi
ích trực tiếp về thị trường với các công ty khác; thứ hai, chính phủ Singapore khẳng
định một cách công khai vị thế đặc biệt và “không cạnh tranh” của các doanh
nghiệp này (thông qua việc cung cấp nguồn vốn ban đầu và tài chính hoạt động
khổng lồ cùng với một số “đặc quyền” nhất định để bảo đảm sự an toàn về đầu tư);
và thứ ba, các DNNN được yêu cầu và bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt các quy định
của Luật Công ty (trừ trách nhiệm công bố đầy đủ thông tin), trong đó có nguyên
tắc quan trọng nhất là sự tách biệt giữa “sở hữu” và “quản trị”. Nếu “chủ sở hữu”
hay người giám sát các DNNN buộc phải là các quan chức quan trọng của chính
phủ (tức những “người tin cậy nhất”) thì các nhà quản trị doanh nghiệp (CEO và
các giám đốc điều hành) buộc phải là những “người giỏi nhất”, không phụ thuộc
vào quốc tịch Singapore hay nước ngoài.
Cũng cần chú ý thêm rằng tại Singapore, hệ thống pháp luật thương mại của
Singapore được xây dựng hoàn toàn theo mô hình Anglo-Xacxong, trong đó Luật
Công ty (Singapore Companies Act) không chỉ đóng vai trò là một chế định pháp
18

cuối thập niên 80 (đối với Việt Nam) của Thế kỷ 20 đều đã và đang tiến hành “cải
cách” hay “đổi mới” nền kinh tế theo hướng chuyển đổi từ kinh tế kế họach hoá tập
trung sang kinh tế thị trường, trong khi vẫn nhấn mạnh sự kiểm soát hay điều tiết
mạnh mẽ của nhà nước. Đặt trong cùng một mô hình không có nghĩa là giữa Trung
Quốc và Việt Nam không có những khác biệt, thậm chí là sự khác biệt khá sâu sắc
trên một số bình diện nhất định, chẳng hạn xét về quy mô của nền kinh tế hay các
19


phương pháp và biện pháp tiến hành cải cách. Do đó, lý do chủ yếu của sự “sắp
đặt” này chính là để có một sự đối chiếu và so sánh, xét về phương diện lý thuyết,
với các mô hình khác liên quan đến kinh tế nhà nước và DNNN trên toàn cầu,
nhằm qua đó tìm kiếm được các kết luận có ích cho mục đích nghiên cứu học thuật.
Về mục tiêu của DNNN
Xét về phương diện học thuật, rất khó xác định mục tiêu thật sự của các
DNNN ở cả Trung Quốc và Việt Nam là gì ? Hiến pháp của cả hai nước đều công
nhận nền kinh tế thị trường với đa thành phần sở hữu, tuy nhiên vẫn cùng nhấn
mạnh nguyên lý kinh tế nhà nước hay DNNN là “lực lượng lãnh đạo” (theo Hiến
pháp Trung Quốc) hay đóng “vai trò chủ đạo” (theo Hiến pháp Việt Nam) => trích
dẫn nguồn?. Có thể nói rằng bản thân khái niệm “lực lượng lãnh đạo” hay “vai trò
chủ đạo” cũng không có ý nghĩa rõ ràng và gây tranh cãi, xét trong bối cảnh nền
kinh tế thị trường khi các doanh nghiệp là các chủ thể độc lập, tự do kinh doanh và
tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình.
Tuy nhiên, bởi Hiến pháp trước hết là một văn kiện chính trị trọng yếu và
công cụ pháp lý chủ chốt để một Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản
Việt Nam cầm quyền, do đó, việc tuyên bố về vai trò quan trọng nói trên của kinh
tế nhà nước hay DNNN đương nhiên có hàm ý thực tế về mặt nội dung. Trước hết,
các quy định có liên quan của Hiến pháp bảo đảm cho chính phủ có các quyền hiến
định trong việc đầu tư không giới hạn về tài chính và các nguồn lực khác (mà
không bị ràng buộc bởi sự cho phép của Quốc hội như thực tế ở một số nước) vào

tập trung trước đây, đều đang đặt dưới một chương trình cải cách, tái cấu trúc và cổ
phần hoá. Định hướng chung của cả Chính phủ Trung Quốc và Chính phủ Việt
Nam là giảm số lượng DNNN, tuy nhiên tăng về quy mô doanh nghiệp theo xu
hướng tập đoàn đa ngành, đồng thời không hạn chế các lĩnh vực mà DNNN hoạt
động, (chẳng hạn Trung Quốc hiện có 127 doanh nghiệp lớn thuộc trung ương quản
lý, có kế họach sắp tới giảm xuống dưới 100 doanh nghiệp bằng cách sáp nhập).
Thứ hai, mặc dù tiếp tục tiến trình cổ phần hoá và cho tư nhân tham gia cổ phần
vào các DNNN, kể cả các ngân hàng quốc doanh, cả hai Chính phủ Trung Quốc và
Việt Nam đều chủ trương tập trung hoá và tăng cưởng sức mạnh của các DNNN
thuộc trung ương, đồng thời nỗ lực cải cách quản lý các doanh nghiệp này để tạo
và/hoặc duy trì sức cạnh tranh quốc tế.
DNNN ở Trung Quốc, cũng như Việt Nam, được tổ chức theo mô hình Công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (thuộc 100% sở hữu nhà nước) hoặc công ty
cổ phần có vốn chi phối của nhà nước, (ở Trung Quốc phần lớn các công ty này đều
ghi danh trên sàn chứng khoán).
Hiện nay, nếu về khía cạnh thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với
DNNN, ở Việt Nam còn đang có sự “lúng túng” nhất định giữa “cơ chế chủ quản”
của các bộ, ngành và uỷ ban nhân dân địa phương và mô hình một đầu mối quản lý
(ví dụ như Tổng Công ty Đầu tư và Quản lý tài sản Nhà nước – SCIC) thì ở Trung
Quốc đã thực hiện triệt để mô hình “đầu mối tập trung”. Đó là Cơ quan Giám sát và
21


Quản lý tài sản nhà nước, ở trung ương trực thuộc Hội đồng Nhà nước hay Quốc
Vụ viện (tương ứng với Chính phủ ở Việt Nam) và ở địa phương trực thuộc Chính
quyền cấp tỉnh hay khu tự trị.
Về khung pháp luật điều chỉnh
Tương tự Việt Nam, hệ thống luật doanh nghiệp và công ty của Trung Quốc
bắt đầu hình thành cùng với chính sách đổi mới và mở cửa nền kinh tế và liên tục
được sửa đổi và hoàn thiện sau đó. Bắt đầu bằng Luật liên doanh với nước ngoài

can thiệp vào nền kinh tế hay thực thi các nhiệm vụ có tính chiến lược của quốc
gia. Mục tiêu này được thể hiện một cách điển hình trong mô hình Nga, đặc biệt là
Trung Quốc và Việt Nam. Lý giải điểm này, chúng ta thấy sự trùng hợp của cả ba
quốc gia này, đó là sự tồn tại trong đó các nền kinh tế chuyển đổi từ kế họach hoá
tập trung sang kinh tế thị trường. Trong suốt thời kỳ xây dựng nền kinh tế xã hội
chủ nghĩa ở các nước Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam, DNNN không chỉ đóng
vai trò chủ đạo, xét về phương diện kinh tế, mà còn được coi là trụ cột về sở hữu và
cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội. Truyền thống này vẫn đang được tiếp nối, với
mức độ và hình thức khác nhau, ở các quốc gia này.
Về hình thức tổ chức pháp lý và khung pháp luật điều chỉnh, tác giả sử dụng
tiêu chí đánh giá và so sánh giữa các mô hình được lựa chọn là vấn đề có hay
không và mức độ phân định rành mạch đến đâu giữa hai khu vực luật công và luật
tư trong pháp luật của các nước có liên quan. Nếu ở Đức có sự phân định minh
bạch nhất, ở Nga bắt đầu đi theo xu hướng có sự phân định, ở Singapore không áp
dụng luật công đối với các DNNN thì ở Trung Quốc và Việt Nam, sự phân định
tương tự là không rõ ràng, thậm chí chồng chéo.
1.2 Các mô hình tập đoàn công ty
Để có nguồn tư liệu tham khảo cho nghiên cứu vấn đề tập đoàn công ty ở
Việt Nam, tác giả đã quyết định lựa chọn ba mô hình của thế giới đại diện cho ba
cách tiếp cận khác nhau trong lĩnh vực này. Nếu như ở các nước phương Tây (Châu
Âu và Mỹ), lịch sử hình thành các tập đoàn công ty dường như là một quá trình
phát triển tự nhiên ít bị can thiệp bởi nhà nước thì ở châu Á (với đại diện là hai
quốc gia phát triển nhất là Nhật Bản và Hàn Quốc), nhà nước và chính phủ đã đóng
một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các tập đoàn công ty. Tuy nhiên,
ngay tại châu Á, giữa hai mô hình Nhật Bản và Hàn Quốc cũng có những sự khác
biệt khá căn bản. Nghiên cứu cả ba “mô hình” nói trên, theo tác giả, sẽ không chỉ
góp phần hiểu biết về các quan điểm khác nhau trong cuộc tranh luận đang diễn ra
trong giới học thuật về vấn đề tập đoàn công ty ở Việt Nam, mà còn lấy đó làm bài
học kinh nghiệm cho việc đề xuất các giải pháp mang tính cải cách cho trạng thái
hiện tại có liên quan ở nước ta.

hàng đầu trên thế giới được cập nhật hàng năm, gọi là Fortune 500, căn cứ vào
doanh số hàng năm; chẳng hạn, khoảng cách doanh số của công ty hạng chót và
hàng đầu của danh sách năm 2009 là 4,6 tỷ USD đến 443 tỷ USD.
Với sự thúc đấy của các quy luật thị trường, mô hình tập đoàn công ty của
phương Tây có sự vận động rất năng động và linh hoạt. Hiện tại, các nhà kinh tế đã
nói đến một trạng thái cấu trúc công ty mới được gọi là công ty hậu-đa quốc gia
(post-multinational corporation), trong đó, khác với trước đây, các “công ty mẹ”
vẫn duy trị tiềm lực chủ yếu ở “chính quốc” và được hậu thuẫn bởi các chi nhánh
hay công ty con ở các quốc gia khác, ngày nay, nhiều tập đoàn công ty đã hoặc di
24


chuyển trung tâm hoạt động ra bên ngoài, hoặc thiết lập nhiều trung tâm hoạt động
ở các quốc gia khác nhau. Ví dụ điển hình là Tập đoàn IBM của Hoa Kỳ, với các
trung tâm hoạt động mới ở Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil và Phillipin v.v.. sử dụng
2/3 tổng số lao động của tập đoàn, 80% doanh số đã được tạo ra từ bên ngoài nước
Mỹ.
Khung pháp luật điều chỉnh
Điểm đáng lưu ý trong lich sử hình thành các tập đoàn công ty ở phương Tây
là về cơ bản không có sự can thiệp hay tác động của nhà nước hay chính phủ, trừ sự
giám sát bằng cách ngăn cản, hạn chế hay phê chuẩn theo các tiêu chuẩn chung của
luật pháp nhằm bảo vệ nguyên tắc tự do cạnh tranh của môi trường kinh doanh và
các lợi ích của người tiêu dùng.
Xuất phát từ cách đặt vấn đề như vậy, thực tiễn áp dụng pháp luật có liên
quan ở phương Tây phân biệt ba hình thức hình thành tập đoàn công ty (thông qua
mua bán và sáp nhập công ty) như sau:
(a) Sáp nhập “ngang” (Horizontal Merger): Một công ty mua lại một hay
các công ty khác có cùng lĩnh vực hoạt động (tức đối thủ cạnh tranh).
(b) Sáp nhập “dọc” (Vertical Merger): Một công ty là nhà sản xuất và
cung cấp hàng hoá mua lại một công ty hay một hệ thống phân phối và bán loại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status