ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VÂN
TRẦN NHẬT DƯẬT
NGHIÊN c ứ ư PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO CỦA CHỦ TỊCH
ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ NƯỚC TA HIỆN NAY
(QUA KHẢO SÁT Ỏ NGHỆ AN VÀ HÀ TĨNH)
CHUYÊN NGÀNH TÂM LÝ HỌC
MÃ SỐ:
5.06.02
L U Ậ N VĂN THẠC s ĩ KHOA HỌC TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẨN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN HỬL t h ụ
V - L¿ / £ 3 ?
HẢ NỘI, 2005
Lời cẩm ơnỉ
Tôi xin tràn trọng cám ơn các thầy, các cô giáo đã dìu dắt, hướng dẫn, giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập ở khoa Tắm lý học - Trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhàn văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắ c đến thầy giáo, T S Nguyễn Hữu Thụ,
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trinh nghiên cứu
va hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cám ơn các đổng chí chủ tich UBND xã, cán bộ, nhân viên
các chính quyển cấp xã thuộc một s ố huyện như: Can Lộc, Đức Thọ, Nghi Xuân
ĐTB:
Điểm trung bình
ĐTBC:
Điểm trung bình chung
ƯBND:
Uỷ ban nhân dân
HĐND:
Hội đổng nhân dân
ĐCSVN:
Đảng cộng sản Việt Nam
MỤC
% IỤC
*
Trang
PHẨN THỨ NHẤT
1
NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG
C ơ SỎ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỂ NGHIÊN CỨU.
I. Lịch sử nghiên cứu vấn để
1. Vấn đê PCLĐ trong các tác phẩm của chủ nghĩa Mác, Lènin,
tư tưởng Hổ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta.
2. Các công trinh nghiên cứu PCLĐ ở ngoài nước
3. Các công trình nghiên cứu PCLĐ ở nước ta.
II/C ác khái niệm cơ bản của đề tài.
1. Khái niệm PCLĐ trong tám lý học
2. Các yếu tò ảnh hưởng đến PCLĐ của CTX.
3. Đặc điểm hoạt động của CTX.
4. Những yéu cầu về phẩm chất và năng lực trong cấu trúc
PCLĐ của CTX hiện nay.
HƯƠNG II:
i i r ơ N G III:
TỔ CHỨC NGHIÊN c ứ u
1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu.
II.Tổ chức nghiên cứu bằng phương pháp điéu tra
III. Tố chức nghiên cứu bằng phương pháp trác nghiệm.
K ẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u PHONG CÁCH LÃNH ĐAO
5
5
5
11
14
15
trạng các kiểu PCLĐ của CTX.
3.2. Đánh giá của cán bộ, nhán viên ƯBND xã vé biểu hiện
các kiểu PCLĐ của CTX.
4. Đánh giá của chủ CTX về các yếu tỏ ảnh hưởng đến
PCLĐ.
4.1. Các yếu tô khách quan ảnh hưởng đến PCLĐ của
CTX.
4.2. Các yếu tô chủ quan anh hưởng đến PCLĐ củaCTX.
4.3. So sánh đánh giá của CTX và cán bộ, nhản viên UBND
xã vé mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến
PCLĐ.
5. CTX tự đánh giá về thực trạng một sô phắm chất và
nàng lực trong cấu trúc PCLĐ của CTX.
5.1. CTX tự đánh giá thực trạng một sô phàm chát trong
cấu trúc PCLĐ của CTX.
5.2. CTX tự đánh giá thực trạng các năng lực trong cấu
trúc PCLĐ.
5.3. So sánh đánh giá của CTX và cán bộ, nhán viên UBND
xã vê phám chất và năng lực của CTX.
6. Đánh giá của CTX về những thuận lợi vàkhó khãn mà
họ đang gặp phải trong hoạt động lãnh đạo, quản lý.
7. Yêu cầu xảy dựng PCLĐ của CTX trong thời kỳ mới.
8. Ý kiến của nhân dân về PCLĐ của CTX .
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHI
1. Kết luận:
2. Kiến nghị:
72
76
PHẨN THỨ NHẤT
NHỮNG VÂN ĐỂ CHƯNG
1. Lý do chọn đẻ tài:
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “ Cán bộ là cái gốc của moi công việc.
Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” [8, 240].
Công tác cán bộ từ trước đến nay đã và đang được Đảng và Nhà nước ta đặc
biệt quan tâm vì đùy là một vấn đề rất nhạy cảm, là yếu tố quan trọns ảnh
hướng trực tiếp đến sự tồn tại và hưng thịnh của một quốc gia, không có một
nén kinh tế - xã hội nào của một đất nước phát triển được mà trong đó còn tồn
tai những người lãnh đạo, quán lý tồi, những nhân tố mục ruỗng... Sự nghiệp
đáy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nav, đặc biệt là công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và việc thực hiện quy chế
dàn chủ cơ sở đang được triển khai trên phạm vi toàn đất nước cá bé rộng lản
chiều sâu đã đưa lại nhiều thành công lớn đối với công cuộc đổi mới đất nước
nói chung và đổi mới nông nghiệp, nông thôn nói riêng, trong đó có đóng góp
rất nhiều của đội ngủ CTX. Họ đã thê hiện tốt phẩm chất và năng lực của
mình, có PCLĐ dân chủ, khoa học, không xa dân, sống trong lòng dân, ba
cùng với dân, xứng đáng là những người đảm đương trọng trách lớn lao của
Đàng và Nhà nước giao cho, là cầu nối liền giữa Đàng với nhân dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được thì một sô CTX hiện nay còn bộc
lộ những yêu kém do chưa được đào tạo đồng bộ về chuyên món nghiệp vụ,
còn giữ lại tác phong làm việc chậm chạp, quan liêu của cơ chế cũ, sống quan
cách, xa dân, tủm lý tiếu nông làng xã đang còn chi phối cách nghĩ, cách làm
của họ. Vẫn còn những cán bộ chưa được qua thử thách và rèn luyện, còn bị
choáng nghợp trons sự vận động của cơ chế thị trường, chưa thế thích ứng
được. Trong hoạt động lãnh đạo, quản lý cùa họ còn tổn đọng nhiều vấn đề
bức xúc trong dàn chưa được giái quyết, vì vậy còn dể xàv ra hiện tươníi nông
dãn đi khiếu nhiều làm ành hường không tốt đến việc giữ gìn an ninh trật tư ở
của CTX ờ Nghệ An và Hà Tĩnh.
3.3. Đé xuất một số kiến nghị và để xuất nhàm xày dựng và đổi mới
PCLĐ của CTX ờ Nehệ An và Hà Tĩnh phù hợp với điéu kiện mới hiên nay.
4. Đói tượng nghiên cứu:
Phons cách lãnh đạo của chủ tịch xã.
2
5. Khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu:
Trong luận văn này tôi chọn khách thể nghiên cứu chính là CTX (tổng
số 31 người). Khách thể phụ là cán bộ, nhân viên trong UBND xã (tổng số 125
người) và người dân trong xã (tổng s ố 49 người).
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Luận vãn chí thực hiện nghiên cứu trong phạm vi 2 tỉnh: Nghệ An và
Hà Tĩnh. Trong 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, chúng tôi chọn địa bàn các xã
thuộc huyện miền núi và đổng bàng: ở Nghệ An chúng tỏi chọn các xã thuộc
4 huyện: Đỏ Lương, Thanh Chương, Nam Đàn, Nghi Lộc. Ớ Hà Tĩnh chúng
tôi chọn các xã thuộc 4 huyện Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc, Nghi Xuân... sự
lựa chọn của chúng tôi hoàn toàn do ngẫu nhiên.
6. Giả thuyết khoa học:
- CTX ờ Nghệ An và Hà Tĩnh đang còn tồn tại 3 kiêu PCLĐ khác nhau,
trong đó PCLĐ dân chủ chiếm ưu thế.
- Các yêu tô khách quan như: quan điểm, đường lỏi của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, phong tục tập quán địa phương, cấp trên, cấp
dưới của người CTX, bầu không khí tâm lý tập thể... Và các yếu tố chủ quan
như: tình cảm, ý chí, tính cách, khí chất, động cơ, mục tiêu, trình độ vãn hoá,
trình độ chuyên môn, kinh nghiệm quản lý... đang tác động, ảnh hường đến
PCLĐ của người CTX. Trong đó, các yếu tố khách quan và chù quan có ảnh
của CTX.
+ Thứ hai, phiếu điều tra lấy ý kiến nhận thức của CTX về PCLĐ và
những khó khăn chính bàn thân họ đang gặp phái trong lãnh đạo, quản lý.
+ Thứ ba, phiếu điều tra lấy ý kiên của người dàn về CTX.
7.7. Phương pháp thống kê toán trong nghiên cứu Tâm lý học:
Sử dụng phương pháp thống kê. đo lường xã hội học bằng phần mém xử
lý và phân tích sổ' liệu SPSS 11.0. Với phương pháp này. chúng tôi có thế phân
tích tý lệ phẩn trăm cùa các ý kiến trả lời, so sánh các ý kiến của khách thể
bàng mức độ tương quan cùa các nhỏm khách thế trá lời.
4
PHẨN THỨ HAI
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
I. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
I. Ván đề PCLĐ trong các tác phẩm của chủ nghĩa Mác, Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Mình và quan điểm của Đảng ta.
Trong các di sản lý luận của Các Mác, Ph.Ãngghen và V.I. Lênin, các
ông cho rằng PCLĐ gắn liền với phẩm chất nhân cách cúa người cán bộ cách
mạng. Ớ thời kỳ Các Mác, Ph.Ảngghen tuy chưa có một chính đáng nào giành
được chính quyén, nên vấn đề cán bộ trong điều kiện đủng cầm quyển chưa
được các ông bàn đến nhiểu. Tuy vậy, trong các học thuyết của mình, các ông
đã đề cập đến phẩm chất và năng lực của người cộng sản. Sự nghiệp cách
mạng muốn thành công, tất yếu đòi hỏi người cán bộ cách mạng có đầy đủ
phẩm chất và năng lực, có PCLĐ sâu sát và khoa học. Những quan điểm của
Các Mác và Ph.Ảngghen vể xây dựng CNXH tương lai trong đó có quan điểm
về yêu cầu xây dụng phong cách người lãnh đạo trong thời kỳ mới là: Cần xây
dưỡng cán bộ là công việc quan trọng của Đảng, công tác cán bộ cần chú ý
đến các khâu đào tạo, bố trí, bồi dưỡng và rèn luyện cán bộ trong thực tiễn.
Người coi tiêu chuấn hàng đầu trong xây dựng phong cách người cán bộ cách
mạng là: năng lực chuyên môn, giác ngộ chính trị, có kinh nghiêm quàn lý, rõ
ràng trong còng tác, gần gũi, gấn bó với cấp dưới và công việc của tập thể.
Lênin cho ràng:
Muốn quản lý thì phải là người thông thạo chuvên môn.
phái biết một cách đáy đú và chính xác tất cả những điéu kiện của sàn xuất;
phải hiểu được kỹ thuật của nển sản xuất đó ở nhũng trinh độ hiện đại của nó,
phải có một cách nhìn khoa học nhất định. Đó là những điều kiện mà bất luận
thế nào chúng ta cũng phải có đáy đủ.”[5, 248] và theo Lênin: “ Không phải
bẩm sinh ra là người đã có được nghệ thuật quản lý rồi, mà phải trải qua kinh
nghiệm mới có được”. [3, 216]
Như vậy, Lênin đã xây dựng học thuyết của mình trên cơ sở phát triển
sáng tạo, triệt để học thuyết của c. Mác và Ph.Ảngghen về mối quan hệ biện
chứng giữa người cán bộ cách mạng và quấn chúng nhân dân lao động. Phong
cách người lãnh đạo thật sự khoa học và có hiệu quả đó là phong cách gán bó
với quần chúng nhân dàn, sự gắn bó thường xuyên với quần chúng, quan tâm
đốn con người, tính tập thể chủn chính và trách nhiệm của cá nhân đối với
còng việc được giao. Người lãnh đạo có phong cách làm việc tốt đó là người đi
sâu, đi sát với quđn chúng, hiểu tâm tư. nguyện vọng của quần chúne thế hiện
tính dân chù, công bàng trong lãnh đạo. Chính vì vậy, những quan điếm của
V.I Lênin đối với nsười cán bộ cách mạns rõ ràng là rất chặt chẽ, cần phải có
công tác lựa chọn, kiểm tra cán bộ và xây dưnơ đội ngũ cán bộ cho Nhà nước
7
8
mạng, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Mỗi
cán bộ, đảng viên làm việc đúng hơn, khéo hơn thì thành tích của Đảng còn to
tát hơn nữa - tức là phải có phong cách làm việc khoa học hơn... Mỗi cán bộ,
đảng viên cần phải có tính đảng mới làm việc được. Kém tính đàng thì việc gì
cũng không làm nên” [8, 269], cũng trong tác phẩm này, khi bàn về “Cách
lãnh đạo”, Bác luôn căn dặn cán bộ phải hết sức tránh căn bệnh quan liêu, xa
dân, không biết tranh thủ ý kiến của dân, thiếu dân chủ trong tập thể, Người
nói: “Có nhiéu cán bộ không bàn bạc. không giải thích với dân chúng, không
để cho dân chúng phát biểu ý kiến, giải thích các vấn đề, chi bất buộc dân
chúng phái làm theo mệnh lệnh... Họ chỉ làm theo ý họ. Kết quả làm cho dân
chúng nghi ngờ, uất ức, bất mãn” [8, 294]. Theo Bác, cách khắc phục bệnh
quan liêu, xa dân, thiếu tin tưởng dân là: “ Chúng ta phải kiên quyết bỏ sạch
lối quan liêu, lối chật hẹp, lối mệnh lệnh”[8, 297J. Trong tác phám “Sửa đối
lối làm việc”, Bác đã nêu nguyên nhân những nhược điếm của cán bộ ta là: “
Vì nhiều lẽ. Mà trước hết là vì: Cách lãnh đạo của ta không được dân cliả,
cách công túc của ta không được tích cực....
Đối với cơ quan lãnh đạo, đối với những người lãnh đạo, các đảng viên
và các cán bộ có ý kiến cũng không dúm nói, dùng muốn phê bình cũng sợ,
không dúm phê bình." [8; 243] Như vậy, Bác Hồ của chúng ta đã rất quan tâm
đến sửa đổi tác phong, lối làm việc của cán bộ lãnh đạo. Người luôn nhắc nhở
đối với cán bộ cách mạng cần phải tránh lối làm việc quan liêu, mệnh lệnh,
cửa quyền, hách dịch, xa rời quần chúng nhân dân, người cán bộ cách mạng
phải luôn luôn giữ gìn đạo đức, tác phong gần gũi với dân, luôn là “công bộc
của dàn”.
Từ khi Đáng cộng sản Việt Nam ra đời, trải qua các quá trinh lãnh đạo
cách mạng và xây dung CNXH ở nưức ta, đặc biệt ờ thời kỳ đổi mới đất nước
định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,... có phong cách làm việc
khoa học, đưa lại hiệu quả thiết thực” [15, 31].
Tóm lại, các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hổ Chí Minh và Vãn kiện các kỳ đại hội cùa Đàng ta đã nghiên cứu và chi ra
được những đặc điểm của phong cách và yêu cầu xây dựng, đổi mới PCLĐ
của người cán bộ lãnh đạo, quàn lý. Đày là một yêu cầu cáp thiết đòi hỏi
người cán bộ, đàng viên phải có ý thức rèn luyện, trau dổi phẩm chất chính trị
10
và nâng lực thực tiễn, có tác phong, PCLĐ đi sâu, đi sát và thực tế, gắn bó với
quần chúng nhân dân để đưa lại hiệu quả công việc ngàv càng cao hơn.
2. Các công trình nghiên cứu PCLĐ ở ngoài nước
2.7. Nghiên
CÍŨI
PCLĐ của các nhà Tâm lý học  u - Mỹ và Nhật Bà/Ì
Ở các nước Âu - Mỹ, nhờ cuộc cách mạng công nghiệp phát triển vượt
bậc, việc quản lý nhân sự trong các nhà máy xí nghiệp buộc các nhà Tư bản
phải tính đến các yếu tố tâm lý của người lãnh đạo và của công nhùn lao động
ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của công việc, ảnh hưởng đến quá trình
sản xuất kinh doanh trong các xí nghiệp, nhà máy... Trong các yếu tố tâm lý
đó, họ cho rằng PCLĐ của người lãnh đạo, quàn lý xí nghiệp đóng vai trò
quan trọng và không thể không tính đến. Chính vì vậy, nghiên cứu PCLĐ của
người đứng đầu tập thế và tàm lý người dưới quyền được nhiều nhà tâm lý học
của các nước Tư bún coi trọng, trong những công trình nghiên cứu PCLĐ của
các nhà Tâm lý học phương Tây, nổi lẻn đó là các học thuyết X, Y, z, đáy là
Các nghiên cứu PCLĐ và sử dụng các kiểu ỉãnh đạo phù hợp trong tập
thế sản xuất sao cho đạt hiệu quả tư bản cao là những quan tàm nghiên cứu
của các nhà tâm lý học các nước Âu - MỸ và Nhật Bủn. Nghiên cứu của
Robert Blake và J. s. Mouton thì cơ cáu tố chức, tổng đề án doanh nghiệp làm
nên hiệu quả của tổ chức, nhưng theo ho một nhán tố đỏng vai trò quyết định
hiệu quả của hoạt động là cách ứng xử của người lãnh đạo đối với người dưới
quyển và người lao động. Hai tác giả đã đưa ra mạng Grid (mạng Grìd nghiên
cứu hiệu quả sản xuất và cách sử dụng người khác), qua nghiên cứu các tác
già cho thấy những nét tương đổng và sự khác biệt, mặt mạnh và mặt yếu, các
kết luận về cách lãnh đạo, qua đó phân tích mặt ưu và nhược của từng PCLĐ.
Tác giả người Pháp Dominque Chalvin đưa ra hai tiêu chuẩn vé nghề nghiệp
và mục tiêu của nghề nghiệp để chia ra các kiểu PCLĐ khác nhau, cách phân
chia của ông gồm hai yếu tố tạo thành PCLĐ đó là yếu tố cá nhân và yếu tô'
mỏi trường. Cách nghiên cứu PCLĐ của tác giả Nhật Bủn quan tâm đến yếu tố
con người trong sản xuất và nghệ thuật quán lý cùa người giám đốc xí nghiệp.
Trong cuốn “Nghẹ thuật quản lý kiểu Nhật Ban”, tác giả Mitokazu Aoki cho
rằng: đế quàn lý thành công một xí nghiệp thì người giám đốc cần nâng cao
quản lý thành nghệ thuật, cách sử dụng PCLĐ của giám đốc trong tập thể và
công việc của mình phái linh hoạt, giám đốc phủi hiếu người lao động và quan
tàm đến đời sống tinh thần của người dưới quyền, bầu không khí tâm lý táp
12
thể sản xuất. Người dưới quyền cảm thấy yên tâm lao động sản xuất thì xí
nghiệp mới đạt hiệu quả cao.
2.2. Nghiên cứu PCLĐ của các nhà Tàm lý học Liên Xô
Rút ra được những hạn chế và sai lầm khi nghiên cứu về PCLĐ của các
trường phái tâm lý học phương Tây, đó là lập trường nghiên cứu máy móc như
lý thuyết trường của K. Lewin, học thuyết nhân vãn của Maslow... Từ cơ sờ lý
xuất bản năm 1982 đã nhấn mạnh đến bản chất của phong cách chính là động
cơ, chí hướng, mục đích bên trong, là khả năng hiện thực hoá của nhân cách.
Ông cho rằng: “ Phong cách sống là thuật ngữ khoa học cho phép nghiên cứu.
nắm bắt, giải thích hành vi nhân cách từ bén trong với các động cơ, chí hướng,
mục đích của nó, phong cách là cách thức hiện thực hoá các khả năng xã hội
của nhân cách”. G.M. Côvaliov khi nghiên cứu về phong cách nêu rõ: Phong
cách bao gồm các phẩm chất: Tư duy, tình cảm, ý chí. khí chất và tính cách,
trong đó phám chất ý chí có vai trò quan trọng cơ bàn.
3. Các cóng trinh nghiên cứu PCLĐ ở nước ta.
Nển tâm lý học Việt Nam ra đời trên cơ sở kế thừa nền táng cùa tâm lý
Liên Xỏ và các nước Châu Âu. Các công trình nghiên cứu về PCLĐ cùa các
nhà tám lý học ở nước ta còn ít. Trong những nãm vừa qua có thể kế tới các
công trình nghiên cứu của các tác giả sau: Nguyễn Ngọc Phú: Một sỏ vân để
về tâm lý học quân sự trong xây dựng quân đội; Mai Hữu Khuê: Những khía
cạnh tâm lý của quản lý; Nguyễn Quang uẩn, Trần Đình Quáng, Nguyễn Hải
Khoát: Những khía cạnh tâm lý trong công tác cán bộ; Trần Ngọc Khuê: Giáo
trình Tâm lý lãnh đạo, quản lý; Nguyễn Bá Dương: Tám lý học quán lý dành
cho người lãnh đạo... Các tác giả trên đã nêu được PCLĐ là các thuộc tính tâm
lý của nhân cách, là hệ thống phương pháp, cách thức hoạt động của cá nhân.
PCLĐ hình thành, tổn tại, thay đổi và phát triển trong hoạt động của cá nhân
và môi trường lãnh đạo, quản lý. PCLĐ phản ánh đặc điểm hoạt động và nhãn
cách người lãnh đạo. PCLĐ chính là phẩm chất, năng lực, động cơ, tính cách,
tình cảm, ý chí của người lãnh đạo biểu hiện qua phương pháp, cách thức, diện
mạo, thái độ, hành vi ứn2 xử, phong tục tập quán, thói quen mà người khác có
thể nhận ra được.
Mới đày, các tác giả tiếp cận nghiên cứu PCLĐ như: Tác già Vũ Dũn«
trong cuốn: “Tàm lý học xã hội - mấv vấn để lý luận " đã bàn về phong cách
14
lãnh đạo là nsười hoạch dịnh chính sách, đinh ra phương hướng, kế hoạch
15
thực thi công việc của đơn vị sao cho công việc của đơn vị có hiệu quà cao
nhất. Tác giả Mai Hữu Khuê trong cuốn: “ Tàm lý học trong quản lý Nhà
nước” định nghĩa như sau: “ Lãnh đạo là sự ảnh hưởng về cách xử sự cùa một
số người trong mỗi nhóm hoặc một tổ chức, đật ra mục tiêu, vạch ra con
đường để đạt mục tiêu đó và tạo ra những quy tắc xã hội trong nhóm”; Hai tác
giả Hemphill và Coons định nghĩa: “Lãnh đạo là sự ảnh hường về cách xử sự
của một số người trong mỗi nhóm hoặc tổ chức, đặt ra mục tiêu, vạch ra con
đường để đạt những mục tiêu đó và tạo ra những quy tắc xã hội trong nhóm”.
Như vậy, lãnh đạo là quá trình giải quyết các mối quan hệ giữa con người với
con người trong tổ chức nhằm xử lý các tình huống để tiến tới mục tiêu chung,
người lãnh đạo là người đứng đầu tập thể. Từ những nghiên cứu trên, theo
chúng tôi: Lãnh đạo là quá trình tác động, định hướng giữa con người với con
Hi>ười gắn liên với một tình huống nhất định, quan tám đến con MỊ ười, láy
thuvết phục lùm phương tiện túc dộng đê tiến tới mục tiên chunạ.
1.2. Khái niệm quản lý.
Theo từ điển tiếng Anh, từ quản lý (Management) được dùng với nghĩa
vừa quản ỉý, vừa điểu khiển các tổ chức công việc.
Từ điển tiếng Việt, hai khái niệm quản lý và lãnh đạo được dùng với hai
nghía khác nhau. Với thuật ngữ quản lý được hiểu. Thứ nhất, đó là trông coi
và giữ gìn như quản lý hổ sơ, quản lý vật tư. Thứ hai, đó là tổ chức và điều
khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định. Thuật ngữ lãnh đạo được hiểu:
Thứ nhất, đó là để ra các chủ trương, đường lối và tổ chức động viên thực hiện
(như lãnh đạo quần chúng đấu tranh); Thứ hai, với nghĩa là nói tới một cơ
quan lãnh đạo trong quan hệ với người được lãnh đạo.
Ta có thể phân biệt sự khác nhau của hai khái niệm lãnh đạo và quản lý
PCLĐ phủn ánh mối quan hệ với môi trường lãnh đạo, phàn ánh điều kiện
kinh tế xã hội mà người lãnh đạo đó đang làm việc. Một thời đại cụ thể, một
điều kiện kinh tế xã hội cụ thể, một con người cụ thế và một mỏi trường lãnh
đạo đặc thù tạo nên, nét độc đáo trong phong cách của người lãnh đạo. PCLĐ
có tác động trực tiếp đến hiệu quả của công việc, PCLĐ là nhân tố đóng vai
trò quan trọng trong lãnh đạo một tập thể hoạt động. Một người lãnh đạo có
thái độ, động cơ làm việc tôì, họ biết động viên, khuyên khích người dưới
quyền hăng say làm việc, biết phát huv tốt những phát minh, sáng kiến cùa tập
thể để phục vụ lợi ích chung của tập thê chắc chấn sẽ tạo ra hiệu quả cỏn2 việc
cao. Ngược lại, nếu người lành đạo có động cơ, mục tiêu làm việc tốt nhưng
không có PCLĐ hiệu quả, phù hợp với tập thê thì hiệu quà công việc vẫn
không cao.
Các nhà Tâm lý học Liên x ỏ và các nước Đônơ Âu đã rất thành công
trong nhữns công trình nshiên cứu của mình vé PCLĐ. Theo A. Cubanova. M.
Rakhmatulina thì phons cách là toàn bộ hệ thông những phương pháp, ihu
20