ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH THỊ HOÀNG ANH
Vi ph¹m vµ xö lý vi ph¹m ph¸p luËt lao ®éng
®èi víi ng-êi lao ®éng n-íc ngoµi
lµm viÖc t¹i ViÖt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH THỊ HOÀNG ANH
Vi ph¹m vµ xö lý vi ph¹m ph¸p luËt lao ®éng
®èi víi ng-êi lao ®éng n-íc ngoµi
lµm viÖc t¹i ViÖt Nam
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN XUÂN THU
HÀ NỘI - 2015
1.2.1.
1.2.2.
1.3.
VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI
LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI ............................................................ 9
Khái niệm, đặc điểm của người lao động nước ngoài .................. 9
Khái niệm người lao động nước ngoài .............................................. 9
Đặc điểm của người lao động nước ngoài ....................................... 16
Khái niệm vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động
đối với người lao động nước ngoài ............................................... 18
Khái niệm vi phạm pháp luật lao động do người lao động
nước ngoài thực hiện ....................................................................... 18
Khái niệm xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao
động nước ngoài .............................................................................. 22
Pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với
người lao động nước ngoài ............................................................ 24
1.3.1.
Khái niệm, vai trò của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật
lao động đối với người lao động nước ngoài ................................... 24
1.3.2.
Quy định về các hành vi vi phạm pháp luật lao động của
người lao động nước ngoài .............................................................. 27
1.3.3.
Thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người
lao động nước ngoài ........................................................................ 29
1.3.4.
Biện pháp xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao
động nước ngoài .............................................................................. 30
lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo quy định của
pháp luật Việt Nam .......................................................................... 50
2.2.2.
Thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao
động nước ngoài làm việc tại Việt Nam .......................................... 59
2.3.
Đánh giá chung về thực trạng vi phạm và xử lý vi phạm
pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài làm
việc tại Việt Nam ............................................................................ 64
2.3.1.
Những kết quả đạt được ................................................................... 64
2.3.2.
Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân ..................................................... 66
Kết luận Chương 2 ........................................................................................ 76
Chương 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ VI PHẠM VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM
VIỆC TẠI VIỆT NAM .................................................................. 77
3.1.
Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật lao động
nhân lực đất nước............................................................................. 81
3.2.2.
Tăng cường trách nhiệm các Bộ, ngành trong công tác quản lý
người lao động nước ngoài .............................................................. 84
3.2.3.
Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về người lao động nước
ngoài làm việc tại Việt Nam ............................................................ 86
3.2.4.
Nâng cao năng lực cán bộ, điều kiện cơ sở vật chất đáp ứng
tốt công tác quản lý người lao động nước ngoài ............................. 88
3.2.5.
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp
luật đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam ...... 89
3.2.6.
Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quản lý người lao
động nước ngoài .............................................................................. 90
3.3.
Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra và xử lý vi phạm
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 103
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHXHCNVN:
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
HCM:
Hồ Chí Minh
ILO:
Tổ chức Lao động Quốc tế
IOM:
Tổ chức Di cư Quốc tế
LĐTBXH:
Lao động thương binh xã hội
NLĐ:
Người lao động
NSDLĐ:
Còn theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) trung bình cứ 25
người lao động trên thế giới thì có một người là lao động di trú. Số lượng
người lao động di trú trên thế giới trong những thập kỷ gần đây tăng rất
nhanh. Nếu như trong giai đoạn 1965-1990, mỗi năm trên thế giới có thêm
khoảng 45 triệu người lao động ra nước ngoài làm việc, với tỷ lệ tăng
2,1%/năm, thì hiện tại mức tăng này là 2,9%. Ở nhiều quốc gia, đặc biệt là
các nước đang phát triển, việc ra nước ngoài tìm việc làm rất phổ biến. Theo
một số nghiên cứu, 51% thanh niên các nước Ả-rập muốn ra nước ngoài tìm
việc làm; tỷ lệ này ở Bosnia là 63%, ở khu vực Viễn Đông của Nga là 60%,
ở Peru là 47%, ở Slovakia là 25% [29, tr.6]...
Thực tế cho thấy, dòng người lao động di trú chủ yếu là từ các nước
đang phát triển sang các nước phát triển, tuy nhiên, cũng có một phần diễn
ra giữa các nước đang phát triển (từ những nước nghèo hơn tới các nước
giàu có hơn). Dù vậy, trong mọi trường hợp, đích đến của những người lao
động di trú là các nước có nhiều cơ hội việc làm và cải thiện cuộc sống hơn
so với nước mình.
Sự gia tăng nhanh chóng của tình trạng di trú lao động trong những
thập kỷ gần đây cho thấy dòng chảy người lao động di trú ra nước ngoài rất đa
1
dạng. Trong khi phần lớn người lao động đi theo cách thức hợp pháp (ký kết
hợp đồng lao động với người sử dụng lao động nước ngoài một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp thông qua các công ty xuất khẩu lao động), một số khác đi theo
con đường bất hợp pháp (tự mình vượt biên hoặc trả tiền cho các băng buôn
lậu người để được đưa ra nước ngoài làm việc bằng cách vượt biên đường bộ,
đường không, đường biển; hay giả dạng khách du lịch, đi thăm thân nhân ở
nước đến rồi tìm cách ở lại… Ở góc độ pháp lý, đây là hành động bất hợp
pháp, không được khuyến khích, các hành vi vi phạm của người lao động
nước ngoài đã tạo ra gánh nặng với lực lượng biên phòng, an ninh và nhiều cơ
“Vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động
nước ngoài làm việc tại Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói các nghiên cứu về lao động nước ngoài làm việc ở Việt nam
của các nhà nghiên cứu, nhà quản lý chưa nhiều và tập trung vào một số
hướng như: xu hướng di chuyển lao động quốc tế, chính sách quản lý lao
động của Việt Nam, việc thực hiện quy định pháp luật về lao động của lao
động nước ngoài như Phạm Thị Thanh Bình (2009), “Xu hướng di chuyển lao
động từ các nước đang phát triển” và “Di chuyển lao động chuyên môn cao
quốc tế: Nguyên nhân và thực trạng”, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam;
Phan Huy Đường (2010), “Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về lao
động nước ngoài làm việc tại Việt Nam”, Tạp chí Lao động-Xã hội số 407
tháng 5/2011; Phan Huy Đường, Tô Hiến Thà (2011), “Lao động nước ngoài
ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Lao động - Xã hội số 402
tháng 3/2011; Tô Hiến Thà (2008), “Giải pháp phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao”, Tạp chí lao động và xã hội, số 340/2008; Phan Huy Đường,
Đỗ Thị Dung (2011), “Một số vấn đề đặt ra trong thực hiện quy định pháp
luật về lao động nước ngoài ở Việt Nam và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Lao
động và Xã hội, số 403 tháng 3 năm 2011 và “Giải pháp tăng cường quản lý
3
nhà nước về lao động nước ngoài tại VN”, Tạp chí Lao động và Xã hội, số
407; Bùi Quảng Bạ (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,
1996), “Đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước đối với
người nước ngoài ở Việt Nam”;
Ngoài ra, còn có một số đề tài có liên quan được nghiên cứu ở cấp độ
luận án tiến sỹ hoặc sách chuyên khảo như Luận án Tiến sĩ luật học của Ngô
Phúc Thịnh (Học viện An ninh nhân dân, Hà Nội, 2002), “Quản lý nhà nước
nào nghiên cứu về các vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với
người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam hiện nay cũng như chính
sách pháp luật liên quan xử lý vi phạm đối với lao động nước ngoài để từ đó
rút ra các bài học kinh nghiệm quản lý lao động nước ngoài cho Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về vi
phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với lao động người nước ngoài;
thực trạng vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với lao động
người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, nhất là những tồn tại, hạn chế, từ đó
đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật, hạn chế các hành vi
vi phạm và nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với lao
động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện các mục đích nêu trên, các nhiệm vụ cụ thể được xác định
như sau:
- Phân tích khái quát một số vấn đề lý luận về vi phạm và xử lý vi
phạm pháp luật lao động đối với lao động người nước ngoài;
- Đánh giá kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế trong các quy định
của pháp luật về vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động của lao động
người nước ngoài cũng như thực tiễn công tác xử lý xử lý vi phạm pháp luật
5
lao động với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong những
năm vừa qua;
- Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế vi phạm và nâng cao hiệu quả xử
lý vi phạm pháp luật lao động đối với người nước ngoài làm việc tại Việt
Nam trong các giai đoạn tiếp theo.
luật lao động đối với người lao động nước ngoài, quan điểm của Tổ chức Lao
Động Quốc tế (ILO) và Liên Hiệp Quốc liên quan đến vấn đề này.
Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục đích, nhiệm vụ nghiên
cứu đặt ra, tác giả đã sử dụng một số phương pháp khoa học trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, sử dụng tổng hợp các phương
pháp khoa học chuyên ngành và liên ngành, trong đó coi trọng phương pháp
thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp, nhận xét thực tiễn.v.v.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận, các công trình nghiên cứu trước đây mới chỉ đưa ra
cách nhìn khái quát về hoạt động quản lý nhà nước đối với lao động nước
ngoài, chủ yếu dựa trên các quy định của pháp luật mà chưa nêu được các vấn
đề lý luận cơ bản về vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với
người lao động nước ngoài.
Luận văn là một công trình nghiên cứu một các tương đối toàn diện và
chuyên sâu có tính hệ thống về vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động
đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam hiện nay. Luận văn
đã đưa ra được một số vấn đề lý luận chung vi phạm và xử lý vi phạm pháp
luật lao động đối với người lao động nước ngoài như: khái niệm, đặc điểm
người lao động nước ngoài, khái niệm vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao
động đối với người nước ngoài.
Về thực tiễn, Luận văn cũng đã phân tích thực trạng về các hành vi vi
phạm pháp luật lao động của người lao động nước ngoài và công tác xử lý vi
phạm này tại Việt Nam, hệ thống hóa các quy định pháp luật hiện hành vi
7
phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người nước ngoài, đồng
thời đưa ra và phân tích các số liệu thực tế trong thực tiễn hoạt động xử lý vi
phạm pháp luật lao động đối với người nước ngoài, chỉ ra những tồn tại hạn
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, quá trình toàn cầu hóa
kinh tế và hội nhập kinh tế của mỗi quốc gia tạo ra sự phân công lao động
ngày càng sâu sắc trên phạm vi toàn cầu. Di cư quốc tế, hay sự dịch chuyển
lao động xuyên quốc gia đã trở thành một phần vô cùng quan trọng của quá
trình toàn cầu hóa nền kinh tế quốc tế.
Theo dữ liệu được Liên Hợp Quốc công bố vào ngày 11/9/2013, 4/10
nước có mật độ người lao động nhập cư cao nhất, gồm có: Mỹ, Nga, Đức và
Arap Saudi, trong đó Mỹ vẫn là quốc gia có số người nhập cư đông nhất (với
45,8 triệu người. Từ 1990 đến nay, bình quân mỗi năm nhận thêm khoảng 1
triệu người). Một số nước có tỷ lệ người nhập cư rất cao so với tổng dân số:
năm 2010, tỷ lệ nhập cư ở Qatar là 87%, Ả rập thống nhất (70%), Cô-oét
(69%), Singapore (41%). Phần lớn những người di cư từ các nước đang phát
triển sang các nước phát triển và có xu hướng tăng nhanh (từ 82 triệu người
năm 1990 lên 128 triệu người năm 2010). Xu thế nhập cư ngược lại (từ các
nước phát phát triển sang các nước đang phát triển) cũng tăng (từ 73 triệu lên
86 triệu). Bên cạnh đó, di cư quốc tế cũng tăng ở các nước có cùng trình độ
phát triển (năm 2010 trong nội bộ các nước phát triển khoảng 55 triệu người,
trong nội bộ các nước đang phát triển khoảng 73,6 triệu). Khoảng 50-60%
người di cư trong nội châu lục, ngoại trừ Bắc Mỹ là nơi di cư trong nội vùng
chỉ chiếm 36%. Các quốc gia gửi nhiều người di cư nhất là: Trung Quốc 35
triệu; Ấn Độ: 20 triệu và Philippine 7,0 triệu [42, tr.40].
Sự dịch chuyển lao động xuyên quốc gia nói trên, thường được đề cập
với các thuật ngữ kinh tế học như “Di chuyển lao động quốc tế”, “Di cư lao
9
động quốc tế”, “Xuất khẩu lao động”, “Nhập khẩu lao động”, “Lao động nhập
cư”, “tiếp nhận lao động nước ngoài”… Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, di
chuyển lao động quốc tế là di chuyển lao động phục vụ cho nhu cầu của thị
động sang nước khác làm việc mà nước tiếp nhận lao động thường gọi là
“người lao động nước ngoài”.
Trong pháp luật quốc tế, người ta nhắc đến khái niệm lao động di trú
(migrant worker) từ rất lâu trong lịch sử phát triển của nhân loại. Người ta
thường sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để nói về NLĐ nước ngoài đó là lao
động di trú hoặc lao động nhập cư. Khái niệm di trú hay di cư được hiểu nghĩa
là “dời đến ở một nước khác để sinh sống” [43, tr.246]. Khái niệm nhập cư trái
nghĩa với di cư, là đến một nước khác để sinh sống, làm ăn [43, tr.690].
Để xây dựng một cách cụ thể và thống nhất về khái niệm “người lao
động nước ngoài”, trước hết chúng ta cần làm rõ nội hàm của khái niệm này.
Trước hết, khái niệm NLĐ là một khái niệm tương đối phổ biến trong
khoa học pháp lý và trong đời sống thực tiễn. Qua nghiên cứu cho thấy hầu
hết các định nghĩa về NLĐ đều cho rằng: “Người lao động là những người
trong độ tuổi lao động theo pháp luật quy định có cam kết lao động với chủ
sử dụng lao động, thường là nhận yêu cầu công việc, nhận lương và chịu sự
quản lý của chủ lao động trong thời gian làm việc cam kết”. Đồng thời NLĐ
là người đến tuổi lao động, có khả năng lao động, đang có giao kết và thực
hiện hợp đồng lao động với chủ sử dụng lao động. Từ góc độ kinh tế học,
NLĐ là những người trực tiếp cung cấp sức lao động – một yếu tố sản xuất
mang tính người và cũng là một dạng dịch vụ/ hàng hóa cơ bản của nền kinh
tế. Những người đang lao động là những người có cam kết lao động, sản
phẩm lao động đối với tổ chức, người khác.
Riêng khái niệm về người nước ngoài hầu hết pháp luật về quốc tịch
của các nước đều xác định người nước ngoài là người không có quốc tịch của
nước họ, những người này có thể là công dân nước ngoài hoặc người không
quốc tịch cư trú và làm việc trên lãnh thổ của quốc gia họ.
Trong pháp luật quốc tế, thuật ngữ “lao động di trú”, “lao động di cư”,
“lao động nước ngoài” thường được hiểu là những người lao động di chuyển
từ nước này qua nước khác, vì mục đích làm việc ở nước ngoài. Theo quan
nhận là thành viên của gia đình theo pháp luật hiện hành và theo các hiệp
định song phương và đa phương giữa các quốc gia liên quan [19, Điều 4].
12
Định nghĩa bổ sung này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện
khuôn khổ pháp lý về di cư lao động vì thực tế cho thấy nhiều trường hợp,
người lao động di trú đang làm việc ở nước ngoài mang theo cả bố, mẹ, vợ,
con và những người thân khác trong gia đình họ.
Mặc dù đều được coi là lao động di trú, tuy nhiên dựa trên tính pháp lý
của việc cư trú và lao động, Điều 2 Công ước chia người lao động di trú và
các thành viên gia đình họ thành hai loại: (i) Có giấy tờ hợp pháp (hoặc hợp
pháp) (documented migrant) và (ii) Không có giấy tờ (hoặc bất hợp pháp)
(undocumented migrant), trong đó dạng (i) là những người được một nước
cho phép vào, ở lại và làm công việc được trả lương tại quốc gia đó, còn dạng
(ii) là những người không được trao các quyền tương tự.
Để làm rõ hơn khái niệm “người lao động di trú”, Điều 2 Công ước
nêu rõ những đối tượng được coi là lao động di trú theo định nghĩa của Công
ước, bao gồm 8 dạng:
1. “Nhân công vùng biên” để chỉ một người lao động di trú
vẫn thường trú tại một nước láng giềng nơi họ thường trở về hàng
ngày hoặc ít nhất mỗi tuần một lần;
2. “Nhân công theo mùa” để chỉ một người lao động di trú
làm những công việc có tính chất mùa vụ và chỉ làm một thời gian
nhất định trong năm;
3. “Người đi biển” bao gồm cả ngư dân để chỉ một người lao
động di trú được tuyển dụng làm việc trên một chiếc tàu đăng ký tại
một quốc gia mà họ không phải là công dân;
4. “Nhân công làm việc tại một công trình trên biển” để chỉ
là bằng cách làm việc độc lập hoặc cùng với các thành viên gia đình
của mình, và cũng để chỉ bất kỳ người lao động di trú nào khác
được coi là nhân công tự chủ theo pháp luật hiện hành của quốc gia
nơi có việc làm hoặc theo các hiệp định song phương và đa phương.
Thêm vào đó, nhằm làm rõ khái niệm người lao động di trú, Điều 3
Công ước liệt kê những đối tượng không được coi là lao động di trú (dựa trên
tiêu chí nghề nghiệp), bao gồm 6 dạng chính như sau:
14
1. Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi các cơ quan và
tổ chức quốc tế, hoặc những người được cử hoặc được tuyển dụng
bởi một nước sang một nước khác để thực hiện các chức năng chính
thức mà việc tuyển dụng người đó và địa vị của người đó được điều
chỉnh bởi pháp luật quốc tế chung hoặc các hiệp định hay công ước
quốc tế cụ thể.
2. Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi một nước hoặc
người thay mặt cho nước đó ở nước ngoài tham gia các chương
trình phát triển và các chương trình hợp tác khác mà việc tiếp nhận
và địa vị của người đó được điều chỉnh theo thỏa thuận với quốc gia
nơi có việc làm quốc gia nơi có việc làm và theo thỏa thuận này,
người đó không được coi là người lao động di trú;
3. Những người sống thường trú ở một nước không phải quốc
gia xuất xứ để làm việc như những nhà đầu tư;
4. Những người tị nạn và không có quốc tịch, trừ khi việc áp
dụng Công ước được quy định trong pháp luật của quốc gia liên
quan, hoặc các văn kiện quốc tế đang có hiệu lực đối với quốc gia
thành viên liên quan;
5. Sinh viên và học viên;
Mục đích này nhằm phân biệt với các hành vi ra nước ngoài của một số người
đến các quốc gia khác để du lịch, học tập, chữa bệnh, thực hiện các hoạt động
tình nguyện… và những người này không được coi là NLĐ.
- Về nhân thân: NLĐ nước ngoài là người không mang quốc tịch của
quốc gia sở tại. Họ có thể có quốc tịch của nước khác, có quốc tịch một vài
nước hoặc là người không có quốc tịch của nước nào.Đây là đặc điểm nhằm
phân biệt NLĐ nước ngoài và NLĐ của chính quốc gia sở tại nơi NLĐ nước
ngoài làm việc.
16