TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP:
“PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG”
Giảng viên hướng dẫn: Ngô Quốc Dũng
Lớp: Kinh tế phát triển 54a
Sinh viên: Phùng Thị Kim Luyến
MSV: 11122394
HÀ NỘI, 2015
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
Danh mục hình
i
Danh mục bảng
ii
Danh mục từ viết tắt
iii
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến PT DLST bền vững
21
1.3.1. Các nhân tố về phía cung dịch vụ du lịch
21
1.3.2. Yếu tố tác động đến cầu về du lịch
22
1.3.3. Yếu tố từ phía chính sách của nhà nước
23
1.4.Một số bài học kinh nghiệm
25
1.4.1. Khu du lịch Cát Bà
25
1.4.2. Vườn quốc gia Cúc Phương
1.4.3. Những bài học rút ra cho PTBV du lịch sinh thái
VQG Ba Vì
Kết luận chương 1
Chương 2: Đánh giá thực trạng PTBV du lịch sinh thái
2.3.Kết luận về thực trạng PT DLST bền vững
62
2.3.1. Thành tựu đạt được
57
2.3.2. Một số hạn chế
57
Kết luận chương 2
64
Chương 3: Đề xuất giải pháp PTBV VQG Ba Vì
65
3.1.
Định hướng và mục tiêu PTBV DLST VQG Ba Vì
65
3.2.
Đề xuất một số giải pháp PTBV DLST VQG Ba Vì
4
DANH MỤC HÌNH
Nội dung
Trang
Hình 1-1: So sánh Phát triển không bền vững và PTBV
7
Hình 1-2: Mô hình PTBV của Jacobs và Sadler
9
Hình 1-3: Mô hình PTBV của WECD
9
Hình 1-4: Mô hình PTBV của Villen
10
Hình 1-5: Mô hình PTBV chung
10
5
MT: môi trường
NN: Nông nghiệp
PT: Phát triển
PTBV: Phát triển bền vững
PTKBV: Phát triển không bền vững
PTNT: Phát triển nông thôn
TNTN: Tài nguyên thiên nhiên
TW: Trung ương
VQG: Vườn quốc gia
XH: Xã hội
7
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nếu sử dụng công cụ tìm kiếm “Google search” với từ khóa “Vườn
quốc gia Ba Vì”, chỉ trong 0.5 giây, ta sẽ có 741000 kết quả. Tương tự, với từ
khóa “Phát triển bền vững”, trong 0.37 giây ta thu được 977000 kết quả. Như
vậy, đủ thấy cả hai vấn đề này đều rất được quan tâm.
Trong tiến trình phát triển, mọi quốc gia đều đặt mục tiêu phát triển bền
vững (PTBV) cho mọi chương trình hành động của mình. Đây là hướng đi
đúng đắn và cần thiết, là yêu cầu tất yếu đặc biệt là với các quốc gia đang phát
triển, đang trong quá trình CNH – HĐH đất nước, trong đó có Việt Nam
chúng ta.
Con người ngày càng có xu hướng tìm về với thiên nhiên như tìm về
với cội rễ, cho nên họ đã lựa chọn loại hình du lịch sinh thái. Nằm cách thủ đô
Hà Nội 60km về phía Tây, Vườn Quốc gia (VQG) Ba Vì là một trong những
khu bảo tồn, thăm quan, giải trí đẹp, thuộc xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, tỉnh Hà
Tây (cũ) nay thuộc thành phố Hà Nội. Nơi đây phong cảnh ngoạn mục, cảnh
sắc thiên nhiên hòa quyện với con người, là một trong những điểm đến thu
sinh thái, nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật: “Sự phát triển
của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn
trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh
thái học”.
Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, ủy ban Quốc
tế về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, “phát triển bền
vững” được định nghĩa chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh sử dụng hiệu quả nguồn
tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo môi trường sống cho con người trong quá
trình phát triển.
9
Nội hàm về PTBV được tái khẳng định ở Hội nghị Thượng đỉnh Trái
đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992
và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển
bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002. Theo đó,
“Phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và
hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng
trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội;
xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử
lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng
chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên
thiên nhiên).
Năm 2012, Hội nghị thượng đỉnh về phát triển bền vững (Rio+20) được
tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tiếp tục thảo luận về “cải thiện khuôn khổ
thể chế để phát triển bền vững và phát triển nền kinh tế xanh trong bối cảnh
phát triển bền vững và xóa đói nghèo”. Tại Hội nghị, các nước lớn đã “đòi hỏi
trách nhiệm đồng đều về môi trường”. Sau Hội Nghị, văn bản “Tương lai mà
chúng ta mong muốn” đã được thông qua.
Ở Việt Nam, phát triển bền vững được biết đến từ cuối thập niên 80 –
• Truyền tải thông điệp “ Hãy bảo vệ, sử dụng và phát triển nguồn tài nguyên
sẵn có một cách hợp lý, vì tương lai chung của mỗi chúng ta”.
4. Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp kế thừa: Kế thừa có chọn lọc và phát triển các nghiên cứu trước
đây về vấn đề đa dạng hệ thực vật và tài nguyên thực vật của khu vực Ba Vì.
• Phương pháp nghiên cứu điều tra thực địa: Quy trình điều tra nghiên cứu thực
địa áp dụng theo phương pháp được Nguyễn Nghĩa Thìn giới thiệu trong
“Cẩm nang nghiên cứu Đa dạng sinh vật” (1997), “Hệ sinh thái rừng nhiệt
đới” (2004), và “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” (2008).
• Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này được áp dụng nhằm hệ
thống các thông tin, tư liệu thu thập được thông qua việc nghiên cứu lý
thuyết, tài liệu và phỏng vấn trực tiếp quản lý VQG Ba Vì. Phân tích nhằm
11
làm rõ các vấn đề từ nhiều góc độ, tổng hợp và khái quát vấn đề giúp tác giả
dễ dàng nắm bắt thông tin.
• Phương pháp điều tra phỏng vấn: phỏng vấn ban quản lý VQG Ba Vì kết hợp
phân tích kết quả phân tích kết quả điều tra thông qua bảng hỏi đối với du
khách đã từng du lịch tại VQG Ba Vì.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát triển bền vững du lịch sinh
thái. Bài viết sẽ đưa ra lựa chọn lý thuyết phát triển bền vững, mô hình nghiên
cứu và bộ tiêu chí đánh giá phát triển bền vững ở khía cạnh du lịch sinh thái.
Đồng thời, bài viết sẽ phân tích thực trạng phát triển bền vững du lịch sinh
thái tại vườn quốc gia Ba Vì.
Phạm vi của đề tài là khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì thuộc xã Ba Vì –
huyện Ba Vì – Hà Nội. Bài viết tập trung nghiên cứu và đánh giá các điều
kiện tự nhiên (đa dạng sinh học, cảnh quan) và điều kiện kinh tế vùng đệm.
Từ đó đề xuất định hướng phát triển bền vững DLST hỗ trợ cho nỗ lực bảo
Theo Tổ chức ngân hàng phát triển Châu Á (ADB): “Phát triển bền
vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn
tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường. Phát triển bền vững cần phải
13
đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng
của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai”.
Theo Bộ luật Bảo vệ môi trường của Quốc hội nước ta, “Phát triển bền
vững là đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến
khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt
chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi
trường”.
Cho đến nay tuy có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng hầu hết đều công
nhận phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa giữa các mục tiêu tăng
cường kinh tế với các mục tiêu xã hội và bảo vệ môi trường. Hay chính là
thực hiện mục tiêu Môi trường bền vững – Kinh tế bền vững – Xã hội bền
vững.
Có thể so sánh phát triển bền vững và không bền vững như sau:
Hình 1-1: So sánh Phát triển không bền vững và PTBV
Nguồn: “Khoa học môi trường đại cương” (2007) [17]
14
Theo đó, PTBV và PTKBV khác nhau cơ bản ở mối quan hệ giữa phát
triển kinh tế và tài nguyên thiên nhiên. Khi PTKBV, TNTN góp phần phát
triển kinh tế - đầu vào của quá trình sản xuất, kinh doanh, nhưng tự nhiên chỉ
nhận lại được chất thải và ô nhiễm. Đối với PTBV, Kinh tế phát triển sẽ đầu
tư trở lại cho môi trường vì sự phát triển chung của cả con người và tự nhiên.
thống xã hội (bao gồm quan hệ của con
người trong xã hội). [11]
Hình 1-2: Mô hình PTBV của Jacobs
và Sadler
Nguồn: Sinh viên tổng hợp
Mô hình của WECD (hội đồng về
môi trường và PTBV thế giới) thì phân tích
phát triển bền vững trong mối quan hệ chặt
chẽ giữa các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị,
hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất và
xã hội.
Ở đây, phát triển bền vững đòi hỏi sự Hình 1-3: Mô hình PTBV của WECD
phối hợp nhiều lĩnh vực cụ thể hơn mô hình
Nguồn: sinh viên tổng hợp
trên.[11]
Mô hình của Villen 1990 trình bày
các nội dung cụ thể để duy trì sự cân bằng
của mối quan hệ kinh tế - sinh thái – xã hội
trong quá trình phát triển bền vững của
mỗi quốc gia.
Cụ thể, để môi trường bền vững thì
hệ sinh thái thống nhất, đảm bảo đa dạng
sinh học, khả năng chuyển hóa cao. Kinh
tế là bền vững khi đạt được sự tăng trưởng,
phát triển và hiệu quả. Xã hội bền vững
cũng yêu cầu về bản sắc văn hóa, khả năng
tiếp cận và sự ổn định của mỗi cá nhân, tổ
nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên
cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới động – thực vật hoang
dã, cũng như những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá
trong những khu vực này”.
Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịch
sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa
phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”. Theo quy
chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các VQG, khu bảo tồn thiên
nhiên, do bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành năm 2007, thì Du lịch Sinh thái
được hiểu: “Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá
địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát
triển bền vững”.
Khái niệm “phát triển du lịch bền vững” không tách rời khỏi khái niệm
“phát triển bền vững”. Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới
( UNWTO) đưa ra tại Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp
quốc tại Rio de Janerio năm 1992 thì “ Du lịch bền vững là sự phát triển của
các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và
người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các
nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai…” .
Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC, 1996) thì “Du
lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du
lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch
tương lai”. Đây là một định nghĩa ngắn gọn dựa trên định nghĩa về phát triển
bền vững của UNCED. Tuy nhiên, định nghĩa này còn quá chung chung, chỉ
đề cập đến sự đáp ứng nhu cầu của du khách hiện tại và tương lai chứ chưa
18
nói đến nhu cầu của cộng đồng dân cư địa phương, đến môi trường sinh thái,
đa dạng sinh học...
hình du lịch tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu…
Mặc dù có những quan điểm chưa thống nhất về khái niệm “Phát triển
bền vững” nhưng theo Khoản 21, Điều 14, Chương 1 – Luật Du lịch Việt
Nam (2005) “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng các nhu cầu
hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong
tương lai”.
Bài nghiên cứu lựa chọn phân tích theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch
Thế giới ( UNWTO) đưa ra tại Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên
hợp quốc tại Rio de Janerio năm 1992. Định nghĩa này hàm chứa đầy đủ các
nội dung, các hoạt động, các yếu tố liên quan đến du lịch bền vững. Đồng thời
cũng đã chú trọng đến cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ môi trường sinh
thái, gìn giữ bản sắc văn hoá.
Có thể nói, phát triển du lịch bền vững được định ra để hướng việc
quản lý toàn bộ các tài nguyên, các điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái
và các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá kèm theo, theo cách mà chúng ta có
thể thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hộivà thẩm mỹ, đồng thời duy trì tính
toàn vẹn về văn hoá, các quá trình sinh thái chủ yếu, sự đa dạng sinh học và
các hệ thống duy trì nuôi dưỡng sự sống.
1.2.Tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch bền vững
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng, và
xã hội hóa cao với sự tham gia của nhiều thành phần xã hội. Sự phát triển của
du lịch phụ thuộc nhiều vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội… của đất
nước cũng như của khu vực và trên thế giới. Vì vậy để đánh giá phát triển du
20
lịch bền vững một cách chính xác, ở Việt Nam ta dựa vào các tiêu chí cơ bản
sau:
1.2.1. Các tiêu chí về kinh tế
Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo sự tăng trưởng liên tục và ổn
Tỷ trọng GDP du lịch trong tổng GDP của địa phương được tính theo
công thức:
M=
Thông qua m, thực trạng phát triển của ngành du lịch trong nền kinh tế
quốc dân được biểu hiện một cách rõ nét. Giá trị m càng cao, ổn định và tăng
theo thời gian thì ngành du lịch càng phát triển gần với mục tiêu PTBV. Cụ
thể, thu nhập du lịch (của một vùng lãnh thổ nào đó) bao gồm tất cả các khoản
thu được do khách du lịch chi trả (khi đến lãnh thổ đó) cho dịch vụ lưu trú và
ăn uống; vận chuyển khách du lịch (không kể vận chuyển quốc tế); các dịch
vụ vui chơi giải trí, mua sắm hàng lưu niệm và các dịch vụ bổ sung khác.
Trên thực tế, tất cả các khoản thu này không phải chi do ngành Du lịch trực
tiếp thu mà còn do nhiều ngành khác, nhiều thành phần khác tham gia các
hoạt động du lịch thu.
Ngoài ra còn một số ngành dịch vụ khác không những chỉ phục vụ
người dân địa phương, mà còn phục vụ cho cả khách du lịch (dịch vụ y tế,
ngân hàng, bưu điện, phim ảnh, giao thông công cộng, bảo hiểm). Trong
trường hợp này, một phần chi tiêu của khách du lịch do các ngành khác thu.
Do vậy tất cả các khoản thu từ khách du lịch (cho dù các khoản thu này không
phải do ngành du lịch trực tiếp thu) đều được tính vào tổng thu nhập du lịch.
Thứ ba, mức độ hài lòng của du khách.
22
Chất lượng dịch vụ, chất lượng đội ngũ lao động có cao thì sự hài lòng
của du khách mới có thể cao. Do vậy, chỉ tiêu này phản ánh đầy đủ và toàn
diện chất lượng du lịch của địa phương. Ngoài ra, nếu mức độ hài lòng của du
khách cao thì thời gian lưu trú cũng lâu hơn, mức độ chi tiêu và khả năng
quay trở lại cũng cao hơn. Từ đó, hoạt động du lịch ổn định và bền vững hơn.
Thứ tư, tỷ lệ khách du lịch quay lại.
Chỉ tiêu này cho phép dự báo một cách chính xác lượng khách du lịch
du lịch. Quy hoạch du lịch là quá trình kiểm kê, phân tích, đánh giá các nguồn
lực và các điều kiện có liên quan để phát triển du lịch, từ đó xác định các
phương án phát triển phù hợp, đảm bảo việc khai thác có hiệu quả tiềm năng
tài nguyên du lịch và đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế tác động của hoạt
động của hoạt động du lịch đến tài nguyên – môi trường, mang lại hiệu quả
cao về kinh tế và xã hội. Chính vì vậy, số lượng các khu, điểm du lịch được
quy hoạch là tiêu chí quan trọng của quá trình phát triển du lịch bền vững về
mặt tài nguyên- xã hội chung của khu vực.
Thứ hai, mức độ ô nhiễm môi trường do hoạt động du lịch gây ra.
Vấn đề môi trường tại các khu, điểm du lịch cần được coi trọng trong
quá trình phát triển du lịch nhằm đạt tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững.
Việc phát triển quá nhanh các hoạt động du lịch mà không chú trọng đến công
tác đánh giá và quản lý tác động đến môi trường tại các khu vực phát triển du
lịch sẽ là nguyên nhân chính gây ra những hậu quả nghiêm trọng về môi
trường tại đây và kết quả sẽ là sự phát triển thiếu bền vững của du lịch.
Việc quản lý và hạn chế những áp lực lên các nguồn tài nguyên và môi
trường được thông qua các biện pháp quản lý nhằm giảm thiểu các chất thải;
mức độ kiểm soát các hoạt động phát triển du lịch; mức độ đầu tư bảo tồn và
duy trì tính đa dạng sinh học và duy trì các hệ sinh thái đặc hữu đang bị đe
24
doạ là nền tảng cơ bản cho phát triển du lịch bền vững…Việc đánh giá tác
động môi trường tại các khu, điểm du lịch cũng là một tiêu chí quan trọng
đảm bảo cho việc phát triển du lịch bền vững. Nếu thiếu, hoặc thực hiện
không đầy đủ các thủ tục đánh giá tác động môi trường thì quá trình phát triển
du lịch sẽ thiếu tính bền vững.
Vấn đề quản lý môi trường tại các khu, điểm du lịch cũng liên quan đến
khả năng sức chứa. Đó là việc quản lý số lượng khách đến không vượt quá
khả năng đáp ứng về tài nguyên và không làm ảnh hưởng đến khả năng phát
Thứ hai, công tác quản lý tác động xã hội từ du lịch.
Du lịch là một ngành mang tính xã hội hóa cao, vì vậy các hoạt động
phát triển du lịch không tránh khỏi những tác động mạnh mẽ lên lên nhiều
mặt của đời sống xã hội trong đó bao gồm cả 2 mặt tích cực và tiêu cực. Để
đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững, vấn đề đặt ra ở đây là cần phát
huy hơn nữa những mặt tích cực và kiểm soát, hạn chế những tiêu cực từ hoạt
động này. Nhiều vấn đề xã hội còn tồn tại hiện nay ở một chừng mực nào đó
liên quan đến phát triển du lịch (ma tuý, nạn mại dâm, hoạt động sòng bạc
không kiểm soát, người lang thang níu kéo ăn xin khách du lịch và nhiều vấn
đề xã hội khác).
Ngoài ra do tính chất của cơ chế thị trường trong hoạt động du lịch,
một số giá trị văn hoá truyền thống có thể bị biến đổi để phù hợp với nhu cầu
của khách, hoặc bị biến đổi do sự du nhập văn hoá ngoại lai…Đây là những
tác động tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển du lịch bền vững về mặt
xã hội.
Như vậy để kiểm soát và quản lý nhằm hạn chế các tác động tiêu cực
này, cần thiết phải có hệ thống văn bản pháp luât của Nhà nước và quy định