Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch sinh thái thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng - Pdf 21

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tạ Quang Trung Chuyên ngành : Địa lý học
Mã số : 60 31 95 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM XUÂN HẬU Thành phố Hồ Chí Minh – 2009

LỜI CẢM ƠN

ngành kinh tế khác, tạo việc làm cho người lao động.
Trong những năm gần đây ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng có bước tăng trưởng khá, nhịp độ tăng
trưởng hằng năm 10,4%. Chỉ tính từ 2005 – 2007 đã đón và phục vụ ch
o hơn 4.084.042 lượt khách,
tổng giá trị đầu tư đạt khoảng 350 tỷ đồng. Doanh thu xã hội từ du lịch của tỉnh khoảng 900 tỷ đồng,
đóng góp tích cực vào ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho khoảng 3.000 lao động trong ngành
du lịch và 7.000 lao động xã hội. (Nguồn: Niên giám thống kê Lâm Đồng, 2007). Trình độ tay nghề,
nghiệp vụ của cán bộ quản lý và đội ngũ lao động từng bước được
nâng cao, chất lượng sản phẩm du
lịch ngày càng được cải thiện.
Thành phố Đà Lạt, với những đặc trưng của mình: là trung tâm du lịch của khu vực Tây Nguyên
và Đông Nam Bộ, sự đa dạng của các dân tộc và tài nguyên du lịch… từ lâu đã trở thành một trong
những trung tâm du lịch lớn của cả nước. Tuy nhiên hoạt động du lịch chưa xứng đáng với tiềm năng
vốn có của nó.
Thực lực kinh tế và cơ sở vật chất hạn chế, sản phẩm du lịch đơn điệu, trùng lặp, nghèo
nàn, chất lượng phục vụ còn yếu kém, môi trường tự nhiên xuống cấp ngày một trầm trọng hơn. Nhìn
chung, hiệu quả kinh doanh du lịch còn thấp và đây cũng là vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với phát
triển du lịch thành phố Đà Lạt trong tương lai của tỉnh Lâm
Đồng.
Đà Lạt được thiên nhiên ưu đãi với nguồn tài nguyên hết sức phong phú và đa dạng, đó cũng là
tiền đề để phát triển du lịch thành phố Đà Lạt, đặc biệt là du lịch sinh thái. Vậy tài nguyên du lịch
thành phố Đà Lạt bao gồm những gì ? Ngành du lịch thành phố Đà Lạt đang phát triển như thế nào và
có theo hướng bền vững hay không? Chúng ta sẽ phải làm gì để du lịch thành phố Đà Lạt phát triển
theo hướng bền vững? Đề tài “Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch sinh thái
thành phố Đà Lạt (Tỉnh
Lâm Đồng)” sẽ góp phần giải quyết các vấn đề trên.
2. Lược sử nghiên cứu
Theo nghiên cứu thì vấn đề phát triển bền vững du lịch sinh thái thành phố Đà Lạt chưa có
nhiều và không tập trung đầy đủ, chủ yếu là nghiên cứu một phần. Có những công trình nghiê
n cứu

 Tổng hợp – Hệ thống
Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch sinh thái thành phố Đà Lạt không thể tách khỏi hệ thống
kinh tế - xã hội của cả nước. Các yếu tố cần đư
ợc nghiên cứu, đánh giá trong mối quan hệ khăng khít
chặt chẽ với sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và cả nước.
 Quan điểm lãnh thổ
Việc nghiên cứu hiện trạng phát triển du lịch sinh thái ở thành phố Đà Lạt không thể tách rời
với vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và cả nước. Do quá trình phát triển du lịch của thành phố Đà Lạt
là một phần trong quá trình phát triển du lịch với vùng Đông Nam
Bộ, Tây Nguyên và cả nước.
 Quan điểm lịch sử
Mọi sự vật, hiện tượng đều có quá trình phát sinh, vận động và biến đổi. Quá trình ấy có thể bắt
đầu từ trong quá khứ, hiện tại vẫn tiếp diễn và kéo dài đến tương lai. Đứng trên quan điểm lịch sử,
phân tích nguồn gốc phát sinh, đán
h giá đúng đắn hiện tại sẽ là cơ sở để đưa ra các dự báo xác thực về
xu hướng phát triển trong thời gian sắp tới. Quan điểm này được vận dụng trong khi phân tích các giai

đoạn chủ yếu của quá trình phát triển hệ thống du lịch và dự báo xu hướng phát triển của hệ thống lãnh
thổ.

 Quan điểm sinh thái
Phát triển du lịch phải gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái. Quan điểm sinh thái cho thấy sự
cần thiết phải bảo vệ tính toàn vẹn của hệ sinh thái, đánh giá tác động của du lịch đến môi trường và
khả năng chịu đựng của môi trường trước sự phát triển của kinh tế nói chung, du lịch nói riêng.
 Quan điểm phát triển bền vững
Du lịch sinh thái bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp
ứng các nhu cầu
hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi đó vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo
các nguồn tài nguyên và phát triển du lịch trong tương lai.
5.2. Phương pháp nghiên cứu

Chương 3. Định hướng và các giải pháp phát triển bền vững du lịch sinh thái thành phố Đà Lạt
Kết Luận – Kiến nghị

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
DU LỊCH SINH THÁI
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Du lịch
Du lịch là một hoạt động đã có từ lâu, nhưng trước đây nó không được hiểu là du lịch. Du lịch
ban đầu chỉ là việc con người bắt đầu mở rộng giao lưu với thế giới bên ngoài bằng các cuộc di
chuyển. Ban đầu chỉ là khám phá tìm vùng đất mới, sau đó là các hoạt động đi lại gắn liền với buôn
bán và thường thì sẽ lưu trú lại tại nơi đó một khoảng thời gian ngắn.
Với sự phát triển của công nghiệp ngày càng mạnh mẽ từ thế kỷ XVIII, hàng loạt các phương
tiện di chuyển hiện đại được phát m
inh thì nhu cầu nghỉ dưỡng, tham quan, nghiên cứu… trở nên dễ
dàng hơn với mọi người. Chính vì lẽ đó hoạt động du lịch có điều kiện phát triển mạnh mẽ.
Năm 1925, hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch IUOTO (Internation of Union Official Travel
Orga
nization) được thành lập tại Hà Lan, đánh dấu bước ngoặt trong việc thay đổi, phát triển các khái
niệm về du lịch. Đầu tiên, du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời
khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay
chữa bệnh.
Năm 1985, I.I.Pirogionic đưa ra khái niệm: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong
thời gian rỗi liên quan với sự di
chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm
nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hoá hoặc thể
thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá”.
Tổ chức du lịch thế giới WTO (World Tourism Organization) định nghĩa: “Du lịch
theo nghĩa
hành động được định nghĩa là một hoạt động di chuyển vì mục đích giải trí, tiêu khiển và tổ chức các
dịch vụ xung quanh hoạt động này. Người đi du lịch là người đi ra khỏi nơi mình cư trú một quãng

được những giá trị thiên nhiên và văn hoá mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối
với các hệ sinh thái và văn hoá bản địa.
“Du lịch sinh thái” là loại hình du lịch tham quan, thám hiểm, đưa du khách tới những môi
trường còn tương đối nguyên vẹn, về các vùng thiên nhiên hoang dã, đặc sắc để tìm hiểu, nghiên cứu
các hệ sinh thái và các nền văn hoá bản địa độc đáo, làm thức dậy ở du khách tình yêu và trách nhiệm
bảo tồn phát triển đối với tự nhiên và cộng đồng địa phương. Là hì
nh thức du lịch có trách nhiệm
không làm ảnh hưởng đến các khu bảo tồn thiên nhiên, không ảnh hưởng đến môi trường và góp phần
duy trì, phát triển cuộc sống của cộng đồng người dân địa phương.
Khái quát lại có thể coi “Du lịch sinh thái” là loại hình du lịch có những đặc tính cơ bản sau:
- Phát triển dựa vào những giá trị (hấp dẫn) t
hiên nhiên và văn hoá bản địa.
- Được quản lý bền vững về môi trường sinh thái.
- Có giáo dục và diễn giải về môi trường.
- Có đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng.
Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về “Du lịch sinh thái” lần đầu tiên được Hector Ceballos-
Lascurain đưa ra năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi
với những mục đích đặc biệt : nghiên cứu, tham
quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những
giá trị văn hoá được khám phá”
Cùng với thời gian, định nghĩa về “Du lịch sinh thái” được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đưa
ra, điển hình là: “Du lịch sinh thái là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm
hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hoá mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh t
hái.

Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính
cho người dân địa phương.” (Wood, 1991)
Du lịch sinh thái được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục
cao về môi trường và sinh thái thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. Du lịch sinh
thái tạo được mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức đưọc giáo dục để

Du lịch bền vững đòi hỏi quản lý tất cả các dạng tài nguyên để có thể đáp ứng:
- Nhu cầu kinh tế - xã hội.
- Duy trì bản sắc văn hoá của các dân tộc trên lãnh thổ.
- Đảm bảo sự sống, đa dạng sinh học.

1.1.4. Phát triển bền vững
Phát triển là một quy luật tất yếu của nhân loại. Do dân số gia tăng ngày một nhanh, nên để đáp
ứng được những nhu cầu của cuộc sống thì sự gia tăng các nhu cầu về sử dụng môi trường, hệ sinh thái
một tăng hơn. Để đáp ứng được thì việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ cho
các nhu cầu đó là không thể tránh khỏi. Chính vì lẽ đó dẫn đến việc tài nguyê
n thiên nhiên ngày càng
cạn kiệt, hệ sinh thái bị phá hủy, môi trường xuống cấp.
Khái niệm “Phát triển bền vững” được ra đời vào năm 1987 trong báo cáo “Tương lai của chúng
ta” do Ủy ban môi trường và phát triển của ngân hàng thế giới. Trong khái niệm có nêu: Phát triển bền
vững là làm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại và không làm tổn hại đến sự thỏa mãn nhu cầu trong tương
lai, đảm bảo sử dụng đúng mức và ổn định. Phát triển bền vững không chỉ là phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội mà còn đảm bảo những điều kiện môi trường cho c
on người đang tồn tại và cho thế hệ mai
sau.
Phát triển bền vững nhằm mục đích đảm bảo cho cuộc sống tốt hơn của con người trong hiện tại
và cho các thế hệ mai sau. Do đó, nó đồng thời phải đạt được 4 mục tiêu sau:
- Tiến bộ xã hội đáp
ứng nhu cầu của mọi người.
- Bảo vệ môi trường hiệu quả.
- Sử dụng các nguồn tài nguyên thận trọng, hợp lý.
- Duy trì tốc độ phát triển kinh tế cao và bền vững.
Phát triển bền vững không phải là sự hài hoà một cách cố định mà là một quá trình thay đổi,
trong đó con người đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Khái niệm bao gồm tất cả những vấn đề thách thức mọi quá trình phát triển nhằm g
iải quyết

thế, tính vào chi phí hoạt động kinh tế các dịch vụ được môi trường thiên nhiên cung cấp, những dịch
vụ này không phải là “
hàng hoá cho không”.
Các nguyên tắc như vậy cũng được áp dụng đối với các tài nguyên nhân văn. Cần trân trọng các
nền văn hoá địa phương, truyền thống dân tộc, kế sinh nhai và đất đai mà người ta dựa vào để sống.
Việc sử dụng bền vững, bảo tồn và bảo vệ các nguồn lực này đang ngày càng được nhìn nhận
như là vấn đề sống còn đối với việc quản lí hợp lí m
ang tính toàn cầu và nó cũng khiến cho kinh doanh
phát triển lâu dài.
1.2.2. Hạn chế sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải
Sự tiêu thụ quá mức các nguồn tài nguyên sẽ dẫn đến sự huỷ hoại môi trường trên toàn cầu của
chúng ta và đi ngược lại với sự phát triển bền vững lâu dài cuả du lịch. Kiểu tiêu thụ này là một đặc
trưng của các nước có nền c
ông nghiệp phát triển nhưng lại lan rộng rất nhanh trên toàn cầu như là
phong cách sống phương Tây. Các dự án du lịch được triển khai mà không có đánh giá tác động môi
trường hoặc không thực thi những kiến nghị về đánh giá tác động của môi trường đã dẫn đến sự tiêu
dùng tài nguyên môi trường và các tài nguyên khác một cách lãng phí và không cần thiết. Chính điều
này gây ra sự ô nhiễm và xáo trộn về văn hoá và xã hội.
Khai thác, sử dụng quá mức tài nguyên và không kiểm soát lượng chất thải từ du lịch góp phần
dẫn đến suy thoái môi trường mà hậu quả của nó là sự phát triển không bền vững của du lịch nói riên
g
và kinh tế xã hội nói chung.
Việc giảm tiêu thụ quá mức và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc
phục hồi tổn hại về môi trường và đóng góp cho chất lượng của du lịch.

1.2.3. Phát triển du lịch phải gắn với bảo tồn tính đa dạng
Tính đa dạng về thiên nhiên, văn hoá và xã hội là thế mạnh của mỗi quốc gia nhằm thoả mãn
nhu cầu đa dạng của du khách cũng như sản phẩm của du lịch. Đa dạng cũng là sự sống còn để tránh
việc quá phụ thuộc vào một hay một vài nguồn hỗ trợ sinh tồn.
Phát triển bền vững chủ trương ủng hộ việc để lại cho thế hệ ma

sự phát triển
không phải là phát triển du lịch nhưng vẫn củng cố và thúc đẩy công nghiệp du lịch.
Du lịch cần lưu tâm đến các chức năng kinh tế có tính chất quan trọng và hợp nhất các giá trị
môi trường trong các quyết định đầu tư.

Ngành du lịch hỗ trợ được các hoạt động kinh tế địa phương và có tính đến các giá trị và chi phí
về mặt môi trường thì mới bảo vệ được các nền kinh tế địa phương và tránh được sự tổn thất về môi
trường.
1.2.6. Khuyến khích tham gia của cộng đồng địa phương
Sự tham gia của địa phương là cần thiết cho ngành du lịch: Người dân địa phương, nền văn hoá,
môi trường, lối sống và truyền thống của họ là những nhân tố qua
n trọng thu hút khách du lịch đến một
điểm du lịch. Nó đáp ứng nhu cầu của người dân bản địa, bảo vệ môi trường thiên nhiên và văn hoá
của họ. Ngược lại, sự tham gia thực sự của cộng đồng có thể làm phong phú thêm loại hình và sản
phẩm du lịch.
Hơn thế nữa khi cộng đồng địa phương được tham gia chỉ đạo phát triển du lịch thì sẽ tạo r
a
được những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho du lịch bởi cộng đồng sở tại là chủ nhân và là người có
trách nhiệm chính với tài nguyên và môi trường khu vực. Điều này sẽ tạo ra khả năng phát triển lâu dài
của du lịch, sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch được thực hiện thông qua
việc khuyến khích họ sử dụng các phương tiện, các cơ sở vật chất của m
ình để phục vụ khách du lịch
như chuyên chở, thuyết minh hướng dẫn du khách, cho thuê nhà để ở, nấu ăn cho khách, sản xuất các
hàng thủ công mỹ nghệ làm đồ lưu niệm.
Khuyến khích cộng đồng địa phương cùng làm du lịch không chỉ qua những việc làm có thu
nhập thấp, theo mùa và những việc phục vụ như bồi bàn, dọn phòng m
à nên có cả những công việc ở
mức cao hơn và những công việc quản lí có thu nhập cao thường do người nước ngoài làm thì cũng có
thể được đảm đương bởi người địa phương mà kinh nghiệm và sự hiểu biết đặc biệt về địa phương
mình của họ sẽ có phần góp phần không nhỏ cho du lịch.

rộng và mối qua
n tâm lớn trong vùng và việc tham gia của họ sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ. Đào tạo
nhân viên người địa phương không chỉ nên hạn chế trong những công việc đơn giản, có vị trí thấp và
mức lương thấp.
Việc đào tạo nhân viên trong đó có lồng ghép vấn đề du lịch bền vững vào thực tiễn công việc,
cùng với việc tuyển dụng lao động địa phương vào mọi cấp sẽ làm tăng c
hất lượng du lịch.
1.2.9. Tăng cường quảng bá, tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm
Tiếp thị và quảng cáo là những vũ khí lợi hại cho việc bán thành công bất cứ sản phẩm nào.
Phát triển bền vững dựa trên sự tiếp thị đầy đủ và trung thực các thông tin về sản phẩm, bao gồm cả tác
động của chúng đối với nhân viên và môi trường. Điều đó nhằm
nâng cao chất lượng môi trường tự
nhiên, nhân tạo và mức sống có tính đến giá thành của những giá trị môi trường. Nó xét đến nhu cầu
của các thế hệ hiện tại và mai sau.
Chiến lược tiếp thị đối với du lịch bền vững bao gồm việc xác định, đánh giá và luôn rà soát lại
mặt cung của những tài nguyên thiên nhiên và nhân văn và những nguồn lực khác, cũng như khía cạnh
cung – cầu.
Do sự tăng trưởng của du lịch và sự hoán vị của các điểm
tham quan mà tiếp thị du lịch đặc biệt
có tính chất cạnh tranh. Nó mang tính chất độc nhất và người tiêu thụ mua sản phẩm một cách “mù” vì
người ta không thể khảo sát điểm tham quan trước khi mua, do đó, người tiêu thụ đến với sản phẩm và
tiêu thụ nó ngay tại nguồn, chứ không phải ngược lại.
Tiếp thị và quảng cáo du lịch một cách đầy đủ và có trách nhiệm
giúp nâng cao hiểu biết, sự
cảm kích, lòng tôn trọng văn hoá và môi trường địa phương, và cũng làm tăng sự thoả mãn toàn diện
của du khách.
1.2.10. Thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu

Để ngành du lịch phát triển và tồn tại một cách bền vững, điều cốt yếu là cần có dự đoán vấn đề
và nắm được trước chi phí giải quyết vấn đề. Tốc độ phát triển nhanh của du lịch tại những khu vực dễ

lực dành cho xây dựng và thực hiện các chính sách du lịch quốc gia. Thúc đẩy và tạo điều kiện thu hút
nhiều sự tham gia của khu vực tư nhân và sự hợp tác giữa khu vực nhà nước với các thành phần ki
nh tế
khác.
“Du lịch xanh” là một chủ đề chính của du lịch Trung Quốc, được ra đời từ năm 1999, từ đó,
Chính phủ đã không ngừng quan tâm bảo vệ môi trường. Họ đã tổ chức các hội thảo về phát triển du
lịch bền vững; về quản lý và phát triển du lịch sinh thái của từng địa phương; xây dựng và truyền bá
những thuận lợi của tiện nghi du lịch…Kết q
uả của những hội thảo ấy là hướng Trung Quốc đi vào

việc phát triển du lịch sinh thái và xem đây là một trong những cách tác động trực tiếp và tích cực đến
việc phát triển bền vững.
Vào thời điểm năm 2000, Trung Quốc đã bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ 10. Chính phủ
Trung Quốc đã tiếp tục xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững, sử dụng công nghệ tạo ra
những sản phẩm sạch và xanh, thu hồi chất phế thải, đồng thời Chính phủ đã xây dựng và quản lý sâu
rộng hệ thống xanh của đất nước. Họ cố gắng hướng du lịch trở thành một bộ phận không thể thiếu và
có mối quan hệ bền chặt với môi trường. N
hững định hướng và hoạch định kế hoạch thực hiện của
Trung Quốc nêu trên là những kinh nghiệm quý báu cho chúng ta tham khảo.
1.3.1.2. Ở Thái Lan
Đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Thái Lan là một nơi thu hút khách du lịch nhiều
nhất chỉ đứng sau Trung Q
uốc và Malaysia. Thành công mang lại ngoài những lợi thế về tài nguyên du
lịch và môi trường hiện có, còn phải kể đến các chính sách, chiến lược phát triển bền vững của quốc
gia mà Chính phủ Thái Lan đã áp dụng một cách linh hoạt và có hiệu quả.
Trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Thái Lan giai đoạn 1997-2003, quốc gia này đã tập
trung vào hai hướng ưu tiên chính là bảo vệ, bảo tồn c
ác nguồn tài nguyên và tài sản du lịch phục vụ
phát triển bền vững lâu dài và để thế giới công nhận là một điểm du lịch nổi tiếng nhưng vẫn giữ được
bản sắc riêng của nền văn hoá Thái Lan. Cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan (TAT) hỗ trợ các cộng

trúc truyền thống và áp dụng tiêu chuẩn “lá xanh” để đánh giá việc bảo vệ môi trường sinh thái đối với
các khách sạn.
Đối với hoạt động phát triển du lịch sinh t
hái văn hoá tại Thái Lan, Chính phủ và các cơ quan
hữu quan đã bắt đầu phát động một phong trào nhằm khôi phục lại giá trị nguyên bản của văn hoá và
đất nước Thái Lan. Trung tâm của phong trào là phát triển du lịch sinh thái, gắn du lịch với bảo vệ môi
trường, cảnh quan và các giá trị truyền thống của đất nước. Chính phủ Thái Lan kêu gọi các khu làng
mạc ở vùng nông thôn hãy giữ nguyên vẻ đẹp nguyên sơ của m
ình, bảo vệ cây cối và giảm tiếng ồn,
gìn giữ phong cách kiến trúc Thái Lan.
Trong mối quan hệ của cộng đồng với sự nghiệp phát triển du lịch sinh thái. Thái Lan đã thông
qua hiến pháp mới nhằm công nhận sự tham gia của người dân địa phương vào việc bảo tồn tài nguyên
thiên nhiên và trực tiếp khuyến khích người dân địa phương tìm các phương thức để quản lý các nguồn
lực của mình vì lợi ích phát triển của cộng đồng, điều này tạo cơ sở cho người dân địa phương tham
gia vào sự phát triển du lịch để phát triển cộng đồng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.
1.3.
1.3. Ở Philippines
Philippines là quốc gia có đặc điểm lãnh thổ phân bố thành quần đảo rộng lớn, đia hình phong
phú, đa dạng và bị chia cắt bởi nhiều núi non, là một quốc gia có lợi thế về cảnh quan biển đảo thơ
mộng nên Philippines
đã tận dụng được lợi thế này để phát triển các loại hình du lịch sinh thái biển.
Vẫn còn nhiều vấn đề bất cập trong chiến lưọc phát triển du lịch cho từng vùng cụ thể của quốc gia
này, nhưng những kinh nghiệm thành công của ngành du lịch Philippines cũng cần cho các nước có
điều kiện phát triển tương đồng tham khảo. Về thành công, đó là Chính phủ chủ trương đẩy mạnh
“phát triển du lịch bền vững trên qua
n điểm bảo vệ môi trường”. Ngoài ra Chính phủ Philippines còn
quan tâm đầu tư xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên quanh những vùng núi cao, thêm vào đó là
những nơi tập trung các loại thú hoang dã quý hiếm; các hải đảo đều được quy hoạch rõ ràng và được
bao phủ bởi những thảm xanh của các vườn cây ăn trái .
Bên cạnh đó để phục hồi các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc phục vụ cho hoạt động d

ác nguồn tài nguyên du
lịch đặc biệt trong các mùa cao điểm.
 Tổ chức các khoá đào tạo cho cán bộ quản lý, điều hành hoạt động du lịch, cung cấp các
tài liệu phục vụ công tác tự nghiên cứu…
 Thiết lập hệ thống sử dụng các nguồn tài nguyên và xử lý chất thải hiệu quả, và huấn
luyện đội ngũ làm công tác bảo dưỡng các thiết bị xử lý chất thải.
 Cần có sự tham gia của cộng đồng bản địa vào quá trình phát triển du lịch.
Ngoài ra, Chính phủ Úc còn qua
n tâm đặt ra các vấn đề cơ bản đối với phát triển du lịch bền
vững có liên quan đến việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, các nội dung
đề cập gồm :
 Quy hoạch tổng hợp vùng lãnh thổ
 Tổ chức quản lý tài nguyê
n thiên nhiên

 Hạ tầng cơ sở
 Giám sát tác động
 Tiếp thị du lịch
 Giáo dục nội dung hoạt động du lịch sinh thái
 Quan tâm đến sự công bằng
1.3.1.5. Ở Indonesia
Giống như Philippines, Indonesia là một quốc gia với quần đảo rộng lớn, rừng nhiệt đới có diện
tích lớn nhất so với các nước Đông Nam Á, Indonesia có nhiền thiên đường biển đảo đẹp, nỗi tiếng
trên thế giới. Chính phủ Indonesia đã sớm đề ra chiến lược du lịch định hướng thiên nhiên, bảo tồn và
duy trì đa dạng sinh học, phát huy bản sắc văn hoá độc đáo
của dân tộc hướng tới phát triển du lịch bền
vững.
Chính phủ Indonesia đã xây dựng thành công nhiều mô hình du lịch sinh thái, nỗi tiếng và thành
công hơn cả phải kể đến mô hình phát triển du lịch bền vững Bali
Năm 1990, dưới sự hỗ trợ của tổ chức UNDP, dự á

Dự án cũng đứng trước những thách thức :
 Phải hòa giải mâu thuẫn giữa ưu ti
ên quốc gia và ưu tiên địa phương.
 Phải giải quyết cácvấn đề mất cân đối trong vùng thông qua đa dạng các loại hình, quy
mô phát triển du lịch một cách thích hợp.
 Phải tăng cường liên kết tích cực giữa du lịch và các thành phần kinh tế khác, quản lý sự
cạnh tranh giữa các ngành trong việc sử dụng nguồn tài nguyên, đảm bảo thu lợi và phân
phối đồng đều trong cộng đồng.
 Phải đảm bảo chất lượng môi trường tự nhiên được duy trì, giải quyết các vấn đề xói m
òn
biển, cung cấp và chất lượng nguồn nước, cung cấp năng lượng và xử lý chất thải, sự thay
đổi của đất, sự phá huỷ rừng.
 Phải tính toán, theo dõi các quản lý các chuyển biến về văn hoá xã hội.
 Phải nâng cấp cơ sở hạ tầng.
 Phải cân bằng giữa nhu cầu của khách và dâ
n địa phương.
Các chính sách làm cơ sở cho phát triển du lịch:
 Loại hình thu hút : văn hoá, tự nhiên và giải trí.
 Sự phân bổ giữa đất liền và bờ biển.
 Các đặc điểm của vùng: có ba loại tiềm năng du lịch khác nhau là điểm, tuyến, phạm vi
rộng.
 Thực trạng phát triển: phát triển nhanh, phát triển và kém
phát triển.
Chính phủ Indonesia đã thực hiện quy hoạch phát triển bền vững toàn vùng Bali rồi mới quy
hoạch bền vững chi tiết ở địa phương và đảm bảo sự thống nhất từ vùng đến địa phương.

Với nỗ lực của Chính phủ và sự hưởng ứng hỗ trợ của cộng đồng sở tại, dự án du lịch bền vững
Bali được các chuyên gia du lịch quốc tế đánh giá là một trong những dự án du lịch bền vững tốt và
thành công nhất trong khu vực. Bali hiện trở thành một trung tâm du lịch nhộn nhịp hàng đầu ở Đông
Nam Á, hàng năm mang về cho Indonesia một lượng ngoại tệ đáng kể từ du lịch, đóng góp tích cực

nh
doanh đến hạng 5 sao, cụ thể: 25 khách sạn 5 sao với 7167 phòng, 69 khách sạn 4 sao với 8.800 phòng,
144 khách sạn 3 sao với 10.307 phòng, 590 khách sạn 2 sao với 24.041 phòng, 632 khách sạn 1 sao với
16.
976 phòng và 2.830 khách sạn đạt tiêu chuẩn tối thiểu với 42.697 phòng.
Toàn ngành du lịch hiện có 230.000 lao động trực tiếp trong đó lao động làm việc trong trong hệ
thống cơ sở lưu trú du lịch là 120.000 lao động. (Nguồn: Tổng cục thống kê, 2007).

Chương 2. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH SINH THÁI
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT (TỈNH LÂM ĐỒNG)
2.1. Khái quát về Thành phố Đà Lạt
Tọa độ: 11
0
52' - 12
0
04' vĩ độ Bắc
108
0
20' - 108
0
35' kinh độ Đông
Thà
nh phố Đà Lạt nằm trong cao nguyên Lang Biang, phía Bắc tỉnh Lâm Đồng. Về phía Bắc,
Đà Lạt giáp với huyện Lạc Dương, về phía Đông và Đông Nam giáp với huyện Đơn Dương, về phía
Tây và Tây Nam giáp với hai huyện Lâm Hà và Đức Trọng.
Hàng trăm năm trước đây, thành phố Đà Lạt là địa bà
n cư trú của người Lạch, hay toàn bộ cao
nguyên Lang Biang, diện tích hơn 400 km², bao bọc bởi các đỉnh núi cao và dãy núi liên tiếp:


phố Đà Lạt nằm trên cao nguyên Lâm Viên có độ cao 1.500 m, khí hậu mát mẻ quanh năm; cách các
đô thị lớn của vùng và khu vực không xa, giao thông thuận lợi. Thành phố Đà Lạt có nhiều cảnh quan

thiên nhiên kỳ thú nổi tiếng về hồ, về thác nước và rừng thông, bên cạnh đó là các công trình kiến trúc
mang giá trị văn hóa - nghệ thuật cao, có sức hấp dẫn đối với du khách. Thành phố Đà Lạt hiện có 1
sân gôn 18 lỗ đạt tiêu chuẩn quốc tế. Hệ thống nhà nghỉ, khách sạn có sức chứa trên 30.000
khách/ngày, trong đó có 20 khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế từ 1 đến 5 sao. Thành phố Đà Lạt được
coi là trung tâm du lịch của Việt Nam
và khu vực.
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch
2.2.1. Các nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
2.2.1.1. Địa hình
Cao trung bình so với mặt biển là 1.500 m. Nơi cao nhất trong trung tâm thành phố là Nhà Bảo
Tàng (1.532 m), nơi thấp nhất là thung lũng Nguyễn Tri Phương (1.398,2 m).
Bên trong cao nguyên, địa hình thà
nh phố Đà Lạt phân thành hai bậc rõ rệt:

Bậc địa hình thấp là vùng trung tâm có dạng như một lòng chảo bao gồm các dãy đồi đỉnh tròn,
dốc thoải có độ cao tương đối 25 - 100 m, lượn sóng nhấp nhô, độ phân cắt yếu, độ cao trung bình
khoảng 1.500 m.

Bao quanh khu vực lòng chảo này là các đỉnh núi với độ cao khoảng 1.700 m tạo thành vành đai
che chắn gió cho vùng trung tâm. Phía Đông Bắc có hai núi thấp: hòn Ông (Láp Bê Bắc 1.738 m) và
hòn Bộ (Láp Bê Nam 1.709 m). Ở phía Bắc, ngự trị cao nguyên Lang Biang là dãy núi Bà (Lang
Biang) hùng vĩ, cao 2.165 m, kéo dài theo trục Đông Bắc - Tây Nam từ suối Đa Sar (đổ vào Đa Nhim)
đến Đa Me (đổ vào Đạ Đờng). Phía Đông án ngữ bởi dãy núi đỉnh Gió Hú (1.644 m). Về phía Tây
Nam, các dãy núi hướng vào Tà Nung giữa dãy Yàng Sơreng mà các đỉnh cao tiêu biểu là Pin Hatt
(1.691 m) và You Lou Rouet (1.632 m).
Bên ngoài cao nguyên là các dốc
núi từ hơn 1.700 m đột ngột đổ xuống các cao nguyên bên

Độ ẩm của không khí thành phố Đà Lạt khá lớn: trong mùa mưa, độ ẩm tương đối các tháng đạt
trên 85%. Riêng các tháng 7, 8, 9 có độ ẩm
trung bình đạt từ 90% đến 92%. Mùa khô độ ẩm giảm
xuống dưới 80%.
So với các tỉnh Tây Nguyên, lượng m
ây ở đây có phần ít hơn rất nhiều, nhưng chính lượng mây
đã chi phối số giờ nắng của thành phố Đà Lạt. Theo thống kê, số giờ nắng toàn năm lên
đến 2.340 giờ.
Tháng 9 là tháng có giờ nắng ít nhất (100 – 130 giờ). Tháng 1, 2, 3 là tháng ít mây nên số giờ nắng đã
tăng lên 250 – 270 giờ. Các tháng còn lại số giờ nắng thông thường trên 200 giờ.
Ngoài ra, thành phố Đà Lạt còn có những hiện tượng thời tiết lạ so
với các nơi khác như: sương
mù, dông, mưa đá và sương muối. Mỗi năm ở thành phố Đà Lạt sương m
ù xuất hiện khoảng 80 ngày
tập trung vào các tháng 2, 3, 4, 5 với mật độ trung bình từ 8 đến 16 ngày/tháng. Các tháng còn lại cũng
có sương mù xuất hiện nhưng không đáng kể.
Cứ vào dịp gần tết N
guyên Đán (tháng1, 2) là ở thành phố Đà Lạt lại xuất hiện sương muối khá
nhiều ở các vùng lòng chảo, khuất gió do nhiệt độ hạ thấp về đêm. Dịp Noel và đầu tháng 3 tuy cũng
có sương muối nhưng mức độ nhẹ hơn. Chính sương muối là tác nhân gây ra việc hư hỏng đối với rau
và hoa. Do vậy vào những tháng này, bà con nhà vườn thường phải tưới nước từ mờ sáng để tránh thiệt
hại.
Nhìn chung, khí hậu thành phố Đà Lạt tuy m
ang những đặc điểm chung nhất của khí hậu cận
nhiệt đới gió mùa, song lại có đặc điểm riêng của vùng cao nguyên nên khá ôn hòa. Nói về mặt nhiệt
độ thì rõ ràng thấp hơn so với nhiều nơi trong cả nước. Với khí hậu này, cùng với nhiều yếu tố khác về
địa hình và môi trường, chứng tỏ thành phố Đà Lạt đã có đủ điều kiện để xâ
y dựng thành một thành
phố nghỉ dưỡng và sản xuất các loại rau hoa, cây đặc sản ôn đới mà không nơi nào ở Việt Nam có thể
sánh được.

oumer cho xây
dựng một thành phố nghỉ dưỡng tại khu vực này.
Đứng ở hồ Suối Vàng chúng ta có thể nhìn thấy thấp t
hoáng xa xa những rừng thông xanh mơn
mởn, nổi rõ trên những quả đồi tròn trịa như chiếc bát úp, chạy tít tắp đến tận chân trời. Trên cao là hai
ngọn núi Lang Biang duyên dáng và xinh xắn như bộ ngực căng đầy nhựa sống của một thiếu nữ đang
khoe những đường cong tuyệt mỹ với đất trời. Phía dưới quanh năm nước chảy uốn lượn qua những
qủa đồi im ắng.
Hồ Suối V
àng bao gồm 2 hồ: Đankia ở trên và Ankroet ở dưới. Hồ Đankia có diện tích lưu vực
khoảng 141 km . Hồ Suối Vàng có diện tích lưu vực 145 km . Bên cạnh chúng là dòng thác trắng xoá

đổ ồ ạt suốt ngày đêm. Thật ra, hồ Suối Vàng là hồ nhân tạo được hình thành bởi 2 con đập ngăn dòng
chảy của sông Đạ Đờng phát xuất từ núi Lang Biang. Thác Ankroet được toàn quyền Decoux chọn làm
nơi xây dựng nhà máy thủy điện đầu tiên của
2 2
thành phố Đà Lạt và cũng là của Việt Nam vào năm
1942.
Hiện na
y, hồ Suối Vàng có sức chứa khoảng 21 triệu m nước. Ngoài việc cung cấp nước uống
cho nhân dân
3
thành phố Đà Lạt, còn được dùng để chạy máy phát điện cho nhà máy thủy điện Ankroet
với công suất thiết kế 3.100kW/giờ. Bên cạnh đó, hồ Suối Vàng còn là nơi có nhà máy nước Suối
Vàng khá hiện đại do Đan Mạch giúp thành phố Đà Lạt xâ
y dựng. Qua kiểm nghiệm chất nước tại nhà
máy này, các cơ quan chức năng đều xác nhận nguồn nước ở đây đạt tiêu chuẩn vệ sinh cần thiết.
Riêng hồ Xu
ân Hương nằm ở trung tâm thành phố có diện tích vào khoảng 0,4 km . Chiều rộng
mặt hồ trung bình 200m và diện tích lưu vực là 21 km . Hồ Than Thở nằm ở phía Bắc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status