1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay sự gia tăng nhanh dân số già trên hành tinh chúng ta là một
quan tâm chung của toàn nhân loại. Sự đậm dần về màu sắc tuổi già trên bản
đồ tuổi dân số toàn thế giới là một mối quan tâm ngày càng lớn đối với tất cả
các nước vì nó đặt ra hàng loạt vấn đề cần giải quyết thuộc nhiều lĩnh vực như
xã hội, kinh tế, y tế…đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế phát triển.
Trong vài thập niên gần đây, cùng với sự tiến bộ vượt bậc về khoa học
trên nhiều lĩnh vực, người ta đã chứng kiến sự gia tăng nhanh dân số già do
tuổi thọ ngày càng cao. Tổ chức Y tế thế giới đã có nhiều cuộc hội nghị, hội
thảo đề ra các phương hướng trước mắt cũng như lâu dài. Sức khỏe Lão khoa
là một hướng quan trọng của lão khoa hiện đại mà nhiệm vụ cơ bản là nghiên
cứu mối quan hệ hữu cơ giữa những người có tuổi và tỷ lệ mắc bệnh. Theo
quy ước chung của Liên hợp quốc, NCT là người từ 60 tuổi trở lên.
THA là bệnh hay gặp của các nước phát triển và đang gia tăng ở nước
ta làm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng. THA là bệnh lý mang tính thời
sự, được Tổ chức Y tế thế giới quan tâm bởi vì bệnh gây nên nhiều biến chứng
nguy hiểm, hậu quả rất nặng nề và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong, tàn
phế. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới thì tỷ lệ tử vong do THA chiếm
20-50% tỷ lệ tử vong chung của các bệnh tim mạch mà tỷ lệ tử vong do tim
mạch lại đứng hàng đầu trên thế giới. Không những thế tỷ lệ mắc bệnh THA
đang có xu hướng ra tăng dần ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của công
nghiệp hóa, đô thị hóa. Theo điều tra của Viện tim mạch Việt Nam, trong thập
kỷ 90 tỷ lệ THA ở người trưởng thành 11,7%, đến năm 2002 tăng lên 23,2%
[6] và đến năm 2008 đã tăng lên đến 25,1%. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
THA như tuổi, hút thuốc lá, béo phì, việc tiêu thụ muối nhiều, yếu tố tâm lý xã
hội căng thẳng,…
2
rằng những người từ 60 tuổi trở lên được gọi là người cao tuổi (NCT), trong
đó những người 60-74 tuổi được gọi là người có tuổi; từ 75-89 tuổi gọi là
người già; từ 90 tuổi trở lên là người sống rất già (sống lâu, đại lão).
Cùng với sự gia tăng dân số thế giới số NCT cũng tăng lên. Hiện nay tỷ
lệ NCT so với tổng dân số cũng tăng lên. Theo thống kê của Tổ chức Liên
hợp quốc thì số NCT trên thế giới năm 1950 là 201 triệu, năm 1985 là 432
triệu, ước tính năm 2025 sẽ có 1201 triệu NCT. Tỷ lệ cao nhất là ở Nhật Bản:
20% (1998), ở các nước Châu Âu (Tây Âu) 17% (1998), ở các nước châu Á
6-10% (1998). Ở Việt Nam, từ 1979-1989 số NCT đã tăng gần 1 triệu, từ
3.728.110 người (7.06% dân số năm 1979) lên 4.632.490 người (7.19% dân
số năm 1989), năm 2009 xấp xỉ 10% dân số, đến năm 2012 trên 10% dân số.
1.1.2. Tình hình tăng huyết áp của NCT trên thế giới
Tăng huyết áp là vấn đề có tính chất toàn cầu. Ở Tây Âu và Bắc Mỹ
THA chiếm trên 20% dân số và tỷ lệ này thay đổi theo tuổi, giới, địa dư. Ở
Mỹ, trên 50% số người từ 65 tuổi trở lên có THA và đạt tới 90% ở người trên
80 tuổi. Ước tính có khoảng 50 triệu người Mỹ và 1 tỷ người trên thế giới có
tăng huyết áp.
4
Các nhà khoa học Anh đã tập hợp dữ liệu của nhóm nam giới và phụ nữ
tham gia nghiên cứu từ 1984-1953 có 3.761 người không bị đột quỵ ở tuổi 60.
Trong số này 3.049 người không bị đột quỵ ở tuổi 70 và 1.203 người không bị
đột quỵ ở tuổi 80. Các tác giả đã đánh giá nguy cơ đột quỵ trong vòng 10 năm
ở mỗi nhóm tuổi. Sau 60 tuổi có 491 người bị đột quỵ, thiếu máu cục bộ trong
số 3761 người tham gia nghiên cứu. Sau khi chỉnh huyết áp hiện tại, các nhà
nghiên cứu nhận thấy THA làm tăng nguy cơ đột quỵ trong 10 năm tiếp theo.
Mức tác động làm tăng nguy cơ giao động từ 68-92% ở tuổi 60, 14-72% ở
tuổi 70 và trên 32% ở tuổi 80 (ở cả nam và nữ). Đối với những người có huyết
thấy: Tỷ lệ THA tăng lên theo tuổi đời, ở nam cao hơn nữ (p
Với mắt: THA làm tổn thương đáy mắt, xuất huyết và ứ phù gai thị…
Với não: Theo thống kê của các tác giả trên thế giới đã cho thấy tần
suất TBMMN tăng rất rõ ở những bệnh nhân THA, tần suất đó ở nam là 17%o
ở nữ là 8%o (theo Kane và cộng sự năm 1995). Tại hội nghị quốc tế về tuần
hoàn não lần thứ tư ở Toulouse (Pháp) năm 1985 còn cho rằng bệnh THA làm
tăng nguy cơ TBMMN lên 7 lần so với người không có bệnh.
Huyết áp cao gây giảm khả năng tư duy ở mọi lứa tuổi: Huyết áp cao
không chỉ gây giảm khả năng hoạt động tư duy ở người già và dẫn đến những
thay đổi bất lợi ở não mà ngay cả ở bất kỳ độ tuổi nào huyết áp cao cũng gây
giảm sút khả năng ghi nhớ và phản ứng thông tin. Theo Elias, một chuyên gia
tâm lý học của Mỹ cho biết thì 20 năm những đối tượng bị huyết áp cao (chỉ
số huyết áp tối thiểu từ 60-99, tối đa từ 140-159mmHg) sẽ bị suy giảm 8,12%
khả năng ghi nhận và xử lý thông tin so với những người huyết áp bình
thường (có chỉ số huyết áp từ 80 - 120).[44]
8
1.2. Bệnh tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan
1.2.1. Định nghĩa tăng huyết áp
Huyết áp động mạch là áp lực của máu tác động lên thành động mạch,
được tính bằng mmHg hoặc kilopascal (Kpa). HA phụ thuộc vào cung lượng
tim và sức cản mạch ngoại vi. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới và
hội THA quốc tế (WHO-ISH) năm 1999, gọi là THA khi huyết áp tâm thu
≥140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90mmHg.
1.2.2. Phân loại mức tăng huyết áp: Có rất nhiều cách phân loại
* Phân loại THA theo JNC VI (1997) (Ủy ban phòng chống huyết áp
Hoa Kỳ):
HA tâm thu
(mmHg)
90-99
THA giai đoạn II
160-179
Và/hoặc
100-109
THA giai đoạn III
≥ 180
Và/hoặc
≥ 110
Phân loại
HA Tối ưu
* Phân loại giai đoạn THA theo mức độ tổn thương các cơ quan theo
WHO/ISH 1993:
Giai đoạn 1: Chưa có tổn thương thực thể cơ quan đích
Giai đoạn 2: Có tổn thương ít nhất một cơ quan đích
- Phì đại thất trái (phát hiện trên Xquang, điện tim, siêu âm).
- Hẹp toàn thể hay khu trú động mạch võng mạc
- Protein niệu và hoặc tăng nhẹ creatinin huyết tương (1,2-2,0 mg/dl)
Và/hoặc
80-89
THA độ I
140-159
Và/hoặc
90-99
THA độ II
≥ 160
Và/hoặc
≥ 100
1.2.3. Nguyên nhân tăng huyết áp
Đại đa số THA ở người lớn là không có căn nguyên (hay THA nguyên
phát), chiếm khoảng 90%. Có một số yếu tố được coi là yếu tố nguy cơ của
THA như: hút thuốc lá, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, tuổi trên 60, nữ đã
mãn kinh, tiền sử gia đình có người thân bị động mạch vành.
Một số nguyên nhân THA thứ phát:
- Các bệnh về thận: Viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn, viêm thận
kẽ, hẹp động mạch thận…
- Các bệnh nội tiết: U tủy thượng thận, hội chứng Cushing, cường
aldosteron…
Khi nghỉ ngơi, huyết áp trở lại bình thường. Khi lao động trí óc căng
thẳng kéo dài liên tục, huyết áp có thể tăng lên cao nếu người đó có sẵn THA
thì nguy cơ dẫn đến tai biến mạch máu não càng tăng lên.
1.2.5. Một số yếu tố nguy cơ liên quan tới THA
* Tuổi và giới tính
Tất cả chúng ta đều biết rằng người lớn tuổi có nguy cơ mắc bệnh và tử
vong do những bệnh có liên quan dến THA cao hơn những người trẻ tuổi.
Mặc dù THA tâm trương giảm nhẹ dần khi vượt qua độ tuổi 65-70, huyết áp
tâm thu lại tiếp tục tăng so với tuổi đời.Theo nghiên cứu của Phạm Gia Khải
và cộng sự năm 2002 cho thấy tuổi càng cao thì THA càng tăng và bất kỳ lứa
tuổi nào.[6]
Còn về giới tính thì lứa tuổi thanh niên trở lên nhất là trung niên nam
giới có huyết áp trung bình cao dần. Và tỷ lệ chết sớm cũng cao hơn nhưng về
cuối đời thì ngược lại, HA nữ tăng nhanh hơn, có lẽ do hậu mãn kinh.
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu thấy rằng THA ở nam
nhiều hơn nữ. Theo Hayes và cộng sự ở bệnh viện Mayoclinic-Minnesota Hoa
kỳ năm 1998 thì sự khác nhau này có liên quan về gen về sinh lý học giới
tính.[36]
* Chỉ số khối cơ thể BMI (Body Mas Index) [6]
Chỉ số BMI [cân nặng/(chiều cao)2] có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ khối
mỡ trong cơ thể. Đã có rất nhiều bằng chứng nêu lên mối liên quan giữa thừa
cân với bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng. Chỉ số BMI bình
thường: 18,5 – 24,99. Từ 25 trở lên là thừa cân, khi BMI ≥ 30 thì được gọi là
béo phì, người béo phì có nguy cơ bị THA 5,6 lần hơn người không bị béo
phì. Đã có nhiều khảo sát xác định sự liên quan giữa bệnh THA và béo phì
12
CL= 95% (1,00 – 1,71), điều này có ý nghĩa BMI càng lớn, VB/VM càng cao
thì nguy cơ THA càng tăng lên.
* Tiền sử gia đình mắc bệnh THA
Tiền sử gia đình, nhất là trực hệ (bố, mẹ, anh, chị, em ruột) có người bị
tăng huyết áp.
* Hút thuốc lá
Trong thuốc lá có Nicotin. Trên súc vật thí nghiệm thấy thuốc lá gây
THA. Nicotin kích thích thần kinh giao cảm làm co mạch ngoại vi gây THA.
Hút một điếu thuốc lá huyết áp tâm thu có thể tăng lên tới 11mmHg, huyết áp
tâm trương tăng lên tới 9mmHg, kéo dài 20-30 phút, hút nhiều có thể có
những cơn THA kịch phát nguy hiểm.
Nicotin còn làm cho tim đập nhanh hơn bình thường, cơ tim phải co
bóp nhiều hơn. Oxycarbon có trong khói thuốc lá làm giảm cung cấp oxy cho
các tế bào cùng với áp lực đã tăng sẵn của dòng máu khi bị THA càng gây tổn
thương thêm cho các tế bào nội mạc của các động mạch và tạo điều kiện cho
bệnh xơ vữa động mạch phát triển.
Theo báo cáo điều tra dịch tễ học THA ở Việt Nam 1982 - 1992 có một
ghi nhận là nhóm người THA tỷ lệ hút nhiều (> 8 điếu/24h) cao hơn bình
thường (p < 0,05), nhưng hút dưới ngưỡng thuốc lá đó thì không khác nhau.
Theo nghiên cứu của Goldman và Minger, biến chứng tim mạch là
nguyên nhân tử vong chính của bệnh nhân THA và thường gặp hơn ở những
người hút thuốc lá. Nicotin là tăng biến chứng tim mạch, nhồi máu cơ tim
cũng hay gặp ở người hút thuốc lá và họ dễ có những cơn ác tính nhiều hơn
người không hút thuốc lá.
14
1.2.6. Chế độ dinh dưỡng và bệnh tăng huyết áp
Chế độ ăn có thể có tác động đến huyết áp động mạch qua nhiều khâu,
* Kali (K)
Kali là một hóa chất có trong các tế bào cơ thể, ngược lại kali là hóa
chất chủ yếu trong chất lỏng giữa và xung quanh các tế bào. Kali có trong
nhiều loại thực phẩm đến nỗi hầu hết chế độ ăn nào cũng có nó. Hơn nữa, nó
được cơ thể kiểm soát, bài tiết ra. Tuy nhiên ở một số tình trạng bệnh tật nào
đó quá trình nhiều kali có thể gây ảnh hưởng cho sức khỏe. Theo quy định
của hiệp hội khoa học Dinh dưỡng quốc gia thiết lập các khẩu phần ăn hàng
ngày để có được các chất dinh dưỡng chủ yếu và đề nghị là người lớn cần tiêu
thụ khoảng 1.875 đến 5.625 ka/ngày.
Trong nhóm nghiên cứu cộng đồng dân cư sử dụng lượng kali cao
trong khẩu phần ăn, nhận thấy số người THA thường có tỷ lệ thấp hơn nhóm
cộng đồng có lượng kali thấp trong khẩu phần. Ngoài ra trong thử nghiệm
trên nhóm chuột Dahl-S và Dahl-R khẩu phần ăn có lượng NaCl cao và Kali
thấp, đã gây ra THA, đặc biệt gần đây nhiều kết quả trên lâm sàng đã nhận
thấy cho uống bổ sung kali đã có tác động làm giảm cả áp lực tâm thu và tâm
trương máu.
* Canxi
Trong cơ thể canxi chiếm vị trí đặc biệt, chiếm tỷ lệ 1/3 khối lượng chất
khoáng trong cơ thể và 98% nằm ở xương và răng.
Trong các thông báo gần đây đã có trên 80 thử nghiệm theo dõi khẩu
phần ăn có lượng canxi cao đã không làm THA và ngược lại, nếu lượng canxi
thấp sẽ làm THA. Đặc biệt khi lượng canxi thấp đã làm tác động của khẩu
phần có lượng NaCl cao tới áp suất của máu, với người sử dụng khẩu phần có
lượng canxi dưới 600mg/ngày đã làm tăng nguy cơ mắc bệnh THA.
16
* Protein
Nhu cầu protein của một cá thể là lượng protein tối thiểu trong thức ăn
hàng ngày từ 15-20% năng lượng khẩu phần có thể đáp ứng được nhu cầu.
Theo nghiên cứu của Morris và cộng sự năm 1993 đã theo dõi nhiều
thực nghiệm trên bệnh nhân khi điều trị dầu cá với hàm lượng 4,8g/ngày
(10 viên nang) nhận thấy chỉ giảm huyết áp máu khoảng 3.0/1.5mHg.
Tóm lại trong cơ cấu bữa ăn, năng lượng do protein nên vào khoảng
12 ± 1%, do chất béo nên 15 ± 25%, phần còn lại do glucid cung cấp.
* Cholesterol
Mức tổng cholesterol tốt nhất là dưới 150 mg/dl (LDL-cholesterol dưới
10mg/dl) được xem là tốt nhất, nhưng theo chương trình NCEP Hoa Kỳ đã
xác định tổng cholesterol từ 150-159 mg/dl (LDL-cholesterol từ 100129mg/dl) tuy nhiên mức mong muốn trên cũng có thể gây tác động kích
thích tạo xơ vữa mạch khi so sánh với mức tốt nhất.
Mối liên quan giữa bệnh mạch vành với lượng cholesterol toàn phần
trong máu đã được thừa nhận. Đó là một chỉ điểm tốt về nguy cơ của bệnh
mạch vành. Choleserol là một chất sinh học có nhiều chức phận quan trọng,
một phần được tổng hợp trong cơ thể, một phần do thức ăn cung cấp.
Lượng cholesterol trong khẩu phần có ảnh hưởng đến cholesterol toàn
phần trong huyết thanh tuy ảnh hưởng này ít hơn ảnh hưởng của các acid béo
no. Do cholesterol trong chế độ ăn góp phần tạo nên nguy cơ bệnh mạch vành
nên hầu hết các ủy ban chuyên viên quốc tế đều khuyên lượng cholesterol
trong chế độ ăn trung bình nên dưới 300mg/ngày/người. Cholesterol chỉ có
trong các thức ăn nguồn gốc động vật, nhất là não (2500mg%), bầu dục bò
(400mg%), bầu dục lợn (375mg%), tim (140mg%), lòng đỏ trứng (200mg%),
18
trứng gà toàn phần (600mg%), gan lợn (300mg%), gan gà (440mg%), do đó
hạn chế các thức ăn này góp phần giảm lượng cholesterol trong khẩu phần.
Lòng đỏ trứng có nhiều cholesterol nhưng đồng thời có nhiều lexitin là một
chất điều hòa chuyển hóa cholesterol trong cơ thể. Do đó ở những người có
rượu trong một tuần là thích hợp cho nghiên cứu lâm sàng vì rất nhiều bệnh
nhân chỉ uống rượu vào những ngày nghỉ cuối tuần hoặc không hẳn ngày nào
cũng uống.
Trong nghiên cứu này, các mức độ huyết áp của những người uống 60
ounces (1.800g) rượu mạnh mỗi tháng thì cao gấp đôi với người uống ít hơn
30ounces (900g) rượu mạnh mỗi tháng.
Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Trần Đỗ Trinh và cộng sự (19891992) thấy ở những người có THA tỷ lệ uống rượu cao hơn ở những người
bình thường (p
bàn chân.
- Mùa hè, thời tiết nóng, sự bài tiết mồ hôi gia tăng, cơ thể mất một
lượng nước khá lớn khiến nồng độ máu giảm, độ kết dính trong máu tăng cao,
làm tăng nguy cơ cho tim và não vì vậy dù không cảm thấy khát, cũng phải
thường xuyên uống nước. Cảm giác khát là một phản ứng khá mạnh của hệ
thần kinh đối với tình trạng thiếu nước của cơ thể. Khi chúng ta thấy khát thì
cơ thể đã bị mất nước khá nghiêm trọng. Vì vậy, mùa hè bệnh nhân THA nên
uống nhiều nước và uống đều đặn. Tốt nhất nên tạo một thói quen uống một
ly nước sau khi thức dậy vào buổi sáng và một ly nước trước khi đi ngủ ban
đêm. Nên dùng nước trắng đun sôi, thanh trùng, các nước giải khát có đường,
có ga có thể thay thế bằng các trà thảo dược, thanh nhiệt như trà hoa cúc, trà
kỷ tử, trà xanh…
22
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu tại quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; dân số toàn quận:
47.248 người, trong đó có 6.366 NCT; toàn quận có 7 phường, trong nghiên
cứu này, chúng tôi chia quận thành 3 vùng: Vùng xa trung tâm, vùng ven
trung tâm, vùng trung tâm.
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Người cao tuổi (≥ 60 tuổi) hiện có thời gian sống từ 5 năm trở lên tại
địa bàn nghiên cứu.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.
* Tiêu chuẩn lựa loại trừ:
Nghiên cứu được tiến hành tại 3 phường và được áp dụng chọn mẫu
nhiều giai đoạn.
+ Từ quận Đồ Sơn, Hải Phòng, tiến hành chọn mẫu có chủ đích lấy 3
vùng địa lý đó là vùng trung tâm, vùng ven trung tâm và vùng xa trung tâm.
- Vùng xa trung tâm: Các phường Bàng La, Hợp Đức và Minh Đức.
- Vùng ven trung tâm: Phường Vạn Hương.
- Vùng trung tâm: Các phường Vạn Sơn, Ngọc Hải và Ngọc xuyên.
+ Đối với vùng ven trung tâm chọn chủ đích Phường Vạn Hương (do là
phường duy nhất); các vùng còn lại tiến hành chọn ngẫu nhiên đơn (bốc thăm
ngẫu nhiên), được kết quả như sau:
- Vùng xa trung tâm: Phường Hợp Đức.
- Vùng trung tâm: Phường Ngọc Xuyên.
24
+ Tại các phường đã được chọn, sẽ nghiên cứu NCT từ 60 tuổi trở lên.
. Lập danh sách số NCT các phường nghiên cứu: Phường Hợp Đức có
8034 người, có 986 NCT; Phường Vạn Hương có 4327 người, có 680 NCT;
Phường Ngọc Xuyên có 6024 người, có 939 NCT.
. Chọn đối tượng bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn hệ thống cho đến
khi đạt đủ cỡ mẫu cho nghiên cứu.
Sơ đồ chọn mẫu
Thành phố Hải Phòng
Quận Đồ Sơn
Vùng xa trung tâm
Vùng ven trung tâm
25
- Tỷ lệ NCT mắc bệnh THA theo giới tính.
- Tỷ lệ NCT mắc bệnh THA theo nhóm tuổi.
- Tỷ lệ NCT hiện mắc bệnh THA theo tiền sử nghề nghiệp.
- Tỷ lệ NCT hiện mắc bệnh THA theo chỉ số BMI.
- Các biến chứng THA của nhóm nghiên cứu.
- Tỷ lệ NCT hiện mắc một số bệnh tại địa bàn nghiên cứu.
* Kiến thức của NCT về bệnh THA ở quận Đồ Sơn, Hải Phòng:
- Tỷ lệ NCT hiểu rõ về bệnh THA của họ.
- Tỷ lệ NCT biết được biến chứng của bệnh THA.
- Tỷ lệ NCT biết được dấu hiệu cơn THA.
- Tỷ lệ NCT biết cách xử trí khi có dấu hiệu cơn THA.
- Tỷ lệ NCT THA biết cách dự phòng tai biến của THA.
* Thực hành của NCT về bệnh THA ở quận Đồ Sơn, Hải Phòng:
- Tỷ lệ NCT THA tham gia luyện tập thường xuyên.
- Tỷ lệ NCT THA thường xuyên tiêu thụ thực phẩm giàu Glucid tinh
chế.
- Tỷ lệ NCT THA thường xuyên tiêu thụ thực phẩm giàu cholesterol.
- Tỷ lệ NCT THA thường xuyên uống rượu, hút thuốc.
- Tỷ lệ NCT THA thích tiêu thụ món ăn có nguy cơ cao cho sức khỏe.
- Tỷ lệ NCT THA ít tiêu thụ một số món ăn có lợi sức khỏe.
- Tỷ lệ NCT THA đã giảm tiêu thụ món ăn có nguy cơ cao cho sức
khỏe.
- Tỷ lệ NCT THA có đi khám bệnh để được chăm sóc y tế.
- Tỷ lệ NCT THA được đo huyết áp.
- Tỷ lệ NCT THA gặp khó khăn khi dự phòng tai biến của THA.
2.2.5. Phương pháp thu thập thông tin
Tổ chức phòng khám cho NCT tại trạm Y tế phường đã được chọn, mỗi