Tiểu luận Triết học :Ảnh hưởng của tư tưởng chính trị nho giáo trong đới sống xã hội việt nam với việc hình thành tư tưởng XHCN và hướng khắc phục - Pdf 34

MỤC LỤC
Trang

A. PHẦN MỞ ĐẦU:……………………………………………………
..................................................................................................................…………...1
1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………...……….
….1
2. Tình hình nghiên cứu:…………………………………………………
.........................................................................................................…………..2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:……………………………………
.........................................................................................................…………..2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:……………………………………
........................................................................................................…………...2
5. Phương pháp nghiên cứu:…………………………………………………
..............................................................................................................…….....3
6. Kết cấu của đề tài..........................................................................................3
B. NỘI DUNG:……………………………………………………………
...........................................................................................................………....4
Chương I: Vài nét về tư tưởng chính trị của Nho giáo…………………….
..............................................................................................................…..…...4
1.1 Đường lối trị nước (Đức trị):………………………………………………
...........................................................................................................……..4
1.1.1.Nhân Trị:…………………………………………………...……………
.................................................................................................................…..…5
1.1.2. Lễ Trị:……………………………………………………………………
......................................................................................................................….6
1.1.3. Chính Danh:……………………………………………………………
....................................................................................................................…...7
Chương II: Ảnh hưởng của tư tưởng Chính trị Nho giáo đối với đời sống
Xã hội Việt Nam:……………………………………………………………..
….................................................................................................................…..8

C. KẾT LUẬN:………………………………………………………………
................................................................................................................….…25

2


A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn minh Trung hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm
nhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục với nhiều phát minh vĩ
đại trong lịch sử trên nhiều lĩnh vực khoa học. Có thể nói văn minh Trung
Hoa là một trong những cái nôi văn minh của nhân loại. Bên cạnh nhiều phát
minh, phát kiến về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ra
nhiều học thuyết, tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến văn minh thế giới.
Trong số các học thuyết, tư tưởng lớn đó phải kể đến tư tưởng Nho giáo.
Nho giáo là tư tưởng quan trọng nhất của Trung Quốc trong hơn 2000 năm
lịch sử và Người đặt cở sở đầu tiên cho tư tưởng này là khổng Tử.
Nho giáo là một di sản văn hóa, với tư cách là học thuyết chính trị - Đạo
đức xuất hiện ở Trung Quốc và đã du nhập vào Việt Nam từ thời Tây Hán do
người phương Bắc truyền vào, tư tưởng này đã có mặt ở Viêt Nam hàng
nghìn năm.
Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX Nho giáo đã ảnh hưởng sâu đậm trong xã
hội Việt Nam góp phần tạo dựng diện mạo của dân tộc Việt Nam.
Ngay từ đầu các triều đại phong kiến đã giành cho Nho giáo địa vị ngày một
quan trọng trong hệ tư tưởng chính thống của quá trình hình thành và phát
triển của xã hội phong kiến Việt Nam.Các triều đại phong kiến Việt Nam đã
tiếp nhận và chủ yếu sử dụng nho giáo làm hệ tư tưởng và công cụ trị nước,
đào tạo những con người phù hợp với yêu cầu và mục đích của giai cấp phong
kiến thống trị.
Những năm gần đây, trước những biết động hệt sức phức tạp của đời

Để đạt được mục tiêu, tiểu luận tập trung làm rõ những nội dung chủ
yếu sau:
- Trình bày ảnh hưởng của nho giáo ở Việt Nam
- Những giải pháp khắc phục tư tưởng đó.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là nội dung cơ bản trong tư tưởng Nho giáo và
sự biểu hiện nó trong xã hội Việt Nam

4


Phạm vi nghiên cứu: Quan niệm của nhà Nho, nhà tư tưởng Việt Nam
về Nho giáo cũng như thái độ và sự tiếp nhận Nho giáo trong việc cai trị, xây
dựng, phát triển đất nước và khai thác giá trị truyền thống Nho giáo phục vụ
sự phát triển của đất nước trong điều kiện toàn cầu hóa.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong tiểu luận này là phương
pháp luận chung của triết học Mác – Lênin về con đường và xã hội, hệ tư
tưởng. Trong đó kết hợp một số phương pháp như: Lịch sử và lô gích, phân
tích tổng hợp, so sánh, khái quán hóa, phương pháp đối chiếu, trừu tượng hóa.

6. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội
dung của tiểu luận gồm có 3 chương
Chương I: Vài nét về tư tưởng chính trị của Nho giáo.
Chương II: Ảnh hưởng tư tưởng chính trị của Nho giáo đến Việt Nam
Chương III: Hướng khắc phục

5



1.1. ĐƯỜNG LỐI TRỊ NƯỚC (Đức trị ).
Tư tưởng Đức trị là những quan niệm về đường lối trị nước, quản lý xã
hội, dựa trên cơ sở những chuần mực đạo đức.
Nho giáo đã vạch rõ con đường cai trị: Cai trị con người, xã hội không
phải chủ yếu dựa vào vũ lực, thần quyền, của cải mà cai trị bằng giáo dục,
giáo dưỡng bằng thu phục nhân tâm. Theo Khổng Tử thì đạo đức là là biện
pháp hiệu quả nhất trong việc phục vụ nhân tâm, nhân lực, trong việc “bình
thiên hạ”. Ông từng nói: “Làm chính trị bằng đức, thì tự mình sẽ giống
như sao Bắc Đẩu, ở nguyên một chỗ, mà mọi vì sao khác chầu quanh
mình”[2, tr.244]. Hạt nhân, trung tâm của Nho giáo là Nhân - Lễ - Chính
danh. Trong đó Nhân và Lễ là hai phạm trù trung tâm và cơ bản nhất của Nho
giáo và là biện pháp thi hành đường lối đức trị.
1.1.1. Nhân trị.
Nhân : là Người, là lòng người, là thương người. Đạo nhân là cái mà
trời phú cho con người, ở cái tâm của con người. “ Nhân là mình muốn lập
thân thì cũng mong muốn giúp người lập thân, mình muốn thành đạt thì
cũng muốn giúp người thành đạt” và “điều gì mình không muốn thì chớ
đem đối xử với người”. Nhân là đức tính hoàn thiện, là cái gốc đạo đức của
con người nên nhân chính là đạo làm người.
Theo Khổng Tử, Người muốn đạt nhân phải là người có “trí”, “dũng”.
Trí không tự nhiên mà có, nó chỉ có được trong quá trình con người học tập
và tu dưỡng. Mục đích của việc học không phải là để biết “đạo” mà để ra làm
quan, tham gia chính trị, bảo vệ cho giai cấp thống trị.
Và muốn đạt được “nhân” thì phải có “dũng”. Dũng là người xả thân vì
nghĩa, khi thiếu thốn không nao núng không mất ý trí, khi đầy đủ sung túc thì
không xa rời đạo lý.
Khổng Tử quan niệm rằng: chỉ có người quân tử mới có “nhân”. Trong
kinh điểm nho giáo, những gì tốt đẹp, tiêu biểu của con người đều quy vào

tử tới Trung Dung, Đại Học; 15 tuổi trở lên, trước học Thi thư sau học Dịch
lễ, Xuân Thu, học kèm Chư Tử và sử” [8. tr, 574 - 575].

8


Có thể nói, lễ là cái lưới bủa ra rất rộng và xiết lại hết sức chặt chẽ. Trải
qua hàng nghìn năm lịch sử, các xã hội theo nho giáo được ổn định trong gia
đình và ngoài trật tự xã hội.
Tuy nhiên Lễ trị của Nho giáo cũng đã kìm hãm cuộc sống của con
người một cách dai dẳng, đặc biệt là đối với phụ nữ và đông đảo nhân dân lao
động dưới thời phong kiến.
1.1.3. Chính danh.
Sự phát triển của những mâu thuẫn giai cấp: giữa nông dân với lãnh
chúa phong kiến; địa vị của bọn chúa phong kiến bị lung lay, quan hệ dối
loạn. trước tình hình đó, các nhà nho chủ trương lấy thuyết “chính danh” làm
vũ khí để củng cố trật tự, ổn định xã hội, bảo vệ địa vị thống trị. Khổng Tử
cho rằng muốn cứu vãn được nguy cơ chính trị thời đó, trước hết phải khôi
phục uy quyền của lãnh chúa tối cao, ngăn chặn những việc vượt quyền, mỗi
người phải giữ danh phận của mình mới có thể gây lại nền chính trị, phải
“chính danh” để xác định lại danh phận, đẳng cấp… đó là vấn đề căn bản
chính trị thời bấy giờ.
Ai ở vị trí nào thì làm tròn bổn phận ở vị trí ấy “Quân quân, thần
thần, phụ phụ, tử tử” (Vua phải giữ đúng đạo vua, Tôi phải giữ đúng đạo
tôi, Cha phải giữ đúng đạo Cha, Con phải giữ đúng đạo con).
Tóm Lại:
Nhân - lễ - chính danh không chỉ là đường lối trị nước của nho giáo.
Nhân là gốc. lễ là ngọn, nhân để khôi phục lễ, để trở về với chính danh, xã hội
trở về đạo, trở về một xã hội phong kiến có kỷ cương, thái bình thịnh trị.
Suốt hơn 2000 năm thống trị, tư tưởng nho giáo đã góp phần quan trọng

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. “Đại đức thính cho người ta sống, thần vũ
không hay giết người, đem quân nhân nghĩa đi đánh dẹp cốt để yên dân”. “ Quân
của vương giả chỉ có dẹp yên mà không đánh chém” [1. tr, 115]. hay:
“…Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo…”
10


Đến khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ chí Minh
đã căn dặn cán bộ: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân,
bao nhiêu quyền hạn đều của dân, chính quyền từ Xã đến Trung ương đều do
dân cử ra…, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [6. tr.698].
Trong suốt 64 năm qua nhà nước ta cho thấy, nhà nước đã phát triển từ
hình thức thấp đến cao, từ nhà nước dân chủ tiến dần lên chủ nghĩa nhà nước
kiểu mới XHCN, nhà nước của dân, do dân, vì dân .
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã khẳng định: “ trong toàn bộ hoạt
động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc”, “ mọi chủ
trương, chính sách của đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả
năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình hưởng ứng của
quần chúng” [7. tr.29].
Tuy nhiên bên cạch những thành tựu đã đạt được của Đảng và nhà
nước ta trong việc áp dụng tư tưởng Chính trị của Nho giáo về việc xây dựng
và bảo vệ đất nước xã hội chủ Nghĩa (XHCN) thì nó cũng có nhiều tiêu cực
và hạn chế.
2.1.2. Ảnh hưởng tiêu cực:
Trong quá trình xây dựng nhà nước XHCN Việt Nam: Nhà Nước
pháp quyền là thành tựu chung của nhân loại, đó là phương tiện để giúp cho
con người vươn tới nhứng giá trị mới cao hơn, tốt đẹp hơn. Đối với nước ta,
xây dựng nhà nước pháp quyền thực chất là hình thức hoàn thiện nhà nước.
Quan điểm đổi mới của nhà nước khẳng định tại hội nghị đại biểu toàn quốc

rời thực tế. Để việc quản lý thông suốt, có hiệu quả đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng
viên của bộ máy quản lý phải có những quyền hạn nhất định. Những quyền
hạn này không nằm ngoài mục đích ổn định và phát triển xã hội, vì lợi ích của
nhân dân.
Sau khi cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thành công. (miền Bắc
từ 1954, từ 1975 trong cả nước), dưới sự lãnh đạo của đảng, nhân dân ta đã
từng bước tiền hành xây dựng một nền văn hóa dân chủ kiểu mới, nền dân
chủ XHCN. Tuy nhiên để xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN ở nước
ta còn là quá trình khó khăn, phức tạp và lâu dài. Quá trình đó đòi hỏi phải
12


tiếp tục khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo trong lối sống,
cách nghĩ, tâm lý, thói quen của một bộ phận không nhỏ trong các cán bộ,
đảng viên và người dân. Những người cán bộ lãnh đạo, quản lý có tư tưởng
địa vị, là người thường tự cho mình đứng trên tập thể, đối lập với tập thể. Vì
vậy thay vì tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối cách mạng của
đảng, họ lại sử dụng theo ý đồ của họ, để củng cố địa vị của họ. Nhân dân
không được thực hiện quyền bãi nhiệm của mình khi cán bộ nào đó mắc
khuyết điểm. Đây chính là tiền đề của nạn tham nhũng.
Như vậy:
Vấn đề về địa vị, đẳng cấp, tính gia trưởng chưa mất đi, trái lại nó còn
phát triển một cách dai dẳng trong xã hội Việt Nam. Đây là điều đáng lo ngại
bởi nó không chỉ gây tác động xấu đến nhận thức và hành động của cán bộ và
nhân dân mà còn cản trở quá trình thực hiện dân chủ hóa.
2.2. ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC
2.2.1. Những ảnh hưởng tích cực.
Trong thì kỳ mà đất nước ta đang đi sâu vào quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Chúng ta rất tự hào về những chuyển biến đáng kể trên
tất cả các lĩnh vực.

ta tang bốc mình”.
Với Người khái niệm “Trung”: là trung với nước, hiếu với dân, người
“đảng viên phải là công bộc của nhân dân”. Đòi hỏi người cách mạng phải
“ Cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô tư ”. Muốn nhà nước không quan liêu,
tham ô, lãng phí thì cần phải có 4 đức tính: “ Cân - Kiệm - Liêm - Chính”. Đó
là những phẩm giá tốt đẹp nhất của người can bộ, đang viên, Người nói:
“ Trời có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa không thành trời
Thiếu một phương không thành đất
Thiếu một đức không thành người".
Người đề cao vai trò của nhân dân: “ Nước lấy dân làm gốc… gốc có
vững thì cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.
Như vậy Đạo đức ta tiếp thu Nho giáo tư tưởng “Tu Nhân” là để dạy bảo
con người phải làm ăn lương thiện, để không biến thoái bởi sức mạnh của
14


đồng tiền, không bị mặt trái của cơ chế thị trường làm ăn mất đi lương tâm,
nhân phẩm để góp phần xây dựng nhà nước vững mạnh, phồn vinh.
Tuy nhiên Tư tưởng Đạo đức này cũng có những ảnh hưởng tiêu cực.
2.2.2. Ảnh hưởng tiêu cực:
Đạo đức xưa đã nêu ra cần, kiệm, liêm, chính thực chất nhằm phục vụ
cho lợi ích của giai cấp thống trị. Ngày nay chúng ta đề ra cần, kiệm, liêm,
chính để làm lợi cho nước cho dân. Nhưng nếu cán bộ thực hiện không
nghiêm túc, để đầu óc chi phối thì cũng rơi vào tình trạng đạo đức giả. Đạo
đức giả là: một hiện tượng phổ biến trong nhiều chế độ xã hội và gắn với chủ
nghĩa cá nhân.
Chế độ đức trị đã sản sinh nhiều kẻ đạo đức giả, những kẻ bề ngoài nói

lao động nông nghiệp chiếm 70%. Vì vậy chúng ta nhất thiết cần phải cần
kiệm để công nghiệp hóa, khắc phục những xu hướng chạy theo lối sống xa
hoa, lãng phí.
Đất nước ta đang trong thời kỳ phất triển công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Để đạt được các mục tiêu đó, chúng ta không thể coi trọng ưu tiên phát
triển kinh tế. Chúng ta không thể không coi trọng ưu tiên phat triển kinh tế.
Chúng ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa cúng để làm cho dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Đó là tiền đề để đảm bảo
cho sự ổn định chính trị xã hội. Cần kiệm đi đôi với chống tham nhũng và lãng
phí, dồn sức đầu tư cho sự phát triển của đất nước trong hiện tại và tương lai.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tức cực đó thì tư tưởng của Nho giáo
cũng chứa nhiều tiêu cực.
2.3.2. Ảnh hưởng tiêu cực.
Với tư tưởng “Trọng nông ức thương” (coi trọng nông nghiệp hơn
công nghiệp), nho giáo đã từng kìm hãm công nghiệp và kinh tế hàng hóa
phát triển, về mặt sản xuất, Nho giáo từng kìm hãm công ngiệp và kinh tế
hàng hóa phát triển, về mặt sản xuất, Nho giáo giáo coi thường khoa học kỹ

16


thuật. Kinh tế Việt Nam không thể đổi mới phát triển nếu không gạt bỏ được
sự cản trở của Nho giáo.
Nền kinh tế mang tính bao cấp và những chính sách xã hội kèm theo nói
đã là một trong những nguyên nhân đưa nước ta tới khủng hoảng trầm trọng.
Sản xuất hàng hóa đòi hỏi phải khắc phục tình trạng chia cắt, khép kín,
trì trệ của sản xuất và lưu thông. Nhưng do ảnh hưởng cũ, tư tưởng “trọng
nông ức thương”, cùng nhiều tư tưởng khác mà nhiều địa phương vẫn còn xu
hướng biệt lập, không chú ý đến yêu cầu chung của đất nước. Nền kinh tế
trong thời kỳ quá độ ở nước ta còn chịu những ảnh hưởng tiêu cực của Nho

tốt chức năng đối với xã hội.
Ở Việt Nam, từ trước đến nay vẫn đề cao việc chăm sóc con cái và con
cái có hiếu với Ông - Bà, Cha - Mẹ. Đó là truyền thống, là nét đặc sắc của văn
hóa gia đình Việt Nam.
Chúng ta đã biết “Gia đình là tế bào của xã hội”, là một nhân tố không
thể nào thiếu được, đặc biệt là trong thời kỳ mà đất nước đang phát triển, đẩy
mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì yếu tố của mỗi gia
đình càng ảnh hưởng ngày một rõ nết hơn.
2.4.2. Ảnh hưởng tiêu cực:
Bên cạnh những mặt tích cực thì về gia đình của nho giáo cũng ảnh
hưởng nhiều đến đời sống xã hội Việt Nam.
Thứ nhất: Trong đời sống xã hội thì thường xuyên phải phụ thuộc vào
tình cảm. Tình cảm anh - em, cha - con, dòng họ, bằng hữu, tình làng nghĩa
xóm và nhiều mối quan hệ khác. Ở nhiều nơi vẫn còn tình trạng cán bộ lợi
dụng quyền lực mà đưa người thân mình vào cac cơ quan, trong khi trình độ
hộc vấn, đạo đức vẫn chưa đủ năng lực. Hay nói cách khác vẫn còn tư tưởng
là: “Một người làm quan cả họ được nhờ”.
Thứ hai: Biến quan hệ cơ quan thành quan hệ gia đình. Làm mất đi
tính dân chủ, mất đoàn kết.
Hồ Chí Minh đã từng nói: tình trạng kéo bè kéo cánh, đưa bà con thân
thích không có tài năng gì vào tổ chức này hay tổ chức kia mà quên mất rằng
việc là việc công chứ không phải là việc riêng của dòng họ. Nhân dân ta đã đổ
18


bao mồ hôi, xương máu để giành lại được độc lập, tự do, xây dựng một cuộc
sống bình đẳng và dân chủ. Gia đình phải là nền tảng mới, phải góp phần bảo
vệ những thành quả đã đạt được. Sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước đối với
gia đình vừa phất huy được truyền thống tốt đẹp của gia đình cũ vừa đáp ứng
được nhu cầu đổi mới đất nước.

trước học Luận Ngữ, Mạnh tử tới Trung Dung, Đại Học; 15 tuổi trở lên, trước
học Thi thư sau học Dịch lễ, Xuân Thu, học kèm Chư Tử và sử” [8. tr, 574 –
575]. Hay chúng ta thường thấy những câu nói của người xưa nói về vai trò quan
trọng của giáo dục.
“Sang sông phải bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”
Hồ Chí Minh đã từng nói: Muốn xây dựng CNXH trước hết phải có
những con đường XHCN. Con đường XHCN không phải tự nhiên mà có, pahir
trải qua quá trình rèn luyện. Học không phải là học sách vở mà học tập từ những
tri thức khoa học tiên tiến của thời đại.
Trong thời kỳ ngày nay, khi trí tuệ trở thành nhân tố quyết định không thể
thiếu được thì hình thức học tập của nho giáo càng có giá trị, nếu chúng ta biết
khai thác, kế thừa.
Tạo ra một truyền thống “tôn sư trọng đạo”, tinh thần ham học, hiếu học,
trọng người có học, tạo ra những nhân tài đóng góp vào việc giữ nước, xây dựng
và phát triển đất nước.
Với quan điểm coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hộ, văn hóa vừa là
mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển xã hội. Coi giáo dục đào tạo
là quốc sách hàng đàu, Đảng ta chủ trương “ tiếp tục đổi mới nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học”. Là cây
phải có gốc, là sông phải có nguồn. Để trở thành một con người đúng nghĩa phải
có thầy . Nhớ công ơn thầy là đạo lý làm người của người dân Việt Nam,“nửa
chữ cũng là thầy, một chữ cũng là thầy”. Chính vì vậy mà Khi Việt Nam
thống nhất. Vào ngày 28 tháng 9 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
phủ) đã ban hành quyết định số 167-HĐBT thiết lập ngày 20 tháng 11 hằng năm
là ngày lễ mang tên "Ngày nhà giáo Việt Nam". Để thể hiện tinh thần quý
20


trọng và vai trò của giáo dục trong xã hội Việt Nam. Đặc Biệt là trong thời kỳ


CHƯƠNG III

HƯỚNG KHẮC PHỤC
3.1. VẬN DỤNG CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH
Chúng ta phải tìm hiểu cái cũ, không để quay về với cái cũ muôn đời,
cúng không phải là phủ nhận sạch trơn mà là để kế thừa. Đẳng ta đã đề ra việc
phê phán và kế thừa của tư tưởng Nho giáo.
Trên con đường cách mạng Việ Nam, Hồ Chí Minh đã kế thừa Nho giáo.
Năm 1948, Người nói : “ Nước lấy dân làm gốc”, “Gốc có vững thì cây mới
bền, xây lầu hạnh phúc trên nền nhân dân”.
Ngược lại với Nho giáo vốn coi nhân dân là cỏ rác, là đối tượng để sai
khiến, thực hiện mục đích của giai cấp thống trị. Thì Hồ Chí Minh đòi hỏi
người cán bộ phải là “ đầy tớ của nhân dân”. Như vậy chúng ta phải học tập
thái độ của Hồ Chí Minh với việc khai thác những nhân tố hợp lý của Nho
giáo.
Hiện nay: Đứng trước nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Kinh tế
thị trường lơi đánh giá khách quan sản phấm hàng hóa. Làm cho chủ thể phải
năng động, thường xuyên chú ý cải tiến kỹ thuật. Thực hiện phân phối theo
lao động sở hữu, để thực hiện tự do, bình đẳng.
3.2. HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN, XÂY DỰNG XHCN
Hơn một nghìn năm bắc thuộc cùng với ảnh hưởng của tư tưởng Đức trị
Nho giáo. Hình thành nên tập quán Lệ Làng chứ không theo pháp luật của nhà
nước Việt Nam. Khi đất nước giành được độc lập, nhà nước và pháp luật
phong kiến ở nhiều giai đoạn đã trở thành vũ khí áp bức bóc lột nhân dân lao
động. Cho đến ngày nay, nhân dân ta vẫn còn tồn tại thói quen sống theo công
thức đạo đức Nho giáo chứ không theo pháp luật. Để xây dựng được hoàn thiện
nhà nước nhà nước pháp quyền XHCN cần có những giải pháp để khắ phục.


mạnh hơn cho sự phát triển, văn hóa...

23


3.4. PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ NHIỀU THÀNH PHẦN
Phát triển kinh tế hang hóa nhiều thành phần định hướng XHCN sẽ tạo
ra cơ sở khách quan để khắc phục những ảnh hưởng của Nho giáo, đồng thời
phát huy giá trị tích cực của nó trong giai đoạn hiện nay.
Phát triển dân chủ hóa tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình dân chủ
hóa XHCN, khắc phúc tình trạng gia trưởng chuyên quyền độc đoán. Có thể
nói nền kinh tế hàng hóa mở ra cơ hội cho tất cả mọi người phát triển đồng
thời cho phép đánh giá con người một cách khách quan hơn và làm cho dấu
ấn của Nho giáo sẽ mất dần đi.
Phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa
về thực chất là quá trình đổi mới kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất vừa tạo
nên quan hệ sản xuất mới.
Chính vì vậy xây dựng và phát triển kinh tế hành hóa nhiều thành
phần định hướng xã hội chủ nghĩa là yếu tố tiên quyết để cải tạo triệt để tồn
tại xã hội còn lạc hậu của nước ta và do đó là điều kiện để khắc phục tàn dư tư
tưởng chính trị của Nho giáo, xây dựng tư tưởng XHCN.
3.5. TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ TIÊN
TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC
Trải qua hàng ngăn năm lịch sử, sự thành bại của dân tộc ta đều có sự
góp phần của tư tưởng Nho giáo.
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc góp phần vào
việc khi thác những giá trị tinh hoa của Nho giáo, đồng thời loại bỏ những
ảnh hưởng tiêu cực của nó trong đời sống xã hội Việt Nam.
Nền văn hóa tiên tiến là nền văn hóa thể hiện tinh thần yêu nước tiến bộ,
thể hiện tinh thần nhân văn cách mạng, mang tính dân chủ đồng thời mang

lên mãi mãi. Vì vậy ta cần chắt lọc những mặt tích cực của Lễ giáo, Nho giáo,
đưa vào đó những nội dung mới để nó trở thành quy phạm đạo đức của cuộc
sống, làm cho mọi người lễ phép với nhau, kính trên nhường dưới, tôn trọng
kỉ cương phép nước.
Trong nhà trường nên phát huy những mặt tích cực của “Lễ”, làm cho
truyền thống “tôn sư trọng đạo” được giữ gìn phát huy, làm cho mọi hành vi
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status