HC VIN CHNH TR - HNH CHNH QUC GIA H CH MINH
-------------------------------
Vế MINH TRUNG
chất lợng đội ngũ đảng viên
là ngời dân tộc thiểu số của các Đảng
bộ xã
ở tỉnh kon tum trong giai đoạn hiện
nay
Chuyờn ngnh
: Xõy dng ng Cng sn Vit Nam
Mó s
: 60 31 23
LUN VN THC S KHOA HC CHNH TR
Ngi hng dn khoa hc: PGS,TS TRN KHC VIT
H Ni - 2009
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của bản thân. Các số liệu, kết quả trình bày trong
luận văn là hoàn toàn trung thực.
TỘC THIỂU SỔ CỦA CÁC ĐẢNG BỘ XÃ Ở TỈNH KON
TUM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - THỰC TRẠNG,
NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM
50
2.1. Thực trạng chất lượng và hoạt động nâng cao chất lượng đội
ngũ đảng viên là người dân tộc thiểu số của các đảng bộ xã ở
tỉnh Kon Tum trong giai đoạn hiện nay
50
2.2. Nguyên nhân và kinh nghiệm
64
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN LÀ
NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỔ CỦA CÁC ĐẢNG BỘ XÃ Ở
TỈNH KON TUM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
69
3.1. Phương hướng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là người
dân tộc thiểu số của các đảng bộ xã ở tỉnh Kon Tum hiện nay
69
3.2. Những giải pháp chủ yếu
:
Chính trị quốc gia
DTTS
:
dân tộc thiểu số
HTCT
:
hệ thống chính trị
Nxb
:
Nhà xuất bản
TCCSĐ
:
tổ chức cơ sở đảng
UBND
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, thực hiện mục
tiêu; “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, vững bước
tiến lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) với những cơ hội và thách thức mới. Tình
hình và nhiệm vụ cách mạng to lớn đó đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ, khó
khăn đòi hỏi Đảng nói chung, đội ngũ đảng viên của Đảng nói riêng phải
không ngừng đổi mới, chỉnh đốn, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo
đức, trình độ, năng lực mới đáp ứng được vai trò lãnh đạo.
Kon Tum là một tỉnh miền núi vùng cao, nằm ở phía bắc Tây Nguyên,
là địa bàn chiến lược của cả nước. Tỉnh Kon Tum được tái lập năm 1991, hiện
có 8 huyện, 1 thành phố, với 97 xã, phường, thị trấn, gồm 822 thôn, làng, tổ
dân phố, trong đó có 51 xã (53%) được hưởng Chương trình 135 của Chính
2
phủ. Dân số toàn tỉnh khoảng trên 400.000 người (dân tộc thiểu số (DTTS)
chiếm 52%), đồng bào theo đạo khoảng 40%. Điều kiện kinh tế - xã hội của
tỉnh còn nhiều khó khăn; trình độ dân trí thấp, an ninh chính trị còn tiềm ẩn
những nhân tố phức tạp; bọn phản động bên ngoài luôn ráo riết lôi kéo, kích
động, lừa mị một bộ phận đồng bào DTTS vượt biên trái phép, nhằm làm mất
ổn định chính trị trên địa bàn. Trong điều kiện đó, Tỉnh ủy Kon Tum xác định
tập trung xây dựng, củng cố hệ thống chính trị (HTCT) cơ sở trong sạch,
vững mạnh, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn bảo đảm
có đủ bản lĩnh và kiến thức lãnh đạo, triển khai thắng lợi nghị quyết của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa phương, trong đó chú trọng
công tác nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là người DTTS đáp ứng yêu
cầu của nhiệm vụ chính trị.
Trong nhiệm kỳ lần thứ XIII, Đảng bộ tỉnh Kon Tum đã tập trung thực
hiện các nghị quyết của Trung ương về củng cố HTCT ở cơ sở, chú trọng
công tác xây dựng Đảng. Ngày 19-6-2002 Ban Thường vụ Tỉnh ủy Kon Tum
đã ban hành Chương trình số 32-CTr/TU “về đổi mới và nâng cao chất lượng
- GS, TS Lê Hữu Nghĩa (chủ biên): “Một số vấn đề về xây dựng đội
ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001.
- PGS,TS Tô Huy Rứa và PGS,TS Trần Khắc Việt (đồng chủ biên):
"Làm người cộng sản trong giai đoạn hiện nay", Nxb CTQG, Hà Nội, 2003.
- PGS,TS Phạm Hảo và TS Trương Minh Dục (đồng chủ biên): “Một
số vấn đề về xây dựng hệ thống chính trị ở Tây Nguyên”, Nxb CTQG, Hà
Nội, 2003.
- PGS,TS Tô Huy Rứa, PGS,TS Nguyễn Cúc và PGS,TS Trần Khắc
Việt (đồng chủ biên): “Giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở
các tỉnh miền núi nước ta hiện nay”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003.
- GS, TS Mạch Quang Thắng (chủ biên): “Vấn đề đảng viên và phát
triển đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006.
4
- PGS,TS Phạm Hảo (chủ biên): “Một số giải pháp góp phần ổn định
và phát triển ở Tây Nguyên hiện nay”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2007.
- Đặng Đình Phú: “Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các
xã, phường, ven đô trong công cuộc đổi mới hiện nay”, Luận án Phó tiến
sĩ, 1996, Học viện CTQG Hồ Chí Minh.
- Cao Thị Thanh Vân: “Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở
nông thôn đồng bằng sông Hồng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại
hóa đất nước”, Luận án Tiến sĩ, 2002, Học viện CTQG Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Văn Giang: “Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên vùng
có đồng bào tôn giáo ở các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn
hiện nay”, Luận án Tiến sĩ, 2003, Học viện CTQG Hồ Chí Minh.
- Mã Điền Cư: “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các đảng bộ
xã có đông đồng bào Chăm ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận giai đoạn
hiện nay”, luận văn Thạc sĩ, 2006, Học viện CTQG Hồ Chí Minh.
đảng bộ xã thuộc tỉnh Kon Tum nghiên cứu, vận dụng nhằm nâng cao chất
lượng đội ngũ đảng viên; dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy
trong trường chính trị tỉnh và các trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện và
thành phố Kon Tum.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
7
Chương 1
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU
SỐ CỦA CÁC ĐẢNG BỘ XÃ Ở TỈNH KON TUM TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. XÃ, CÁC ĐẢNG BỘ XÃ VÀ ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN LÀ NGƯỜI DÂN
TỘC THIỂU SỐ CỦA CÁC ĐẢNG BỘ XÃ Ở TỈNH KON TUM HIỆN NAY – VAI
TRÒ, ĐẶC ĐIỂM
1.1.1. Xã, các đảng bộ xã ở tỉnh Kon Tum hiện nay
1.1.1.1. Đặc điểm địa lý - tự nhiên
Kon Tum là tỉnh được tái lập sau khi tách từ tỉnh Gia Lai - Kon Tum
(tháng 10-1991). Tỉnh Kon Tum nằm ở vùng cao biên giới cực Bắc Tây
Nguyên, với diện tích 9.661 km2; phía Bắc tiếp giáp tỉnh Quảng Nam, có
chiều dài ranh giới 142 km; phía Nam giáp với tỉnh Gia Lai, có chiều dài ranh
giới 203 km; phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, có chiều dài ranh giới 746 km;
phía Tây giáp với hai nước Lào và Cam pu chia có chung 275 km đường biên
giới [11, tr. 18]. Vì thế, Kon Tum đã trở thành “mái nhà Đông Dương”. Đây
là một trong những địa bàn có một vị trí quan trọng về kinh tế và quốc phòng.
Về địa hình, phần lớn lãnh thổ tỉnh Kon Tum nằm ở khối Kon Tum
thượng, tức là ở phía Tây Trường Sơn với hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam
rừng cây lá kim, rừng lá nhiệt đới hỗn hợp cây lá rộng, rừng lá ẩm nhiệt đới
cho thảm thực vật và động vật ở đây phong phú và đa dạng [11, tr. 25-26].
Tuy có địa hình hiểm trở, song Kon Tum lại giàu tiềm năng kinh tế.
Đồng thời, Kon Tum là địa bàn có vị thế chiến lược về an ninh biên giới, một
trọng điểm mà các thế lực thù địch đã và đang âm mưu thực hiện chiến lược
"diễn biến hòa bình" thông qua vấn đề dân tộc và tôn giáo. Điều đó đang đặt
ra yêu cầu việc xây dựng HTCT ở cơ sở nông thôn không chỉ phải tập trung
mọi nguồn lực khai thác tiềm năng, mà còn phải vững mạnh về chính trị, quốc
9
phòng - an ninh và khả năng xử lý nhạy bén, hiệu quả đối với những diễn biến
phức tạp trong thực tiễn.
1.1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Kon Tum là tỉnh có nhiều thành phần dân tộc nhất ở Tây Nguyên. Theo
kết quả điều tra dân số, dân số của Kon Tum là 421.243 người ngày 01-42009 bao gồm 28 dân tộc cùng chung sống, trong đó có 6 dân tộc bản địa
(Xê-Đăng, Ba Na, Brâu, Giẻ-Triêng, Gia rai, Rơmâm) chiếm 53,94% dân số
của tỉnh, đã từng sinh sống từ lâu đời ở vùng này. Trước đây, ở Kon Tum
cũng như Tây Nguyên nổi lên hiện tượng phân bố dân cư ở mỗi làng, buôn,
Plây... là một dân tộc (hay nhóm địa phương); còn việc trong một làng có hai
hay nhiều tộc người khác nhau thì rất ít hoặc hầu như không có. Từ khi người
(Việt) đến với Kon Tum và cả Tây Nguyên, cùng với quá trình di dân nhằm
điều hòa, phân bố lại cư dân và lao động trong phạm vi cả nước để phát triển
kinh tế, văn hóa, bức tranh phân bố dân cư giữa các thành phần dân tộc trong
tỉnh có sự thay đổi lớn. Tính chất cư trú xen kẽ ngày càng tăng lên, nhất là
những nơi thuận lợi cho làm ăn sinh sống. Vì thế, ngày nay ở Kon Tum mang
nét đặc trưng của địa bàn hợp nhiều nguồn dân cư khác nhau có đặc điểm đa
sắc tộc, với sự đan xen về địa bàn cư trú giữa các tộc người. Tính chất xen cư
này rất phổ biến không chỉ ở địa bàn cấp xã, mà còn ở cấp độ làng. Đặc điểm
này, một mặt, đặt ra yêu cầu có tính đặc thù: trong quá trình cơ cấu cán bộ
một diện mạo phong phú và đa dạng cả về tộc người và về văn hóa. Ngày nay,
bên cạnh việc sử dụng rộng rãi tiếng Việt thì tiếng nói và chữ viết của dân tộc
bản địa được khuyến khích phát triển ngày một phong phú và đa dạng đáp
ứng nhu cầu biểu đạt về nhiều lĩnh vực khác nhau trong giao tiếp, đặc biệt là
tiếng Xêđăng, Bana, Giẻ Triêng phát triển mạnh. "Hiện tượng sử dụng song
ngữ, đa ngữ ở từng khu vực, làng bản thậm chí trong từng gia đình cũng là một
thực tế hiện nay ở nhiều vùng dân tộc... Hiện tượng vay mượn từ, nhất là từ về
chính trị, xã hội, khoa học của tiếng dân tộc từ tiếng phổ thông cũng là một thực
11
tế đáng lưu ý hiện nay" [25, tr. 145]. Hơn nữa, cư dân bản địa có nguồn gốc
lâu đời và quan hệ văn hóa sâu sắc với nhiều dân tộc anh em khác.
Có thể nói, sự dung hòa các sắc thái văn hóa của từng dân tộc anh em
sống trên mảnh đất này tạo thành phẩm cách đặc trưng cho người dân Kon
Tum. Nói đến văn hóa Tây Nguyên nói chung và Kon Tum nói riêng là nói
đến các trường ca, văn hóa cồng chiêng, kiến trúc văn hóa nhà mồ, nhà
rông,... Tất cả những cái đó đã được kết tinh lại trong quá trình lao động sáng
tạo và đấu tranh của cư dân bản địa Kon Tum đối với tự nhiên, xã hội qua
hàng thiên niên kỷ. Nó có ý nghĩa khẳng định cội nguồn dân tộc, thể hiện
lòng yêu quê hương, yêu thiên nhiên, hướng con người tới sự đoàn kết gắn
bó, yêu thương nhau và vươn tới ước vọng nhân bản... Những yếu tố ấy cũng
đặt ra yêu cầu phải đảm bảo xây dựng khối đoàn kết cộng đồng đa sắc tộc ổn
định và phát triển là một trong những mục tiêu quan trọng mà hoạt động của
HTCT ở cơ sở nông thôn hướng đến.
Trước đây, với trình độ sản xuất thấp kém, vốn tri thức còn hạn chế,
chưa hiểu hết về quy luật của vũ trụ, trình độ tư duy chưa phát triển, các cư
dân bản địa Kon Tum chưa lý giải được một cách khoa học về các hiện tượng
tự nhiên, còn bị động trước sức mạnh của tự nhiên. Vì thế, trong tâm tưởng,
trong các lễ hội, phong tục tập quán còn in đậm niềm tin, khát vọng vào thế
quản lý và điều hành phải có sự kết hợp hài hòa sao cho vừa kế thừa được
những nhân tố hợp lý của luật tục, lại vừa thực hiện nghiêm minh luật pháp
chung của Nhà nước [25, tr. 234].
Thực tiễn Tây Nguyên nói chung và Kon Tum nói riêng, đã và đang đòi
hỏi đội ngũ cán bộ của HTCT ở cơ sở nông thôn phải thông thạo tiếng nói,
phong tục, tập quán, tâm lý, truyền thống của các dân tộc trên địa bàn; có khả
năng "biết nghe dân nói, biết nói cho dân nghe". Đồng thời, họ phải biết kết
hợp nhuần nhuyễn pháp luật với "luật gia" và "luật tục" trong quản lý xã hội;
biết đối thoại với mọi tầng lớp nhân dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội
theo đúng quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
13
Trong truyền thống dân tộc bản địa Tây Nguyên - Kon Tum ở mỗi
làng, việc điều hành mọi việc theo luật tục do Hội đồng già làng, đứng đầu là
chủ làng. Phổ biến ở các dân tộc Kon Tum, chức chủ làng là do dân bầu lên
thông qua cuộc họp chung ở nhà rông. Ở các dân tộc có số dân đông như Xê đăng, Ba Na, Giẻ Triêng, bên cạnh chủ làng còn có hội đồng già làng bao
gồm những người đàn ông có uy tín, sức khỏe, minh mẫn, hoạt bát, giao thiệp
rộng, có đạo đức, thương yêu dân làng, thông hiểu lễ nghi phong tục tập quán,
luật tục, lịch sử làng, giàu kinh nghiệm sản xuất... Trên cương vị của mình,
chủ làng và già làng là người tối cao đảm nhiệm việc quyết định những vấn
đề quan trọng cả đối nội lẫn đối ngoại của làng; cả trong sinh hoạt kinh tế lẫn
sinh hoạt xã hội và đời sống tinh thần với tư cách là người đại diện tinh thần
của dân làng, thực thi nhiệm vụ do dân làng giao phó. Từ đó, vị trí vai trò của
già làng như một biểu tượng tinh thần với chức năng chủ yếu của ông là một
trung tâm đoàn kết, hòa giải, giữ gìn truyền thống, là tấm gương mẫu mực để
giáo dục các thế hệ của cộng đồng. Có thể nói, nhiều giá trị thiết thực ở uy tín
của già làng vẫn phù hợp ở việc tuyển chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt ở cơ sở có được phẩm chất như vậy trong điều kiện hiện nay.
Tóm lại, những đặc điểm mang tính đặc thù nêu trên, tác động và chi
về củng cố, xây dựng HTCT ở xã, phường, thị trấn. Qua tổng kết cho thấy,
HTCT cơ sở từng bước được củng cố, xây dựng. Quán triệt Nghị quyết Trung
ương 5 khóa IX, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo cơ quan tham mưu xây
dựng chương trình hành động thực hiện để đổi mới và nâng cao chất lượng
hoạt động của HTCT cơ sở xã, phường, thị trấn.
Trong xây dựng, củng cố HTCT cơ sở vững mạnh, Tỉnh ủy Kon Tum
đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn bảo đảm có
đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và kiến thức lãnh đạo, triển khai
thắng lợi nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa
phương, trong đó quan tâm đặc biệt đến công tác nâng cao chất lượng đội ngũ
đảng viên là người DTTS đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị.
15
Cuối năm 2008, tỉnh Kon Tum có 56 đảng bộ xã được xếp loại đạt
trong sạch, vững mạnh trên tổng số 97 đảng bộ xã, phường, thị trấn được
đánh giá xếp loại, chiếm 54,32 %; có 31 đảng bộ xã hoàn thành nhiệm vụ,
chiếm 30,07 %; có 01 đảng bộ xã yếu kém, chiếm 0,97 %. (xem phụ lục 6).
Tất cả các xã, phường, thị trấn đều thành lập đảng bộ cơ sở, mỗi thôn,
làng, tổ dân phố đều có chi bộ đảng lãnh đạo. Các cấp ủy cơ sở được kiện
toàn, sinh hoạt đảng từng bước đi vào nền nếp, việc thực hiện các nhiệm vụ
chính trị ở các đảng bộ các xã ngày càng có chất lượng, hiệu quả cao hơn. Các
đảng bộ, chi bộ ở nhiều xã đã chú trọng và thực hiện khá tốt các quy chế dân
chủ ở cơ sở. Công tác xây dựng Đảng và quản lý địa bàn dân cư ngày càng
được các chi bộ thôn, làng, tổ dân phố tiến hành trôi chảy, thuận lợi. Nhìn
chung, các đảng bộ xã đã có sự chuyển biến tích cực cả về kiện toàn tổ chức
và hoạt động, bước đầu mang lại một số kết quả đáng được ghi nhận:
Hầu hết các tổ chức đảng và đảng viên ở các xã đã nhận thức đúng và
thực hiện tốt chức năng là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở, quán triệt sâu
sắc quan điểm “lãnh đạo phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm và xây dựng
giáo dục đảng viên. Nhiều đảng bộ xã đã cố gắng trong việc thực hiện nghiêm
túc quy định về những điều đảng viên không được làm; giới thiệu đảng viên
thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy cả nơi làm việc và nơi ở,
gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú.
Bộ máy chính quyền ngày càng hoạt động có hiệu quả, tổ chức, thực
hiện các chương trình kế hoạch ngày càng nhanh nhạy.
Hội đồng nhân dân xã ngày càng bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị
của địa phương, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, các đại biểu Hội đồng
nhân dân xã đã nhận thức rõ và thực hiện tốt hơn nhiệm vụ, chức năng và
trách nhiệm của mình.
Uỷ ban nhân dân (UBND) các xã từng bước được củng cố, kiện toàn
tổ chức, bộ máy. Chủ tịch, phó chủ tịch UBND xã đa số trẻ, trình độ học vấn,
trình độ chính trị, chuyên môn bước đầu được nâng lên. Cán bộ chuyên môn
17
được bố trí, sắp xếp ổn định và phát huy tác dụng tốt hơn. Công tác quản lý
hành chính, điều hành các công việc của UBND có tiến bộ khá rõ nét.
Các tổ chức Mặt trận, đoàn thể quần chúng đã cụ thể hóa chủ trương,
chỉ đạo cấp trên và xây dựng được các chương trình, kế hoạch công tác thích
ứng, tích cực phát động các phong trào hành động cách mạng đạt kết quả tốt,
số lượng đoàn viên, hội viên ngày càng tăng lên.
Nhiều cán bộ chủ chốt các xã trưởng thành từ thực tiễn phong trào
cách mạng của quần chúng, gắn bó với sản xuất và đời sống nhân dân, được
quần chúng nhân dân tín nhiệm. Nhiều Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch UBND xã
bước đầu được đào tạo bằng nhiều hình thức, nhất là các khóa tại chức về
chương trình cao cấp lý luận và đại học chính trị. Theo báo cáo của các ban
chuyên môn của Tỉnh ủy hiện nay đa số các Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND
xã đảm đương tốt nhiệm vụ và thể hiện tốt vai trò nòng cốt, trung tâm đoàn
kết xây dựng đảng bộ, có trách nhiệm và tích cực trong lãnh đạo, chỉ đạo và
hành động cách mạng của quần chúng tại các cơ sở đó, làm cho chúng được
thực thi trong thực tiễn. Trong quá trình đưa chủ trương, nghị quyết, chỉ thị
của Đảng và Nhà nước các cấp đi vào cuộc sống, các tổ chức đảng này còn có
trách nhiệm trực tiếp truyền đạt đến các đối tượng nhân dân xã mình những
quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước các cấp. Bên cạnh đó, các tổ chức đảng ở đây còn có trách nhiệm trực
tiếp triển khai, thực hiện tất cả các mặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng,
xây dựng đội ngũ đảng viên tại các đảng bộ xã mình theo chức năng, nhiệm
vụ do Điều lệ Đảng quy định, do các cấp ủy cấp trên giao cho. Các đảng bộ
cơ sở này còn là một trong những nguồn cung cấp quan trọng về đội ngũ cán
bộ đã được đào luyện kỹ năng lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn cho các cơ quan
lãnh đạo của Đảng và Nhà nước các cấp.
Trên cơ sở vị trí và vai trò của các đảng bộ xã tỉnh Kon Tum như trên,
có thể xác định vai trò cụ thể của đội ngũ đảng viên đang hoạt động ở các
đảng bộ xã này như sau:
19
Một là, từng đảng viên - với tư cách là những người được tổ chức đảng
phân công thực hiện các nhiệm vụ được giao - trực tiếp liên hệ với các đối
tượng nhân dân, nắm bắt và xử lý tất cả những thông tin về mọi mặt tình hình
kinh tế - xã hội, về những nhu cầu bức xúc, tâm tư, nguyện vọng chính đáng
và hợp pháp của tuyệt đại bộ phận nhân dân nơi địa bàn mình phụ trách. Qua
đó, họ phản ánh, báo cáo trực tiếp với chi bộ, đảng bộ cơ sở những tâm tư,
nguyện vọng của nhân dân. Mặt khác, từng đảng viên truyền đạt các quan
điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
đến với nhân dân. Như vậy, từ việc: tiếp thu và xử lý những thông tin về thực
trạng tình hình địa phương, về tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và phản ánh
đến lãnh đạo Đảng và Nhà nước các cấp; đến việc quán triệt, tiếp thu tất cả
các thông tin về lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn của Đảng và chính quyền các
nhiều khó khăn, trình độ nhiều mặt còn rất thấp, nhận thức các vấn đề chủ
yếu bằng kinh nghiệm, tư duy cụ thể, bằng cách làm theo người hướng dẫn.
Đảng viên là người DTTS hướng dẫn đồng bào DTTS có hiệu quả rất cao.
Bốn là, đội ngũ đảng viên có vai trò, trách nhiệm trực tiếp tham gia tất
cả các mặt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng các đơn vị, cơ sở.
Đội ngũ đảng viên tham gia sinh hoạt chi bộ, đấu tranh thực hiện nghiêm các
nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng,
tham gia các mặt công tác đảng viên như: phân công, giao nhiệm vụ cụ thể
cho từng đảng viên; quản lý, kiểm tra, phân tích chất lượng đảng viên; tham
gia xây dựng chi bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh; tổ chức vận động quần
chúng đóng góp, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và các tổ
chức mặt trận, đoàn thể nhân dân. Đảng viên còn vận động, tổ chức, tạo mọi
điều kiện thuận lợi để quần chúng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ
của công dân, phát huy đầy đủ quy chế dân chủ ở cơ sở cấp xã, đấu tranh có
hiệu quả với các hiện tượng sai trái, tiêu cực, lãng phí, quan liêu tham nhũng
trong đội ngũ cán bộ, đội ngũ đảng viên, nhất là những đảng viên là cán bộ
lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở.
21
Năm là, đội ngũ đảng viên thay mặt tổ chức đảng, tổ chức chính quyền
và nhân dân đề xuất những ý kiến, đề đạt những nguyện vọng của cơ sở lên
các cấp có thẩm quyền. Căn cứ những ý kiến và nguyện vọng đó, các cơ quan
Đảng và Nhà nước cấp trên kịp thời bổ sung, điều chỉnh chủ trương, chính
sách cho phù hợp. Đồng bào DTTS ở Kon Tum thường có tâm lý e dè, ngại
tiếp xúc với cán bộ lãnh đạo, mặc dù có nhiều tâm tư, bức xúc hoặc có sáng
kiến tốt. Hơn ai hết, đội ngũ đảng viên là người DTTS có điều kiện gần gũi
đồng bào, được đồng bào thổ lộ hết mọi suy nghĩ của mình, hiểu rõ tâm tư của
đồng bào, từ đó có căn cứ xác đáng để phản ánh với tổ chức đảng cơ sở và
cấp trên…