HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
TRN NH HIN
đảng bộ tỉnh quảng bình lãnh đạo thực hiện
nhiệm vụ hậu phương từ năm 1964 đến năm 1975
TểM TT LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: LCH S NG CNG SN VIT NAM
H NI - 2016
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Hồ Khang
2. PGS.TS. Trịnh Thị Hồng Hạnh
Phản biện 1:.........................................................
.........................................................
Phản biện 2:.........................................................
.........................................................
Phản biện 3:.........................................................
.........................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi...... giờ....... ngày...... tháng...... năm 2016
hậu phương giai đoạn 1964 - 1975; sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh Quảng
Bình vào điều kiện cụ thể của địa phương.
2
- Trình bày và làm rõ sự chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ hậu phương của
Đảng bộ tỉnh Quảng Bình bao gồm: xây dựng tiềm lực hậu phương, đảm
bảo giao thông vận, chi viện miền Nam và chiến trường Lào.
- Phân tích những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân hạn chế trong sự
lãnh đạo của Đảng bộ Quảng Bình đối với việc thực hiện nhiệm vụ hậu
phương; trên cơ sở đó, đúc kết một số kinh nghiệm.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh
Quảng Bình đối với xây dựng, bảo vệ hậu phương, chi viện tiền tuyến
miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào giai đoạn
1964 - 1975.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung khoa học: Luận án tập trung nghiên cứu chủ trương và
quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Quảng Bình về thực hiện
nhiệm vụ hậu phương từ năm 1964 đến năm 1975.
- Về thời gian: Luận án lấy năm 1964 làm mốc bắt đầu nghiên cứu bởi
vì tháng 8-1964, sau sự kiện “Vịnh Bắc Bộ”, Mỹ sử dụng lực lượng hải
quân, không quân đánh phá hậu phương chiến lược của miền Nam nói
chung và Quảng Bình nói riêng. Bắt đầu từ thời điểm đó, Quảng Bình bước
vào giai đoạn tích cực thực hiện xây dựng, bảo vệ và chi viện cho tuyền
tuyến từ vị trí hết sức đặc thù của mình. Luận án lấy năm 1975 làm mốc kết
thúc bởi đó là năm kết thúc thắng lợi cuộc KCCMCN, Quảng Bình kết thúc
một giai đoạn lịch sử, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ hậu phương.
nhằm tái hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Bình trong
thực hiện nhiệm vụ hậu phương; đồng thời, sử dụng phương pháp phân
4
tích, thống kê, so sánh, đối chiếu… nhằm làm rõ những thành tựu, hạn
chế; lý giải nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế cũng như rút ra
những kinh nghiệm lịch sử trong quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lãnh
đạo thực hiện nhiệm vụ hậu phương.
5. Đóng góp của luận án
5.1. Về tư liệu
Cung cấp hệ thống tư liệu (tư liệu thành văn và tư liệu thực địa) về
quá trình thực hiện nhiệm vụ hậu phương của Quảng Bình từ năm 1964
đến năm 1975 dưới sự lãnh đạo của Đảng.
5.2. Về nội dung
Luận án phục dựng lại quá trình thực hiện nhiệm vụ hậu phương của
Đảng bộ, quân và dân Quảng Bình; làm sáng tỏ những đóng góp, vai trò
của hậu phương Quảng Bình đối với tiền tuyến những năm 1964 - 1975;
Tổng hợp, hệ thống, đúc kết kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng
Bình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hậu phương; Kết quả nghiên cứu của
luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên
cứu, giảng dạy những vấn đề có liên quan.
6. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã
công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận án được kết cấu thành 4 chương, 9 tiết.
5
6
địa bàn Quân khu 4 trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; Lịch sử Đảng
bộ Quân khu 4 trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)...
Hậu phương Quảng Bình trong cuộc KCCMCN được đề cập cụ thể
trong một số công trình: Lịch sử Đảng bộ Quảng Bình (1954 - 1975); Lịch
sử Quảng Bình chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975); Lại Văn Ly, Tuyến lửa
những năm sôi động. Các bộ lịch sử của các huyện trên địa bàn tỉnh Quảng
Bình trong KCCMCN, như: Lịch sử Đảng bộ huyện Minh Hoá (1930 1975); Lịch sử Đảng bộ huyện Quảng Trạch (1954 - 1975); Lịch sử Đảng
bộ huyện Bố Trạch (1954 - 1975); Lịch sử Đảng bộ Đồng Hới (1954 1975); Lịch sử Đảng bộ huyện Quảng Ninh (1954 - 1975); Lịch sử Đảng
bộ huyện Lệ Thuỷ (1954 - 1975). Về lịch sử đoàn thể quần chúng, có các
cuốn: "Lịch sử phong trào đấu tranh cách mạng phụ nữ Quảng Bình (1930
- 1975)"; "Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn tỉnh Quảng Bình
(1885 - 1975)". Về lịch sử các ngành có các cuốn: "Lịch sử giao thông vận
tải Quảng Bình (1885 - 1999)"; "Lịch sử giáo dục - đào tạo Quảng Bình";
"Lịch sử văn hóa - thông tin Quảng Bình (1945 - 2000)"; "Lịch sử công an
nhân dân tỉnh Quảng Bình 1945 - 1975"; "Lịch sử công nghiệp, thủ công
nghiệp Quảng Bình (1959 - 2000)"...
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI
Một số công trình tiêu biểu: cuốn Cuộc chiến tranh dài ngày nhất
của nước Mỹ, tác giả George Herring; cuốn Nhìn lại quá khứ. Tấn thảm
kịch và những bài học về Việt Nam, của Robert McNamara; Cuốn “North
Vietnam’s strategy for survival” (“Chiến lược sống còn của Bắc Việt
Nam”); “The ten thousand day war Vietnam: 1945 - 1975” (“Việt Nam
cuộc chiến tranh mười nghìn ngày: 1945 - 1975”)... Trong các cuốn sách
đề cập đến mảnh đất Quảng Bình, chiếc cầu nối giữa hậu phương lớn miền
Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam.
8
phong trào đấu tranh chống Pháp rất sớm. Trong 9 năm kháng chiến chống
thực dân Pháp, quân và dân Quảng Bình đã làm nên một “Quảng Bình quật
khởi” với những chiến công oanh liệt. Trong cuộc KCCMCN, Quảng Bình
chính là hình ảnh của miền Bắc nước ta thu nhỏ lại xét theo phương diện
địa lý - kinh tế. Bên cạnh cái chung đó, Quảng Bình cũng có những nét
riêng biệt của địa phương, và đó là đặc điểm để có thể thấy được tầm quan
trọng của địa chính trị nơi đây trong tư cách là một hậu phương trực tiếp
trong cuộc KCCMCN
2.1.1.2. Quảng Bình thực hiện nhiệm vụ hậu phương trước
năm 1964
Từ năm 1954 đến năm 1964, do vị trí chiến lược, Quảng Bình vừa
khôi phục, xây dựng kinh tế, văn hoá, đảm bảo an ninh - quốc phòng, xây
dựng lực lượng bộ đội địa phương, dân quân, du kích; bước đầu xây dựng
hệ thống GTVT, vừa ổn định phát triển đời sống của nhân dân, vừa chuẩn
bị tiềm lực phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam và
làm nhiệm vụ quốc tế.
Về chính trị, Đảng bộ Quảng Bình đã đặt nhiệm vụ chống cưỡng ép,
dụ dỗ di cư vào Nam là một trong những công tác quan trọng.
Về kinh tế, từ năm 1954 - 1957, Quảng Bình hoàn thành khôi phục
kinh tế, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (1958 - 1960) và
thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ nhất (1961 1965). Kết quả trên các mặt về nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp có nhiều tiến bộ
Về văn hoá, giáo dục, y tế, ngay sau năm 1954, Đảng bộ chỉ đạo
thực hiện chăm lo việc học tập và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân. Ngành
giáo dục đã tập trung khôi phục các trường bị gián đoạn trong chiến tranh.
9
viện trợ của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam. Vì vậy,
Quảng Bình là địa bàn hứng chịu nhiều cuộc ném bom ác liệt của Mỹ.
2.1.1.4. Chủ trương của Trung ương Đảng và Quân khu uỷ Quân
khu IV
Sau sự kiện “Vịnh Bắc Bộ”, tháng 8-1964, Bộ Chính trị ra Chỉ thị
về việc tăng cường sẵn sàng chiến đấu chống mọi âm mưu của Mỹ khiêu
khích và phá hoại miền Bắc. Đặc biệt, tháng 3-1965, Hội nghị của
BCHTƯ Đảng lần thứ 11 đã họp và trên cơ sở phân tích âm mưu và
hành động của Mỹ, Hội nghị quyết định chuyển toàn bộ hoạt động của
miền Bắc từ thời bình sang thời chiến nhằm đảm bảo cho miền Bắc tiếp
tục sự nghiệp xây dựng CNXH trong điều kiện có chiến tranh, đảm bảo
cho miền Bắc có đủ sức mạnh đánh bại cuộc CTPH của không quân, hải
quân Mỹ và làm tròn vai trò, nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền
tuyến lớn.
Ngày 7 và 8-5-1965, Hội nghị Quân uỷ Quân khu IV mở rộng được
tiến hành nhằm phân tích, đánh giá âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và đề ra
nhiệm vụ thích ứng với những thay đổi của tình hình. Nghị quyết của Hội
nghị Quân khu uỷ đã đặt nền tảng cho cơ chế và nền nếp hoạt động lãnh
đạo, chỉ đạo chiến tranh, xây dựng và bảo vệ hậu phương trong cuộc
KCCMCN.
2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Bình
Ngày 18 đến 20-6-1965, Hội nghị cán bộ toàn tỉnh họp và đề ra
nhiệm vụ chuyển hướng xây dựng kinh tế và tăng cường công tác an ninh,
quốc phòng. Để thực hiện nhiệm vụ hậu phương và phương châm quyết
chiến, quyết thắng, về việc sẵn sàng chiến đấu, Hội nghị Thường vụ Đảng
bộ tỉnh Quảng Bình ngày 6-8-1966 đề ra nhiệm vụ về tổ chức lực lượng
11
2.2.1.3. Lĩnh vực văn hoá - giáo dục, y tế
Đảng bộ tỉnh lãnh đạo chuyển hướng các hoạt động giáo dục, y tế,
văn hoá phù hợp với thời kì có chiến tranh. Về giáo dục, Đảng bộ tỉnh lãnh
đạo xây dựng cơ sở vật chất cho hệ thống giáo dục thời chiến, đảm bảo
cho việc dạy và học. Trên lĩnh vực y tế chăm sóc sức khoẻ nhân dân, Đảng
bộ tỉnh cũng đã kịp thời lãnh đạo thực hiện công tác cấp cứu phòng không,
chuẩn bị hệ thống hầm hào phòng tránh cho bệnh nhân, dụng cụ thuốc
men, câp cứu. Ngay khi trong chiến tranh, ngành y tế vẫn được hoàn chỉnh
về cơ sở vật chất, được tăng cường cán bộ, phương tiện, dụng cụ chuyên
môn để phục vụ chiến đấu, sản xuất và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
Đối với văn hoá - nghệ thuật, triển khai những định hướng phát triển văn
hoá, văn nghệ của Đảng trong hoàn cảnh mới là phải đẩy mạnh các hoạt
động văn hoá, thông tin ở các đơn vị, cơ sở chiến đấu và sản xuất với khẩu
hiệu "Tiếng hát át tiếng bom", "Tiếng loa hoà tiếng súng".
2.2.1.4. Thực hiện quốc phòng toàn dân và công tác phòng tránh
Đảng bộ tỉnh Quảng Bình luôn nhận thức rõ vị trí và vai trò quan
trọng của lực lượng hậu bị và DQTV nên đã có sự chỉ đạo cho các ban,
ngành, địa phương chăm lo công tác dự bị động viên và xây dựng lực
lượng. Đảng bộ tỉnh cũng chủ trương đẩy mạnh công tác quốc phòng toàn
dân vững mạnh cả về số lượng và chất lượng.
Đối với công tác phòng tránh, khắp nơi trong tỉnh đều có hầm trú ẩn.
Ở những vùng trọng điểm, các đường giao liên, liên thôn đều có hầm tròn,
hầm chữ A, hầm chữ L cho người qua đường trú ẩn. Ở nông thôn, các gia
đình đều có hầm trú ẩn và hầm cá nhân ở đồng ruộng. Ở những nơi địch
thường xuyên đánh phá, nhân dân xây dựng thành những làng hầm, đưa
mọi sinh hoạt của gia đình xuống lòng đất, thực hiện bám đất, bám làng để
chiến đấu, sản xuất.
2.2.3. Cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến
2.2.3.1. Thực hiện nghĩa vụ hậu phương đối với tiền tuyến miền Nam
Cuộc KCCMCN ngày càng ác liệt, cả nước đã phải huy động tối đa
sức người, sức của để chi viện cho chiến trường. Quảng Bình trong những
năm tháng này đã tích cực huy động mọi tiềm lực của hậu phương để phục
vụ cho chiến trường, đặc biệt là cho tiền tuyến miền Nam để cách mạng
được nhanh chóng đến ngày toàn thắng.
2.2.3.2. Giúp đỡ, ủng hộ cách mạng Lào
Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, tỉnh Quảng Bình đã bền bỉ giúp
Savannakhẹt xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, lực lượng vũ trang,
xây dựng kinh tế và phát triển văn hóa.
*
*
*
Quảng Bình là một tỉnh nằm ở vị trí chiến lược quan trọng nên Mỹ
luôn tìm mọi cách để đánh phá. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng,
Quân uỷ Khu IV và trực tiếp là Đảng bộ tỉnh Quảng Bình, quân và dân nơi
đây đã ra sức xây dựng và bảo vệ hậu phương vững chắc, góp phần đánh
bại âm mưu phá hoại miền Bắc của Mỹ trên địa bàn tỉnh và thực hiện tích
cực nhiệm vụ của một hậu phương với tiền tuyến miền Nam.
Trong suốt khoảng thời gian từ năm 1964 đến năm 1968, nhân dân
Quảng Bình phải thường xuyên đối đầu trực tiếp với máy bay, tàu chiến
hiện đại bậc nhất của Mỹ, nhưng nhân dân Quảng Bình vẫn luôn hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ mọi mặt của hậu phương.
15
16
trị và BCH Trung ương tiếp tục đề ra nhiệm vụ đối vối miền Bắc là tích
cực xây dựng hậu phương tại chỗ, mở rộng và củng cố căn cứ địa vững
mạnh trên các chiến trường. Hội nghị lần thứ 19 khoá III của BCH Trung
ương Đảng (12-1970) tiếp tục đề ra nhiệm vụ khôi phục, phát triển kinh tế
để tiếp tục xây dựng CNXH ở miền Bắc trong tình hình mới nhằm đảm
bảo yêu cầu của cuộc KCCMCN.
Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quân khu ủy khu IV đã
kịp thời ra Nghị quyết và triển khai nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo
nhằm ổn đinh tình hình chính trị, tư tưởng, tổ chức và lực lượng vũ trang.
3.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh
Đảng bộ tỉnh Quảng Bình đã nhanh chóng đề ra những chủ trương
mới phù hợp với giai đoạn mới nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi
phục và đẩy mạnh sản xuất, tăng cường thực hiện nghĩa vụ của hậu
phương trực tiếp: Nghị quyết 01/NQ-QB, ngày 17-3-1969, Nghị quyết số
2/NQ-QB tháng 8-1969, Nghị quyết số 1 (1-1970) “Về đánh giá tình hình
năm 1969 và phương hướng nhiệm vụ năm 1970”, Nghị quyết số 12 của
BCH Đảng bộ tỉnh (6-1972) tập trung đề ra nhiệm vụ đảm bảo GTVT....
3.2. QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ HẬU
PHƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
3.2.1. Xây dựng tiềm lực hậu phương
3.2.1.1. Lĩnh vực chính trị - tư tưởng
Đảng bộ tỉnh đề ra nhiệm vụ trong tình hình mới phải kiên trì và liên
tục giáo dục chính trị, tư tưởng sâu rộng trong Đảng và nhân dân, mở các
đợt sinh hoạt chính trị giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân quán
triệt các Nghị quyết của Trung ương Đảng và Tỉnh ủy để nhận rõ được tình
18
nâng dần khối lượng hàng hoá qua từng bến, chuyển nhanh vào các trạm
chuyển tiếp hàng hoá ra mặt trân.
3.2.2. Chiến đấu bảo vệ địa bàn
Ngay từ ngày đầu Mỹ ném bom trở lại miền Bắc, để bảo vệ địa bàn,
các đơn vị DQTV, bộ đội địa phương Quảng Bình đã phối hợp với các lực
lượng chủ lực đóng quân trên địa bàn kịp thời triển khai thế trận, đánh trả
quyết liệt máy bay và tàu chiến Mỹ. Nhân dân Quảng Bình giành được
nhiều thành tích lớn trong bắn máy bay và tàu chiến Mỹ. Cùng chia lửa với
miền Bắc, quân và dân Quảng Bình cùng hợp đồng chiến đấu, góp phần
đánh bại cuộc CTPH lần thứ hai của đế quốc Mỹ.
3.2.3. Đón tiếp, phục vụ cán bộ và đồng bào Trị Thiên - Huế
Sau Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Mỹ phản công mạnh
mẽ, chiếm lại một số vùng đồng bằng Trị - Thiên và thành phố Huế, củng
cố cơ sở, bắt bớ và giết hại những cán bộ, nhân dân đã tham gia hoạt động
trong chiến dịch. Trong thời kỳ vô vàn khó khăn này, để bảo toàn lực lượng,
Khu ủy Trị - Thiên Huế có chủ trương đưa cán bộ và nhân dân Trị - Thiên
Huế bị lộ ra hậu phương Quảng Bình, vừa tổ chức điều trị điều dưỡng, vừa
học tập, chuẩn bị thời cơ thuận lợi sẽ trở lại quê hương. Tỉnh Quảng Bình
đã thành lập “Ban B” có nhiệm vụ chuyên lo đón tiếp và giải quyết các chế
độ cho cán bộ và đồng bào Trị Thiên - Huế. Năm 1972, Đảng bộ tỉnh còn
cho thành lập Ban đón tiếp đồng bào Quảng Trị (K15) để đón nhận đồng
bào vùng mới giải phóng ra tạm lánh chiến sự một thời gian.
3.2.4. Chi viện chiến trường Trị - Thiên Huế và chiến trường Lào
3.2.4.1. Chi viện chiến trường Trị - Thiên Huế
Chiến tranh càng ác liệt thì công tác chi viện càng cấp thiết. Để làm
tốt nhiệm vụ hậu phương chi viện cho chiến trường phải thông suốt, các
quân và dân Quảng Bình đã chủ động, linh hoạt, cụ thể hóa các chủ
trương, nghị quyết thành hành động thiết thực trong việc xây dựng tiềm
20
lực kinh tế - xã hội để làm hậu thuẫn cho chiến trường; xây dựng mạng
lưới và tổ chức các chiến dịch chi viện cho chiến trường; xây dựng hậu cứ
và chỗ đứng chân cho các lực lượng tham gia chiến trường miền Nam;
đánh bại các cuộc CTPH của Mỹ, bảo vệ hậu phương; tổ chức các lực
lượng phục vụ chiến đấu và trực tiếp tham gia chiến đấu trên chiến trường.
Những thành công trong việc xây dựng, bảo vệ hậu phương Quảng Bình
trong giai đoạn này đã giúp địa phương đứng vững và có vai trò quan trọng
trong việc chi viện tiền tuyến và đánh bại mọi thủ đoạn, âm mưu của kẻ
thù, góp phần cùng với quân và dân cả nước tạo nên thắng lợi chung trong
cuộc KCCMCN.
Chương 4
NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
4.1. NHẬN XÉT
4.1.1. Về ưu điểm
Một là, Đảng bộ quán triệt sâu sắc tầm quan trọng của việc thực
hiện nhiệm vụ hậu phương ở một địa bàn chiến lược từ nhận thức tới
hành động
Hai là, luôn gắn nhiệm vụ xây dựng tiềm lực với bảo vệ vững chắc
hậu phương và chi viện cho chiến trường
Ba là, coi trọng nhiệm vụ chi viện chiến trường miền Nam, đồng thời
hoàn thành nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào
tại một số hạn chế nhất định. Những hạn chế nêu trên nhanh chóng được
Đảng bộ rút kinh nghiệm, sửa chữa và khắc phục. Thực tiễn quá trình
Quảng Bình thực hiện nhiệm vụ hậu phương trong cuộc KCCMCN giai
đoạn 1964 - 1975 để lại những bài học kinh nghiệm quý báu. Những bài
học kinh nghiệm đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
22
KẾT LUẬN
Trong cuộc KCCMCN, đặc biệt giai đoạn 1964 - 1975, mảnh đất
Quảng Bình nhỏ hẹp ở vào vị trí tiền tiêu của miền Bắc XHCN và hậu
phương trực tiếp của miền Nam tiền tuyến lớn anh hùng, Mỹ đã tập trung
đủ loại máy bay hiện đại, tàu chiến bắn phá uy hiếp cả ngày lẫn đêm, dội
hàng chục vạn tấn bom đạn khắp hang cùng ngỏ hẻm, từ thành thị đến
nông thôn để tàn phá nhà cửa, giết hại nhân dân. Chúng còn tung gián
điệp, dùng chiến tranh tâm lý để gây chia rẽ nhân dân, xuyên tạc đường lối
kháng chiến hòng khuất phục tinh thần của nhân dân Quảng Bình, phá hoại
sản xuất, đời sống và ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền
Nam, ngăn cản nhân dân Quảng Bình làm nghĩa vụ đối với đồng bào cả
nước, nhưng Mỹ đã thất bại.
1. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ, Đảng bộ,
quân và dân Quảng Bình phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang ở
Trung ương và Quân khu IV đã tích cực chủ động, chuẩn bị đối phó với
mọi âm mưu và thủ đoạn của Mỹ. Chấp hành các nghị quyết của Trung
ương Đảng, thực hiện quyết tâm của Đảng, Quảng Bình tuy bị tổn thất
nặng nề, song vẫn đứng vững và giành được những thắng lợi to lớn trong
cuộc đọ sức này. Rõ ràng, sức mạnh, phương tiện chiến tranh hiện đại của
không quân và hải quân Mỹ đã không thể đè bẹp ý chí chiến đấu và chiến
thắng của quân và dân Quảng Bình, ngược lại, càng bị đánh phá ác liệt,
hệ thống bệnh viện, bệnh xá, chăm lo sức khoẻ cho nhân dân.
Việc xây dựng hậu phương vững mạnh không chỉ làm chỗ dựa cho
các lực lượng cách mạng, tăng cường cung cấp nhân lực, vật lực cần thiết
cho tiền tuyến mà nó còn có tác dụng cổ vũ niềm tin, tinh thần chiến đấu
cho quân và dân trong tỉnh.