BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
- Tên đề tài: Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn khối 2
trường Tiểu học Xã Phan.
- Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Thiện Trở và Nguyễn Thị Ngọc Xuân
- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Xã Phan.
1. Lý do chọn đề tài:
- Xuất phát từ tình hình thực tế của học sinh khối 2, đa số các em chưa hiểu tầm
quan trọng các kỹ năng giải toán có lời văn. Khả năng phân tích, xác định bài toán có
lời văn của các em còn hạn chế. Bên cạnh đó giáo viên chưa có giải pháp, biện pháp
phù hợp để hướng dẫn học sinh rèn các kỹ năng giải toán đúng. Học sinh biết giải toán
có lời văn một cách thành thạo là một trong những điều cần thiết để đánh giá trình độ
của học sinh.
- Là giáo viên và cán bộ quản lý chúng tôi muốn góp một phần kinh nghiệm
của mình nâng cao chất lượng dạy và học, đồng thời nâng cao năng lực sư phạm cho
bản thân, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải
toán có lời văn khối 2 trường Tiểu học Xã Phan”.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
- Đối tượng: Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn học sinh
khối 2 trường Tiểu học Xã Phan.
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp điều
tra, phương pháp quan sát, phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm, phương pháp so
sánh đối chiếu.
3. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
- Nắm vững mục tiêu, yêu cầu, nội dung của từng dạng bài, từng tiết, giúp học
sinh hình thành các kỹ năng giải toán có lời văn.
- Giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản để vận dụng vào giải toán có lời
văn theo 4 bước: (Đọc kỹ bài toán xác định dạng toán, tóm tắt đề toán, phân tích bài
toán để tìm cách giải, giải bài toán và thử lại).
- Kết quả của bài toán giúp cho học sinh nhận ra cái đúng, cái sai của mình để
có hướng khắc phục, sửa chữa.
4. Phạm vi nghiên cứu:
lời văn bốn phép tính (cộng, trừ, nhân, chia) không hiện ra một cách rõ ràng, mà
chúng ẩn náo đằng sau các câu chữ (nhiều khi rất khó nhận thấy); mô tả những tình
huống trong đời sống, sinh hoạt, lao động và học tập thường ngày. Nếu không có sự
độc lập suy nghĩ, tìm hiểu thì không thể phát hiện ra cách giải. Do đó, đa số học sinh
Tiểu học rất thích các bài toán số mà thường không thích các bài toán có lời văn, nhất
là các em có kiến thức kỹ năng chưa hoàn thành.
- Hơn nữa, việc tính toán luôn gắn bó chặt chẽ với đời sống con người. Vì thế
rèn kỹ năng thực hiện các phép tính để giải toán có lời văn rất cần thiết trong chương
trình toán Tiểu học và đặc biệt dạy theo mô hình VNEN. Thực tế một tiết hoạt động
thực hành ở môn Toán, dạy theo mô hình VNEN học sinh làm bài một cách độc lập
theo từng cá nhân. Qua một học kỳ trực tiếp giảng dạy ở khối 2, chúng tôi nhận thấy
học sinh khối 2 đạt chất lượng môn Toán chưa cao, nhất là giải toán có lời văn các em
thường gặp nhiều khó khăn. Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, các em thường vội vàng
hấp tấp, đơn giản hóa vấn đề nên đôi khi học sinh chưa hiểu kỹ đề đã làm bài của
mình dẫn đến kết quả nhiều khi bị sai, thiếu hoặc đúng nhưng chưa đủ. Các em thích
giống bạn không tin tưởng vào bài làm của mình dẫn đến những sai sót giống nhau.
Thậm chí bài làm đúng rồi nhưng lại bỏ đi, chép bài sao cho giống bạn, các em chưa
tin tưởng vào bản thân mình.
- Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay;
xuất phát từ mục đích yêu cầu của chương trình toán lôùp 2 dạy theo mô hình VNEN,
từ đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học nói chung và trình độ nhận thức của học
sinh khối 2 nói riêng. Với mong muốn góp một phần kinh nghiệm của mình trong việc
3
giáo dục học sinh, đồng thời nâng cao năng lực sư phạm cho bản thân, để giúp học
sinh giải đúng và học tốt các dạng toán có lời văn mà không cần sự hỗ trợ của các
nhóm trưởng hay của cô giáo nên chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu về:
“Kinh nghiệm hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn khối 2 trường Tiểu học Xã
Phan”.
- Sau mỗi lần áp dụng một kinh nghiệm, chúng tôi thường đối chiếu kết quả
học sinh đạt được ở thời điểm hiện tại với kết quả ở thời điểm áp dụng đề tài. Qua đó,
chúng tôi tiến hành chọn lọc và phối hợp những ưu điểm giữa hai biện pháp trên để rút
ra kinh nghiệm tốt trong dạy giải toán có văn.
* Phương pháp quan sát:
Trong quá trình dạy học, chúng tôi luôn quan sát thái độ học tập của học sinh
và hứng thú học toán có lời văn của học sinh. Chúng tôi thường xuyên theo dõi sự
chuyển biến kết quả học tập của các em để từ đó, chúng tôi có cơ sở để tiếp tục phát
huy những kinh nghiệm hướng dẫn học sinh có hiệu quả.
* Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm:
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, chúng tôi luôn tổng kết lại
những kinh nghiệm có hiệu quả trong việc giúp học sinh học tốt giải toán có văn.
Phương pháp này đã giúp chúng tôi tìm hiểu được bản chất, nguyên nhân và cách giải
quyết trong quá trình nghiên cứu, tổng kết được những kinh nghiệm, từ đó định hướng
cụ thể cho những lần áp dụng sau.
* Phương pháp so sánh, đối chiếu:
Phương pháp so sánh, đối chiếu giữa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, giữa kết
quả khi chưa vận dụng đề tài với kết quả lúc vận dụng đề tài để thấy được hiệu quả
của đề tài.
6. Giả thuyết khoa học:
Nếu giáo viên có sự đầu tư đúng mức và lựa chọn được phương pháp, giải
pháp dạy học phù hợp để hướng dẫn cho học sinh thì sẽ giúp học sinh giải đúng bài
toán có lời văn và nâng cao chất lượng học tập môn Toán ngày càng cao hơn. Qua đó
các em sẽ cảm thấy tự tin, yêu thích, hứng thú hơn và sáng tạo hơn khi giải toán có lời
văn.
5
II. NỘI DUNG
với các kiến thức đã học làm cơ sở để học tiếp ở lớp 3. Nó còn đặt nền móng cho quá
6
trình đào tạo tiếp theo ở cấp học cao hơn; hình thành kỹ năng tính toán; giúp học sinh
nhận biết được mối quan hệ về số lượng, hình dạng không gian của thế giới hiện thực;
hình thành phát triển hứng thú học tập và năng lực phẩm chất trí tuệ của học sinh góp
phần phát triển trí thông minh, óc suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo. Đồng thời
chương trình toán có lời văn lớp 2 còn kế thừa giải toán có lời văn lớp 1, mở rộng và
phát triển nội dung giải toán phù hợp với sự phát triển nhận thức của học sinh lớp 2.
- Dạy học sinh giải toán có lời văn: Là dạy học sinh biết cách giải bài toán
(phương pháp giải toán). Việc dạy học theo mô hình mới (VNEN) học sinh phải ngồi
học theo nhóm nên các em dễ nhìn bài lẫn nhau từ đó ỷ lại không chịu động não suy
nghĩ. Do đó, giáo viên không được làm thay, không được áp đặt cách giải, cần phải
dẫn dắt học sinh tự tìm ra cách giải bài toán.
c. Một số quan niệm khác:
- Trong quá trình học môn Toán việc giải toán là một vấn đề hết sức cần thiết
giúp cho học sinh phát triển tư duy một cách lành mạnh và thông hiểu một cách sâu
sắc các vấn đề thông qua việc giải toán.
- Chương trình toán Tiểu học giải toán được xem là một vị trí quan trọng.
Thông qua các bài toán giúp cho học sinh phát triển năng lực tự tìm tòi, có đầu óc
thẩm mĩ sáng tạo.
- Trong giải toán học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, trong
nhiều trường hợp phải biết phát hiện những điều chưa được nêu ra một cách rõ ràng,
phải biết suy nghĩ năng động sáng tạo. Vì vậy có thể coi giải toán là một trong những
biểu hiện năng động của một hoạt động trí tuệ của học sinh dưới sự hướng dẫn của
giáo viên nhằm cuốn hút vào những hoạt động học tập.
- Rèn cho học sinh tính cẩn thận, kiên trì vượt khó, tính toán chính xác.
- Giải bài toán có lời văn giúp các em phát triển thông minh, óc sáng tạo, có
thói quen làm việc một cách khoa học.
bài toán xác định dạng toán, tóm tắt bài toán, phân tích bài toán để tìm ra cách giải,
giải bài toán và thử lại các kết quả.
- Học sinh: Môn Toán là môn học khô khan, khó học. Trình độ nhận thức của
học sinh không đồng đều; một số em còn chậm, nhút nhát; kỹ năng tóm tắt còn hạn
chế; chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kỹ bài toán dẫn tới chưa xác định được dạng
toán nên chưa định hướng được cách giải; lựa chọn sai phép tính; chưa bám sát vào
yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính. Kỹ năng tính nhẩm với
các phép tính (hàng ngang) và kỹ năng diễn đạt bằng lời còn hạn chế. Một số em tiếp
thu bài thụ động, ghi nhớ máy móc, chóng quên các dạng bài toán vì thế phải có
phương pháp rèn các kỹ năng giải toán có lời văn, khắc sâu kiến thức từng dạng bài.
8
Sau đây là bảng thống kê kết quả giải toán có lời văn của học sinh đầu năm học
2014 - 2015:
Xác định dạng
Tóm tắt bài
Chọn và thực
Lời giải và đáp
toán
toán
hiện đúng phép
số
Chưa
thành
hoàn
thành
hoàn
thành
hoàn
thành
hoàn
80
thành
27
79
thành
28
75
tính tư duy, suy nghĩ, óc xét đoán có căn cứ, xác định được nội dung yêu cầu của đề
bài để sắp xếp các bước giải, biết tư duy, sáng tạo, cuối cùng là lựa chọn cách giải và
lập kế hoạch giải một cách chính xác. Chúng ta cần có những phương pháp dạy học
phù hợp theo từng nội dung, yêu cầu của từng dạng bài. Qua đó học sinh thấy được
mỗi đề toán là một bức tranh nhỏ của cuộc sống. Khi giải mỗi bài toán, học sinh phải
biết rút ra từ bức tranh ấy cái bản chất toán học của nó, phải biết lựa chọn những phép
tính thích hợp, biết làm đúng các phép tính đó, biết đặt lời giải chính xác,… Vì thế,
quá trình giải toán sẽ giúp học sinh rèn luyện khả năng quan sát, sử dụng Tiếng Việt
và giải quyết các vấn đề của cuộc sống qua con mắt Toán học của mình. Điều đó
chẳng những sẽ giúp các em học tốt môn Toán mà nó còn giúp các em học tốt các môn
học khác. Đó cũng chính là mục tiêu chung của mỗi giáo viên khi dạy học sinh giải
toán có lời văn.
b. Giải pháp chứng minh vấn đề được giải quyết:
9
Để khắc phục tình trạng trên, chúng tôi đã nghiên cứu tìm ra một số giải pháp,
kinh nghiệm dạy học thiết thực để dạy giải toán có lời văn đúng và đạt chất lượng tốt
hơn. Những giải pháp và kinh nghiệm đó cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Đảm bảo quy trình thực hiện khi giải toán có văn: Giải toán có văn đối với học
sinh là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp. Việc hình thành kỹ năng giải bài toán
quan trọng hơn so với kỹ năng tính toán vì bài toán là sự kết hợp đa dạng nhiều khái
niệm, quan hệ toán học,…Chính vì đặc trưng đó mà giáo viên cần phải hướng dẫn cho
học sinh có được thao tác chung trong quá trình giải toán như sau:
+ Bước 1: Đọc kỹ bài toán xác định dạng toán.
Đây là một bước rất quan trọng, giáo viên cần nhắc nhở học sinh đọc kỹ đề,
đọc nhiều lần (đọc thầm trong nhóm). Có đọc kỹ đề bài học sinh mới tập trung suy
nghĩ về ý nghĩa, nội dung của bài toán và đặc biệt chú ý đến câu hỏi của bài toán. Tức
là đọc để xác định đâu là những cái đã cho, đâu là cái phải tìm. Khi học sinh đọc cần
cho các nhóm làm bài vào vở. Bài toán này có một phép tính nhưng có thể có nhiều lời
giải khác nhau mà vẫn phù hợp. Việc cho học sinh tự tìm nhiều lời giải khác nhau có
tác dụng lớn trong việc gây hứng thú cho học sinh, thúc đẩy các em cố gắng tìm tòi,
sáng tạo và rèn óc suy nghĩ linh hoạt, độc lập.
Cần chú ý thử lại (kiểm tra lại) sau khi làm xong phép tính, cũng như thử lại
đáp số xem có phù hợp với đề toán không ? Cũng cần soát lại câu lời giải cho phép
tính xem đã đủ ý và ngắn gọn chưa? phù hợp với đề toán chưa? Việc kiểm tra này
nhằm phân tích cách giải đúng hay sai, sai chỗ nào để sửa chữa. Từ đó giúp các em có
thói quen kiểm tra, đánh giá, sửa bài.
+ Ngoài ra còn có bước khai thác bài toán dành cho học sinh có kiến thức, kỹ
năng: Sau khi giải xong bài toán, cần suy nghĩ xem có thể giải bài toán bằng cách
khác không ? Từ bài toán này có thể rút ra nhận xét gì, kinh nghiệm gì? Từ bài toán
này có thể đặt ra các bài toán khác như thế nào ? Giải chúng ra sao ?
- Trong 4 bước trên, hầu hết các hoạt động đều được làm trên giấy nháp hoặc
nghĩ thầm trong đầu; chỉ riêng việc trình bày bài giải là bắt buộc học sinh phải làm vào
vở (hoặc bài kiểm tra) mà thôi.
- Với một số bài toán đơn giản thì có thể bớt một vài bước hoặc một vài hoạt
động trong các bước trên.
- Riêng phần tóm tắt đề toán, học sinh chỉ cần viết vào bài kiểm tra khi có yêu
cầu; hoặc trong trường hợp:“Phần tóm tắt ấy là một bộ phận không thể thiếu của bài
giải”, nếu thiếu phần tóm tắt ấy thì không thể hiểu được bài giải.
- Đảm bảo yêu cầu thực hành: Lấy thực hành làm hoạt động chính của tiết học.
Lấy sự hình thành kỹ năng giải toán có lời văn (luyện kỹ năng tìm hiểu đề bài toán
xác định dạng toán, tóm tắt bài toán, tìm cách giải bài toán, trình bày bài giải và thử
11
lại kết quả) làm yêu cầu chính của tiết học. Trên cơ sở thầy hướng dẫn, trò tiến hành
các hoạt động học tập để qua đó rút ra lý thuyết của dạng bài toán có lời văn. Nói cách
khác là có sự liên tục, kế tiếp nhau giữa các tiết học giải toán có lời văn, giữa các dạng
- Đơn vị bài toán là gì? (Quả cam)
Bước 3: Lập trình tự giải – tóm tắt
- Học sinh tự hỏi nhẩm lại để khắc sâu và tóm tắt
+ Bài toán cho biết hàng trên có mấy quả cam ? (8 quả cam)
+ Hàng dưới có ít hơn hàng trên mấy quả cam? (3 quả cam)
+ Đề toán hỏi gì? (Hỏi hàng dưới có mấy quả cam)
+ Đơn vị bài toán là gì? (Quả cam)
Bước 4: Tóm tắt (học sinh)
Hàng trên:
8 quả cam
Hàng dưới ít hơn hàng trên: 3 quả cam
Hàng dưới:
… quả cam?
Bước 5: Giải (học sinh)
Số quả cam ở hàng dưới là:
8 – 3 = 5 (quả cam)
Đáp số: 5 quả cam
* Ngoài các bước trên giáo viên cần khắc sâu cho học sinh biết xác định (nhận
dạng) các bài toán thuộc dạng toán gì? Để khi gặp bài toán thì phải biết cách tóm tắt và
giải đúng.
- Bài toán về “nhiều hơn” thì thực hiện phép cộng khi:
+ Đề toán cho biết số thứ nhất. Còn số thứ hai không cho biết mà chỉ nói là
nhiều hơn số thứ nhất. Hỏi số thứ hai.
+ Muốn biết số thứ hai ta phải lấy “số thứ nhất cộng với phần nhiều hơn của
Hòa có mấy bông hoa?
Tóm tắt
Bạn Bình :
Giải
6 bông hoa
Số bông hoa Bình có là:
Bạn Hòa ít hơn bạn Bình : 2 bông hoa
6 - 2 = 4 (bông hoa)
Bạn Bình :
… bông hoa?
Đáp số: 4 bông hoa
- Bài toán về “ Tìm tổng của hai số hạng” (hoặc tất cả) khi:
+ Đề toán cho biết số thứ nhất (số hạng thứ nhất) và số thứ hai (số hạng thứ
hai). Hỏi tất cả hai số (tổng).
+ Muốn tìm tất cả hai số (tổng) thì ta lấy số thứ nhất (số hạng thứ nhất) cộng
với số thứ hai (số hạng thứ hai) thì sẽ tìm được tất cả hai số (tổng).
Ví dụ: Dưới ao có 9 con vịt, trên bờ có 6 con vịt. Hỏi có tất cả bao nhiêu con vịt?
Tóm tắt
Dưới ao
: 9 con vịt
35 – 20 = 15 (học sinh)
14
Nữ
: … học sinh ?
Đáp số: 15 học sinh
- Bài toán về “Tìm số trừ” khi:
+ Bài toán cho biết số bị trừ, không cho biết số trừ, chỉ cho biết hiệu. Hỏi số trừ.
+ Muốn tìm số trừ ta lấy “số bị trừ trừ đi hiệu” thì sẽ tìm được số trừ.
Ví dụ: Một bến xe có 35 ô tô, sau khi một số ô tô rời bến, trong bến còn lại 10 ô tô.
Hỏi có bao nhiêu ô tô rời bến?
Tóm tắt
Có
Giải
: 35 ô tô
Số ô tô rời bến là:
Còn lại : 10 ô tô
35 – 10 = 25 (ô tô)
Rời bến : … ô tô?
Giải
1 can: 3l dầu ăn
Số lít dầu ăn của 7 can có là:
7 can: … lít dầu ăn?
3 x 7 = 21 (l dầu)
Đáp số: 21 l dầu
15
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh xem dữ kiện đã biết là: 1 can: 3l dầu ăn. Dữ
kiện chưa biết (số lít dầu ăn của 7 can).Từ đó học sinh suy nghĩ tìm ra câu lời giải,
thực hiện phép tính, tên đơn vị. Học sinh trình bày vào vở.
Giải
Số lít dầu ăn của 7 can có là :
3 x 7 = 21 (l dầu)
Đáp số: 21 l dầu
- Bài toán về “Giảm đi một số lần”
Ví dụ: Có 18 học sinh xếp thành các hàng, mỗi hàng có 2 bạn. Hỏi xếp được tất cả
mấy hàng?
+ Học sinh tự đọc đề tự trả lời như sau:
+ Một hàng có mấy bạn? (1 hàng có 2 bạn)
+ Có bao nhiêu bạn? (18 bạn)
+ Bài toán hỏi gì? (xếp được tất cả mấy hàng?)
+ Giáo viên tóm tắt cho học sinh quan sát.
Tóm tắt
2 bạn: 1 hàng
Ví dụ: ……… Hỏi con ngỗng cân nặng bao nhiêu ki- lô- gam?
Vậy đơn vị là “kg”
- Giáo viên hướng dẫn học sinh một số dạng toán khi gặp là ta biết thực hiện phép
tính gì?
- Những dạng toán phần tìm “ít hơn, còn lại, kém hơn, thấp hơn, nhẹ hơn, … là thực
hiện phép trừ. Còn dạng phần tìm “tất cả, cả hai, nhiều hơn, mạnh hơn, cao hơn, tính
chu vi hình tam giác, tứ giác, … làm phép cộng.
- Giáo viên cần nhắc học sinh xác định dạng toán cho chính xác.
- Khi trình bày bài giải ta viết các bước sau:
+Viết bài giải.
+ Viết câu lời giải.
+ Viết phép tính và đơn vị (đơn vị để trong ngoặc đơn).
+ Viết đáp số.
- Trình bày bài giải như sau:
Tóm tắt:
1 xe ô tô: 4 bánh xe
7 xe ô tô: … bánh xe?
Bài giải
Số bánh xe của 7 xe ô tô là:
4 x 7 = 28 (bánh xe)
17
Đáp số: 28 bánh xe
+ Các dạng bài toán tiếp nối từ lớp 1 lên lớp 2, lớp 2 nâng cao như (Lớp 1: bài
toán thực hiện phép tính trừ thì dựa vào câu hỏi của bài toán có từ “còn lại”. Ở lớp 2
bài toán thực hiện phép tính trừ có dạng thì dựa vào từ “ít hơn” trong bài toán, (Ví dụ:
bài tập 7a, trang 78, tập 1B, toán 2“ Thùng lớn đựng 50l nước, thùng bé đựng ít hơn
thùng lớn 15l nước. Hỏi thùng bé đựng bao nhiêu lít nước?”, có bài toán thể hiện phép
tính cộng ở lớp 1 thì dựa vào từ “tất cả, cả hai”). Ở lớp 2 bài toán thực hiện phép tính
3 cm
3 cm
Cách 1:
Bài giải
Độ dài đoạn dây đó là:
3 + 3 + 3 =9 (cm).
Đáp số: 9 cm.
Cách 2:
Bài giải
Độ dài đoạn dây đó là:
3 x 3 =9 (cm).
Đáp số: 9 cm.
+ Tập cho học sinh làm quen với thao tác tư duy để phân tích, tổng hợp, so sánh,
trừu tượng hóa, khái quát hóa, cụ thể hóa. Chẳng hạn giáo viên cho học sinh tóm tắt
bài toán bằng hình vẽ, ký hiệu, hoặc ngôn ngữ là dịp để kết hợp các thao tác trừu
tượng hóa và cụ thể hóa. Đồng thời giúp học sinh hiểu với cùng một bài toán, dạng
toán ta có thể tóm tắt bằng nhiều cách khác nhau như: hình vẽ, ký hiệu hoặc ngôn ngữ.
Ví dụ: Hàng trên có 8 quả cam, hàng dưới có ít hơn hàng trên 3 quả cam. Hỏi hàng
dưới có mấy quả cam?
Dạng hình vẽ
+ Cách 1:
6
Hàng trên :
Hàng dưới :
19
gần gũi; phải tôn trọng ý kiến của các em không phê phán vội vàng; phải giúp học sinh
tự tin trong học tập.
20
4. Kết quả so sánh, số liệu mang tính thuyết phục:
- Áp dụng những kinh nghiệm tìm tòi vào giảng dạy toán có lời văn ở khối 2,
chúng tôi thấy kết quả thể hiện khá rõ rệt, hiện tượng học sinh ngại giải toán có lời văn
không còn nữa. Học sinh tập trung hơn, hứng thú hơn, tích cực tìm tòi, kiên nhẫn hơn
trong khi giải. Các em làm bài một cách tự tin, chủ động; lời giải, phép tính, đáp số
đầy đủ và chính xác.
- Dưới đây là kết quả cụ thể đạt được trong từng giai đoạn theo bảng thống kê
sau:
Chọn và
Thời điểm
Xác định
Tóm tắt bài
thực hiện
Lời giải và
dạng toán
toán
phép tính
Chưa
Hoàn
thành
Chưa
áp
Đầu
dụng
năm
TH
Xã
Khối 2
107
80
74.8
Phan
27
25.2
79
16
13.1
85.0
15.0
đề tài
Sau
khi
TH
áp
CHKI
dụng
Xã
Khối 2
107
Phan
95
nhiều hơn đến các đối tượng học sinh chậm kỹ năng, tạo mọi điều kiện thuận lợi để
giúp đỡ các em học tập ngày một tốt hơn.
- Thường xuyên theo dõi việc vận dụng thực hiện đề tài này để so sánh đối chiếu
kết quả, có biện pháp chỉ đạo kịp thời trong việc giảng dạy và đánh giá kết quả học tập
của học sinh từ đó điều chỉnh phương pháp dạy cho thích hợp.
- Trong công tác quản lý ở trường, Ban giám hiệu còn chú trọng việc phối kết hợp
cùng giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp nhằm từng bước nâng cao chất lượng giải toán
có lời văn nói riêng và các môn học khác nói chung.
- Thông qua công tác dự giờ thăm lớp, thường xuyên dự giờ tất cả giáo viên khối 2
khi dạy giải toán có văn, qua đó đánh giá các ưu khuyết điểm của từng giáo viên về
nội dung truyền thụ kiến thức, phương pháp giảng dạy bao quát học sinh…đồng thời
kiểm tra kiến thức, chất lượng học sinh, đánh giá tỷ lệ học sinh đạt yêu cầu và không
đạt yêu cầu trong tiết dạy cụ thể rèn kỹ năng kịp thời.
- Giáo viên chủ nhiệm cùng Ban giám hiệu tăng cường kiểm tra đánh giá kết quả
học tập của học sinh được phản ánh qua kết quả kiểm tra thường xuyên trên lớp sản
phẩm học tập của học sinh, bài kiểm tra định kỳ để đánh giá chính xác.
- Gặp gỡ giáo viên giảng dạy và trao đổi với các em học sinh về một số thuận lợi,
khó khăn khi giảng dạy và học về giải toán có văn, ưu tiên giáo viên trình bày một số
khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phân môn giảng dạy (nêu cụ thể theo tình
hình lớp).
- Qua công tác điều tra từ phía giáo viên, học sinh, phụ huynh, Ban giám hiệu kết
hợp với tổ chuyên môn, giáo viên khối 2 rút ra một số hạn chế cần khắc phục để nâng
cao chất lượng môn Toán nhất là giải toán có lời văn.
- Chỉ đạo cho chuyên môn nhà trường, tổ chuyên môn nghiên cứu nắm sát nội dung
chương trình môn Toán (đặc biệt giải toán có văn) lưu ý một số dạng bài tập khó mà
giáo viên thường gặp khó khăn trong giảng dạy hiệu quả không cao. Từ đó tìm ra
hướng dẫn cách giải sao cho học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu và hình thức tổ chức dạy
học, sinh động trong đổi mới phương pháp dạy học theo mô hình VNEN, phát huy tính
tích cực của học sinh.
- Theo dõi áp dụng, đánh giá kết quả thực hiện các giải pháp đề ra: Sau khi giới
cho học sinh những quyển sách học tốt, sách có bộ đề để các em tham khảo.
- Khen ngợi kịp thời khi các em có tiến bộ.
- Đối với học sinh ghi nhầm đơn vị chúng tôi yêu cầu học sinh khi làm, cần nhìn
vào câu hỏi của bài toán sau từ “mấy, bao nhiêu” hoặc từ đứng cuối câu hỏi của bài
toán là đơn vị bài toán.
- Đối với học sinh tính sai khi làm bài chúng tôi yêu cầu các em đọc kỹ đề bài để
nắm bài toán yêu cầu gì rồi xác định bài toán để giải.
23
- Yêu cầu học sinh phải kiểm tra kỹ lại bài sau khi đã làm xong.
- Khi áp dụng đề tài vào thực tế giảng dạy chúng tôi thấy chất lượng giải toán có
lời văn được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên vẫn còn vài em giải sai, chúng tôi sẽ vận dụng
những khắc phục nêu trên để cuối học kỳ II không còn học sinh giải sai bài toán có lời
văn.
5. Phạm vi áp dụng:
Đề tài đã được áp dụng ở khối 2 của trường Tiểu học Xã Phan. Đồng thời đã
được vận dụng thực hiện vào các tiết dạy chuyên đề và đã áp dụng dạy ở khối 2 của
trường Tiểu học Thị Trấn A đã đem lại hiệu quả cao.
24
III. KẾT LUẬN:
1. Bài học kinh nghiệm:
Để việc dạy và học theo mô hình VNEN đạt được kết quả tốt, mà trong đó việc
hướng dẫn giải đúng các dạng toán có lời văn khối 2 có hiệu quả, trong quá trình dạy
học giáo viên cần lưu ý một số điểm sau:
- Cần nắm vững mục tiêu; yêu cầu; nội dung từng bài dạy, tiết dạy trong quá
trình dạy giải toán có lời văn. Trên cơ sở đó giáo viên bám theo tài liệu hướng dẫn