PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xã hội hiện đại, sức khoẻ được xem như một bộ phận cấu thành
của nền văn hoá xã hội, nó là một mặt quan trọng của chất lượng cuộc sống,
là nguồn tài sản quý báu của mỗi Quốc gia và là sản phẩm phản ánh một cách
khách quan thành tựu của nhiều lĩnh vực khoa học cũng như chất lượng cuộc
sống xã hội.
Ngay từ thời dổ đại Hy Lạp, Thể dục thể thao (TDTT) được xem là một
bộ phận của nền văn hóa, nhằm hoàn thiện con người với quan niệm vận động
là sức khỏe là sức sống. Như nhà triết học Aristos đã khẳng định: “không có
gì hủy hoại sức khỏe bằng sự thiếu vận động kéo dài” hay câu nói của nhà
triết học Platon đã đề cao cái đẹp trong sự phát triển hài hòa: “trong sạch về
đạo đức, phong phú về mặt tinh thần hoàn thiện về mặt thể chất” do TDTT
mang lại. Vậy muốn có sức khỏe thì phải luyện tập TDTT.
Ngày nay trong giai đoạn mới của công cuộc xây dựng đất nước tiến
lên chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn phát huy mạnh mẽ vai trò
tích cực của TDTT. Chỉ thị 36/CT-TW về công tác TDTT nêu rõ: “phát triển
TDTT là một bộ phận không thể thiếu được trong chính sách phát triển kinh
tế xã hội của Đảng và Nhà nước ta nhằm phát huy và bồi dưỡng nhân tố con
người góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực làm phong phú đời sống tinh thần
của nhân dân, nâng cao năng suất lao động và giữ gìn Tổ quốc”. Hay trong
văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nêu rõ: “Đẩy mạnh hoạt
động TDTT nâng cao tầm vóc và thể trạng con người Việt Nam, phát triển
phong trào tập luyện TDTT quần chúng với mạng lưới cơ sở rộng khắp, Đào
tạo đội ngũ Vận động viên thành tích cao, đưa thể thao Việt Nam lên trình độ
chung trong khu vực Đông Nam Á và có vị trí cao trong nhiều môn”.
1
Khi cả nước đang tập trung sức lực, trí tuệ vào công cuộc phát triển
sự phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp trong giảng dạy. Thời gian giảng dạy chính
khoá còn eo hẹp về số giờ lên lớp, mới chỉ đủ để giới thiệu và tập luyện cho
học viên nắm được kỹ thuật các môn thể thao mà thôi. Các bài tập huấn luyện
thể lực còn dàn trải, phần lớn các bài tập phát triển thể lực chung còn chưa
được thống nhất và chưa đủ điều kiện về mặt thời gian và các yếu tố tác động
sinh học cần thiết để học viên phát triển thể lực toàn diện. Đặc biệt là học viên
năm thứ nhất vừa mới dời ghế nhà trường phổ thông, việc tự tập còn mang tính
tự phát, sinh viên chưa có khả năng phân biệt tập luyện như thế nào cho đúng,
làm thế nào để phát triển tốt các tố chất thể lực, lựa chọn những bài tập nào để
phát triển tố chất nào.
Vì vậy, việc cải tiến nội dung và phương pháp giảng dạy, nâng cao
hiệu quả phát triển các tố chất thể lực cho sinh viên nói chung và học viên
năm thứ nhất nói riêng là điều cần thiết đối với thực tế hiện nay, nhằm đảm
bảo thể lực tốt cho sinh viên sẵn sàng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Phát triển tố chất sức mạnh là một vấn đề đã được nhiều người nghiên
cứu, nhưng với thực tế ở trường Cao đẳng Sơn La chưa có một tác giả nào
nghiên cứu vấn đề này. Do vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
ứng dụng bài tập phát triển sức mạnh tốc độ trong môn cầu lông cho sinh
viên TDTT K47 Trƣờng Cao đẳng Sơn La”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng sức mạnh của sinh viên TDTT trường
Cao đẳng Sơn La, từ đó lựa chon ứng dụng bài tập nhằm phát triển sức mạnh
cho sinh viên. Qua đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập
trong nhà trường.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nhiệm vụ 1: Đánh giá việc sử dụng bài tập phát triển sức mạnh tốc
độ trong môn cầu lông cho sinh viên TDTT tại trường Cao đẳng Sơn La.
3
trường Cao đẳng Sơn La. Mặt khác, thông qua phỏng vấn đề tài có được
những kinh nghiệm của đông đảo cán bộ quản lý, thầy cô giáo để lựa chọn các
test nghiên cứu ứng dụng trong quá trình nghiên cứu.
Đối tượng đề tài tiến hành phỏng vấn là các cán bộ quản lý có kinh
nghiệm, giáo viên TDTT, các huấn luyện viên của trung tâm huấn luyện và
sinh viên chuyên ngành TDTT trường Cao đẳng Sơn La.
5.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát sư phạm nhằm quan sát bộc lộ sức mạnh của sinh viên. Là
phương pháp nghiên cứu rất quan trọng và được sử dụng rộng rãi trong
nghiên cứu về huấn luyện và giảng dạy thể thao. Trong đó nhà nghiên cứu
tiếp cận với chính bản thân hiện thực khách quan.
5.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài tiến hành kiển tra sư phạm. Mục
đích của quá trình này nhằm thu thập số liệu về trình độ phát triển sức mạnh
của sinh viên trong thực tế dưới tác động của công tác giảng dạy và học tập
môn cầu lông của sinh viên chuyên ngành TDTT trường Cao đẳng Sơn La.
Cũng như kiểm tra tính thực tiễn, tính khả thi của hệ thống các chỉ tiêu, tiêu
chuẩn các bài tập đã lựa chọn trong quá trình nghiên cứu. Kết quả của phương
pháp này là cơ sở cho việc xác định các tiêu chuẩn đánh giá mức độ phát triển
sức mạnh của sinh viên chuyên ngành TDTT trường Cao đẳng Sơn La.
5.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm được sử dụng trong quá trình
nghiên cứu nhằm xác định hiệu quả các bài tập đã được lựa chọn và ứng dụng
vào thực tiễn giảng dạy để phát triển sức mạnh cho sinh viên. Trong quá trình
nghiên cứu chúng tôi tiến hành thực nghiệm trên 40 nam sinh viên K47 Cao
đẳng TDTT trường Cao đẳng Sơn La. Quá trình tổ chức thực nghiệm được
chúng tôi trình bày ở phần “kết quả nghiên cứu” của đề tài.
2
(với n < 30)
i
n 1
- Độ lệch chuẩn:
2
- Hệ số biến sai:
Cv
x
x
.100%
- So sánh 2 số trung bình quan sát: (t tính)
t
xa xb
c2
na
c2
- Giải quyết nhiệm vụ 2.
6.1.3. Giai đoạn 3: Từ tháng 4/2012 đến tháng 5/2012
- Xử lí các số liệu thu thập được.
- Hình thành kết cấu đề tài và viết từng phần.
- Hoàn thiện đề tài và bảo vệ kết quả nghiên cứu trước hội đồng nghiệm thu.
6.2. Địa điểm nghiên cứu
- Trường Cao đẳng Sơn La.
7
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về công tác Giáo dục thể chất
(GDTC)
Tư tưởng bao trùm của Hồ Chủ Tịch trong việc đặt nền tảng xây dựng
sự nghiệp thể dục thể thao của nước ta là: Khẳng định rõ thể dục thể thao là
một công tác cách mạng, vừa là nhu cầu, vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của
quần chúng, một sự nghiệp của toàn dân, do dân và vì dân. Mục tiêu của thể
dục thể thao là bảo vệ và tăng cường sức khoẻ của nhân dân, góp phần cải tạo
nòi giống Việt Nam, làm cho dân cường, nước thịnh.
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến mục tiêu giáo dục toàn diện
cho thế hệ trẻ, trong đó trí dục, đức dục được coi là những vấn đề hệ trọng
nhằm giáo dục hình thành nhân cách người học sinh - sinh viên - người chủ
tương lai của đất nước, những người lao động phát triển cao về trí tuệ, cường
tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức.
Định hướng về công tác giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ trong
những năm tới, Nghị quyết Trung ương II khoá VIII đã khẳng định: "Giáo
dục đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách
hàng đầu... Chuẩn bị tốt hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỷ XXI... Muốn
xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn
năng sinh lực trong các động tác nhanh). Sức mạnh tốc độ còn được chia nhỏ
tùy theo chế độ vận động mà ta có sức mạnh động lực và sức mạnh hoãn
xung. [27,41].
Ngoài những sức mạnh cơ bản trên, trong thực tiễn và tài liệu khoa học,
chúng ta còn gặp sức mạnh bột phát (sức mạnh bột phát là khả năng con
người phát huy một lực lớn trong khoảng thời gian ngắn nhất).
Trong vận động thể thao, sức mạnh luôn có quan hệ với các tố chất thể
lực khác, cụ thể là sức mạnh và sức bền. Do đó, năng lực sức mạnh được phân
thành 3 hình thức: Năng lực sức mạnh tối đa, năng lực sức mạnh nhanh, năng
10
lực sức mạnh bền. Đồng thời các năng lực sức mạnh này rất có ý nghĩa trong
hoạt động TDTT, có vai trò quyết định đến thành tích của hoạt động. Song
năng lực của sức mạnh nhanh, sức mạnh bền đặc trưng phần lớn cho phần lớn
các môn trong hoạt động TDTT.
Có nhiều có chế sinh lý tạo điều kiện cho sự phát triển sức mạnh bằng
cách cải thiện sự phối hợp hoạt động giữa các chức năng vận động và chức
năng thực vật. Trong đó những cơ chế quan trọng nhất gồm:
- Tăng số lượng đơn vị vận động trong vận động.
- Ức chế hoạt động của các cơ đối kháng.
- Truyền đến cơ những xung động thông qua hệ thần kinh giao cảm.
- Lực căng cơ tối đa phụ thuộc vào số lượng sợi cơ.
Những nghiên cứu thực nghiệm của nhiều tác giả đã chứng minh rằng
trong những phản ứng không điều kiện chỉ có một số sợi cơ co, chứ không
phải tát cả các sợi của cơ co. Huấn luyện để phát triển sức mạnh làm hình
thành ở người những phản xạ có điều kiện cho phép động viên một số lượng
lớn đơn vị vận động vào hoạt động.
Để phát triển sức mạnh tối đa, trong huấn luyện cần phải hình thành
- Làm thế nào để trong mọi tình huống đều có thể phát huy đầy đủ được
sức mạnh đánh cầu lớn nhất.
- Làm thế nào để điều khiển sức mạnh đánh cầu lớn hay nhỏ.
- Làm thế nào sử dụng hợp lý sức mạnh của các bộ phận cơ thể ở từng
tình huống cụ thể khí đánh cầu, tránh sử dụng quá mạnh của các bộ phận cơ
thể và sử dụng quá tập chung vào một bộ phận nào đó làm suy giảm sức mạnh
đánh cầu hoặc tạo thành cục bộ quá sức của cơ thể.
Tầm quan trọng của sức mạnh trong hệ thống cơ rất lớn trong những
lần đánh cầu kéo dài. Thời gian đánh cầu phụ thuộc vào mối quan hệ giữa tốc
độ của cơ thể với cú đánh cầu trực tiếp, tốc độ chậm thì thời gian đánh cầu
chậm. Nếu vận động viên đang di chuyển trực tiếp với cú đánh cầu thì thời
12
gian phụ thuộc vào cú đánh cầu nhanh hay chậm (ở đây muốn nói đến sức
mạnh bột phát của cổ tay). Động tác đánh cầu kết hợp với bật nhảy đánh cầu
thì thời gian tiếp xúc giữa vợt và quả cầu nhanh hơn (khoảng 0,1 đến 0,12
giây). Trong khi nghiên cứu vận động viên của Đan Mạch, người ta đã đo
được sự di chuyển bật nhảy một chân tới vị trí đánh cầu trung bình khoảng
0,52 giây và bật nhảy 2 chân đánh cầu (động tác đập cầu) nhanh hơn vào
khoảng 0,32 giây. Như vậy, thực tế mối quan hệ sức mạnh cơ bắp của 2 chân
lớn hơn khoảng 2 lần so với một chân.
Một trong những yêu cầu đặt ra ở môn cầu lông là việc phát triển thể
lực phải toàn diện, nhưng thực tế sự phát triển trên các cơ bắp của chân, cơ
tay vai, cơ hông của cùng một bên phát triển mạnh, kết quả thực tế cho thấy ở
phía tay cầm vợt cơ bắp lớn hơn và mức độ linh hoạt cao hơn. Vì vậy tay và
vai bên cầm vợt phải được tập luyện nặng hơn trong môn cầu lông (đây cũng
là cơ sở để xây dựng bài tập sức mạnh cho sinh viên chuyên ngành cầu lông).
1.4. Đặc điểm huấn luyện thể lực
1970, Patrerxki 1972, Dietrich Hare 1976) [43,45,46]
Hiện nay tồn tại rất nhiều quan điểm về huấn luyện thể lực, song chúng
tôi cho rằng hệ thống các quan điểm của giáo sư HLV Công Huân CHLB Nga
N.G.Ozolin trình bày trong cuốn “Hệ thống huấn luyện thể thao hiện đại –
NXB – TDTT, Matxcova 1970” là đầy đủ hơn cả. Tác giả cho rằng: “Quá
trình huấn luyện thể lực là việc hướng đến củng cố các hệ thống cơ quan của
cơ thể, nâng cao khả năng chức phận của chúng, đồng thời là việc phát triển
các tố chất vận động (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, léo léo và khả năng phối
hợp vận động)”.
Trong quá trình huấn luyện thể lực, người tập phát triển một cách toàn
diện mà sự phát triển này được gọi là năng lực thể chất. Nó được đánh giá bởi
mức độ phát triển về khả năng sức nhanh, sức mạnh, sức bền, léo léo và khả
năng phối hợp vận động, khả năng làm việc của tất cả các khả năng chức phận
14
của cơ thể. Dưới ảnh hưởng của quá trình chuẩn bị thể lực, sức khỏe của con
người được tăng cường, các hệ cơ quan chức phận của cơ thể được hoàn
thiện. Vì vậy, khả năng tiếp nhận lượng vận động cửa cơ thể cũng được nâng
lên và khả năng phát triển về các tố chất thể lực cũng được nâng lên.
Điểm đặc biệt của quá trình chuẩn bị thể lực là phải củng cố được
những điểm yếu trong cơ thể, những cơ quan chậm phát triển.
Qua tham khảo các nguồn tài liệu, các công trình nghiên cứu của nhiều
chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực lí luận và phương pháp huấn luyện thể
thao trong nước như: Lê Văn Lẫm, Dương Nghiệp Chí, Lê Bửu, Phạm Trọng
Thanh, Nguyễn Thế Truyền, Phạm Danh Tốn. Chúng ta thấy các nhà khoa
học cho rằng: “Quá trình huấn luyện thể lực cho người tập là hướng đến việc
củng cố và nâng cao khả năng chức phận của hệ cơ quan trước lượng vận
động thể lực (bài tập thể chất) và như vậy đồng thời đã tác động đến quá trình
năm, việc sắp xếp một cách có hệ thống về nội dung, tỉ lệ, biện pháp, lượng
vận động…
- Trên cơ sở huấn luyện thể lực toàn diện hướng dần sang chuyên môn
hóa. Ngày nay, xu thế thành tích thể thao không ngừng nâng cao, không dễ
dàng làm cho VĐV bỏ quá nhiều thời gian huấn luyện có hạn của mình với sự
tổn hao thể lực bằng các bài tập huấn luyện không có liên quan gì đến môn
chuyên sâu. Do đó việc sắp xếp huấn luyện thể lực phải tiến hành xoay quanh
đặc điểm của môn chuyên sâu, nhưng dựa vào việc xem xét tới đặc điểm của
môn chuyên sâu cần chú ý sắp xếp một cách toàn diện, thông qua việc huấn
luyện thể lực toàn diện, làm cho năng lực, chức năng của cơ thể VĐV không
ngừng được nâng cao, tạo cơ sở vững chắc cho môn chuyên sâu. Đồng thời
việc chuyển dịch tố chất vận động chuyên môn và kỹ năng cũng cần được xây
dựng trên nền móng tố chất vận động chung, chỉ có cách sắp xếp toàn diện
16
mới có thể tạo nên điều kiện và khả năng làm cho tất cả những gì mà môn
chuyên sâu yêu cầu đều được phát triển đầy đủ.
- Huấn luyện thể lực cần kết hợp với huấn luyện kỹ - chiến thuật. Trong
quá trình huấn luyện thể thao, muốn đạt được thành tích tốt nhất, cần phải
luôn kết hợp các nhân tố tạo thành trình độ vận động, nhằm nâng cao lên
thành một trình độ tương ứng mới, làm cho hiệu quả huấn luyện thu được
luôn luôn có sự kết hợp chặt chẽ với nhau. Huấn luyện thể lực phải lấy huấn
luyện kỹ - chiến thuật làm cơ sở, nắm chắc kỹ thuật tiên tiến là tiền đề phát
huy trình độ huấn luyện thể lực. Huấn luyện thể lực và huấn luyện kỹ - chiến
thuật là sự kết hợp trên hình thức biểu hiện của động tác kỹ thuật.
- Khi sắp xếp huấn luyện thể lực cần xuất phát từ tình hình thực tế của
điều kiện huấn luyện như: Thời gian, môn chuyên sâu, tình trạng sức khỏe của
VĐV và yêu cầu của thi đấu… Huấn luyện thể lực cần tùy theo thời gian mà
đều có một vai trò, ý nghĩa nhất định đối với từng môn thể thao và VĐV khác
nhau.
* Sức mạnh chung: Là nền tảng của toàn bộ chương trình huuaans
luyện sức mạnh, phải tập trung huấn luyện sức mạnh chung trong giai đoạn
huấn luyện ban đầu. Trình độ sức mạnh trung thấp sẽ hạn chế khả năng phát
triển toàn diện, dễ bị chấn thương, cơ thể phát triển không cân đối hay làm
giảm khả năng phát triển cơ bắp.
* Sức mạnh chuyên môn: Là sức mạnh của một nhóm cơ (chủ yếu là
nhóm cơ chính) tham gia vào các hoạt động của một môn thể thao nhất định.
Như thuật ngữ nêu trên, loại sức mạnh này mang đặc thù cho từng môn thể
thao. Vì vậy bất kì sự so sánh nào giữa trình độ sức mạnh chuyên môn ở các
môn thể thao khác nhau đều không có giá trị.
* Sức mạnh tối đa: Đề cập đến lực lớn nhất có thể sản sinh ra bởi hệ
thống thần kinh cơ trong một lần co cơ tối đa. Nó thể hiện bằng trọng lượng
tối đa VĐV có thể nâng được một lần và được hiển thị bằng 100% của tối đa
18
hay một lần lặp lại tối đa. Nó rất quan trọng đối với mục đích huấn luyện vì
biết đươc sức mạnh tối đa của VĐV trong mỗi bài tập là nền tảng để tính toán
trọng lượng cho từng giai đoạn huấn luyện sức mạnh.
* Công suất phát lực hay sức mạnh tốc độ: Là sản phẩm của 2 năng
lực: Sức mạnh và tốc độ, được xem là khả năng phát lực tối đa trong thời gian
ngắn nhất.
* Sức bền cơ bắp hay sức mạnh bền: Được định nghĩa là khả năng của
cơ chịu đựng lượng vận động trong một thời gian dài, được sử dụng chủ yếu
trong các môn thể thao sức bền, là các môn mà khi tập luyện sức bền cơ bắp
cũng sẽ có một sự chuyển tích cực đối với sức bền tim mạch – hô hấp.
Sức mạnh tuyệt đối: Là khả năng sản sinh ra lực tối đa không tính đến trọng
xem xét thực tế chỉ là sức mạnh tích cực tối đa, nó khác với sức mạnh tối đa
sinh lý của cơ mà ta cũng có thể ghi được bằng kích thích điện lên cơ. Sự
khác biệt giữa sức mạnh tối đa sinh lý và sức mạnh tích cực tối đa được gọi là
thiếu hụt sức mạnh. Nó là đại lượng biểu thị tiềm năng về sức mạnh của cơ. Ở
những người có tập luyện sự thiếu hụt sức manh giảm đi.
Sức mạnh tích cực tối đa phụ thuộc vào hai yếu tố chính là:
1. Các yếu tố trong cơ ở ngoại vi: Nhóm cơ này gồm có điều kiện cơ
học của sự co cơ, góc tác động của lực cơ với điểm bám trên xương.
- Chiều dài ban đầu của cơ.
- Độ dày (tiết diện ngang) của cơ.
- Đặc điểm cấu tạo (cơ cấu) của các loại sợi cơ chứa trong cơ.
2. Các yếu tố thần kinh trung ương điều khiển sự co cơ và phối hợp
giữa các sợi cơ và cơ.
Điều kiện cơ học của sự co cơ và chiều dài ban đầu của cơ trước khi co
đã trình bày ở chương trình trên. Đó là các yếu tố kỹ năng của hoạt động sức
mạnh. Hoàn thiện kỹ thuật động tác chính là tạo ra điều kiện cơ học và chiều
dài ban đầu tối ưu cho sự co cơ.
20
Do sức mạnh của cơ phụ thuộc vào tiết diện ngang (độ dày) nên khi tiết
diện ngang tăng lên thì sức mạnh cũng tăng lên. Tăng tiết diện ngang của cơ
do tập luyện thể lực được gọi là phì đại cơ.
Sợi cơ là một tế bào được biệt hóa rất cao. Vì vậy sợi cơ có thể phận
chia để tạo ra tế bào mới, sự phì đại cơ xẩy ra chủ yếu là do các sợi cơ có sẵn
dày lên (tăng thể tích). Khi sợi cơ đã dày lên đến mức độ nhất định, theo một
số tác giả, chúng tách dọc ra để có thể tạo thành những sợi còn có cùng một
đầu gân chung với sợi cơ mẹ. Sự tách sợi cơ đó có thể gặp khi tập luyện sức
mạnh nặng và lâu dài.
động, tức là mức độ phát xung động với tần số cao. Như đã biết, sức mạnh tối
đa phụ thuộc vào số lượng đơn vị vận động tham gia vào hoạt động. Vì vậy để
phát lực lớn hệ thần kinh phải gây hưng phấn đó phải không quá lan rộng để
không gây hưng phấn các sợi cơ đối kháng. Tức là phải tạo ra sự phối hợp
giữa các nhóm cơ của thần kinh trung ương. Các yếu tố này làm tăng cường
sức mạnh chủ động tối đa đáng kể.
Trên cơ sở các yếu tố nêu trên, cơ sở sinh lý của phát triển sức mạnh là
tăng cường số lượng đơn vị vận động tham gia vòa hoạt động, đặc biệt là các
đơn vị vận động nhanh, chức các sợi cơ nhóm II có khả năng phì đại cơ lớn.
Để đạt được điều đó, trọng tải phải lớn để gây được hưng phấn đối với các
đơn vị vận động nhanh có ngưỡng hưng phấn thấp. Trọng tải đó phải không
nhỏ hơn 70% sức mạnh tối đa.
1.7. Đặc điểm huấn luyện sức mạnh và những yếu tố chi phối sức mạnh
1.7.1. Đặc điểm huấn luyện sức mạnh
Các bộ môn và các môn thể thao khác nhau đặt ra những yêu cầu rất
khác biệt về tố chất sức mạnh. Trong vận động thể thao sức mạnh luôn có
quan hệ với các tố chất thể lực khác, cụ thể là với sức nhanh và sức bền. Do
đó, các năng lực sức mạnh được phân thành 3 hình thức chính: Năng lực sức
mạnh tối đa, năng lực sức mạnh – nhanh và năng lực sức mạnh – bền. Hai
22
hình thức sau là các năng lực sức mạnh đặc trưng cho phần lớn các bộ phận
thể thao. Theo nghĩa rộng năng lực sức mạnh tối đa có thể là năng lực xác
định thành tích (ví dụ như trong môn cử tạ), tuy nhiên nếu quan sát một cách
chính xác thì năng lực sức mạnh tối đa là một đại lượng đo lường cho phần
sức mạnh của sức mạnh nhanh hoặc của sức mạnh bền.
Năng lực sức mạnh tối đa: là sức mạn cao nhất mà vận động viên
(VĐV) có thể thực hiện khi co cơ tối đa và theo ý muốn. Người ta cần các giá
huấn luyện sức mạnh bền phải hướng nhiều vào nâng cao các thành phần sức
bền, hay phải hướng vào nâng cao sức mạnh tối đa. Sức mạnh bền cũng có ý
nghĩa trong các môn thể thao có động tác không chu kì chiếm ưu thế. Những
môn này đặt ra những yêu cầu cao về sức mạnh và sức bền cả trong tập luyện
lẫn thi đấu.
1.7.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức mạnh
Tố chất sức mạnh được biểu hiện ra thông qua hoạt động cơ bắp. Sự
biểu hiện này không giống với các hoạt động của cơ bắp của các tố chất khác
mà mang tính chất đặc thù. Nhân tố ảnh hưởng đến tố chất sức mạnh là:
* Cường độ và tần số xung động của hệ thần kinh trung ương : Trạng
thái chức năng của hệ thần kinh trung ương có ảnh hưởng trực tiếp đến sức
mạnh của cơ bắp. một mặt hệ thần kinh trung ương có điều động tới sợi cơ
tham gia vào hoạt động, mặt khác thần kinh vận động góc trước cột sống đối
với cơ bắp phat ra xung động cường độ lớn, tần số cao thì cơ bắp đó sản sinh
ra sức mạnh lớn nhất từ 5 – 6 lần/phút, đạt 45 – 50 lần/phút.
* Cấu trúc hình thái tổ chức của cơ bắp:
- Các loại hình sợi cơ, độ lớn nhỏ của sức mạnh cơ bắp được quyết định
bởi tỉ lệ phần trăm loại hình sợi cơ. Loại hình sợi cơ chia ra: Sợi cơ màu sẫm
(sợi cơ chậm), sợi cơ sáng (sợi cơ nhanh và sợi cơ trung gian). Khả năng trao
đổi chất yếm khí của sơi cơ có màu sáng lớn hơn rất nhiều so với sợi cơ màu
24
sẫm, do đó tố chất sức mạnh chủ yếu là do sợi cơ màu sáng quyết định. Vì thế
tỷ lệ sợi cơ màu sáng cao thì sức mạnh lớn.
- Mặt cắt ngang sinh lí của cơ bắp: Sức mạnh tuyệt đối của cơ bắp được
quyết định bởi mặt cắt sinh lý của cơ bắp. Bề mặt cắt ngang sinh lý của cơ
bắp là tổng mặt cắt nganh của tất cả các sợi cơ. Mặt cắt ngang của mỗi sợi cơ
to ra thì bề mặt cắt ngang sinh lý của cơ bắp cũng căng to ra. Do đó sức mạnh