Quản lý đào tạo cao cấp lý luận CT cho cán bộ dân tộc thiểu số tại học viện CTQGTPHCM trong bối cảnh hiện nay - Pdf 34

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quan điểm về cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã được các nhà kinh
điển chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập ngay từ những thập kỷ cuối thế kỷ XIX.
Kế thừa những quan điểm đó, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất
nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặc biệt quan
tâm đến công tác cán bộ, trong đó có cán bộ dân tộc thiểu số (DTTS). Ngày
02/01/1983, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Quyết định số
15/BBTTW về công tác trường đảng nêu rõ nhiệm vụ đào tạo cán bộ cho các
Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc I, II, III: “Đào tạo những cán bộ theo các
chức danh: bí thư, phó bí thư, chủ tịch ủy ban nhân dân, các trưởng ban của
Đảng ở huyện, quận và thị xã, bí thư đảng ủy các xí nghiệp quốc doanh, các
bệnh viện, trường học và các đảng bộ tương đương, ngoài diện trường đảng
cao cấp Nguyễn Ái Quốc phụ trách. Thành lập hai hệ đặc biệt ở hai trường
Nguyễn Ái Quốc I và Nguyễn Ái quốc III, chuyên trách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ lãnh đạo cấp huyện thuộc dân tộc thiểu số. Ban Dân tộc Trung ương giúp đỡ
các trường làm tròn nhiệm vụ này”[10] đã đánh dấu một bước ngoặc quan trọng
thể hiện sự quan tâm của Đảng đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc
biệt là cán bộ DTTS.
Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh
những thời cơ nhưng cũng tiềm ẩn không ít những nguy cơ, thách thức đã ảnh
hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội và ổn định quốc phòng an ninh
các địa phương vùng dân tộc miền núi. Vấn đề nâng cao trình độ, năng lực cho
đội ngũ cán bộ DTTS nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội
vùng dân tộc miền núi có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Điều này đồng nghĩa với
việc cán bộ DTTS phải có trình độ học vấn cơ bản, hiện đại, am hiểu chuyên
môn nghiệp vụ, đồng thời phải nắm vững tri thức lý luận và có kinh nghiệm thực
tiễn trong lãnh đạo, quản lý và vấn đề trang bị trình độ lý luận chính trị (LLCT)
trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết để họ có thể nâng cao nhận thức

tạo cán bộ chưa mang tầm chiến lược; nội dung chương trình chưa thật sự phù
hợp với đối tượng về mặt bằng trình độ, nhận thức, yếu tố tâm lý, phong tục,


3
tập quán; đội ngũ giảng viên (GV) chưa được cập nhật thường xuyên về nội
dung, phương pháp giảng dạy; cơ sở vật chất- kỹ thuật (CSVC-KT) còn thiếu
đồng bộ; một bộ phận học viên (HV) chưa tìm ra phương pháp học tập và
nghiên cứu tốt nhất. Nguyên nhân của những bất cập nói trên một phần do
công tác quản lý đào tạo còn nhiều hạn chế: quản lý chương trình đào tạo chưa
đi sâu vào đối tượng đào tạo là cán bộ DTTS; kế hoạch đào tạo còn bị động;
đội ngũ GV có trình độ chuyên môn cao nhưng nghiệp vụ sư phạm chưa đáp
ứng được yêu cầu; công tác quản lý HV còn xem nhẹ; sự phối hợp quản lý đào
tạo giữa các cấp thẩm quyền chưa đồng bộ. Những nguyên nhân nói trên đã
ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo cán bộ DTTS nhằm tăng cường
NLHĐTT trong bối cảnh hiện nay.
Xuất phát từ mục đích có tính cấp thiết đó, tôi chọn nghiên cứu đề tài:
Quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ dân tộc thiểu số tại Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng, đề xuất những giải
pháp quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS nhằm nâng cao
NLHĐTT cho đội ngũ này tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Tổng quan vấn đề nghiên cứu về đào tạo và quản lý đào tạo Cao cấp
LLCT cho cán bộ DTTS.
- Hệ thống hóa và xây dựng lý luận về quản lý đào tạo Cao cấp LLCT
cho cán bộ DTTS.
- Khảo sát đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo Cao cấp LLCT
cho cán bộ DTTS ở Học viện CTQG Hồ Chí Minh

- Về nội dung: Chủ yếu giới hạn ở các nội dung quản lý đào tạo Cao
cấp LLCT cho cán bộ DTTS khu vực Miền Trung - Tây Nguyên
- Về không gian: Nghiên cứu tổng quan về đào tạo LLCT cho cán bộ
DTTS trong nước và quốc tế; nghiên cứu, đánh giá, khảo sát sâu công tác


5
quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS tại Học viện Chính trị khu
vực III, trực thuộc Học viện CTQG Hồ Chí Minh.
- Về thời gian: Nghiên cứu công tác quản lý đào tạo chương trình Cao
cấp LLCT cho cán bộ DTTS từ năm 2007 đến năm 2014. Phương hướng, giải
pháp đến năm 2020.
7. Phương pháp nghiên cứu
a. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Luận án dựa trên cơ sở hệ thống các quan điểm khoa học của Đảng
Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ.
Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp các tư liệu, đặc biệt là các
văn kiện, văn bản, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các tài liệu
và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có nội dung liên quan đến
luận án được xuất bản hoặc công bố trên các tạp chí, sách, kỷ yếu hội thảo để
xác định cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu.
b.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Luận án vận dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu khoa học liên
ngành và chuyên ngành, trong đó chú trọng kết hợp các phương pháp:
- Phương pháp tổng kết thực tiễn: Tổng hợp các số liệu về công tác
quản lý đào tạo cán bộ DTTS qua quá trình nghiên cứu thu thập được từ các
hồ sơ lưu, báo cáo tổng kết, đánh giá công tác quản lý đào tạo cán bộ DTTS
làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý đào tạo cho đối tượng này.
- Phương pháp điều tra:

cán bộ DTTS là nhiệm vụ chính trị mang tầm chiến lược của Đảng và Nhà
nước, trong đó có vai trò trách nhiệm của hệ thống Học viện chính trị.
- Để cán bộ DTTS đảm đương được nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước
giao phó trong giai đoạn hiện nay, cần phải đặc biệt chú trọng công tác quản
lý đào tạo Cao cấp LLCT nhằm tăng cường NLHĐTT cho cán bộ DTTS.
- Quản lý quá trình đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS nhằm
nâng cao NLHĐTT phải được quán triệt chặt chẽ, đồng bộ từ khâu phát triển
chương trình đào tạo, kế hoạch hóa công tác HV, phát triển đội ngũ GV theo yêu


7
cầu chuẩn hóa đội ngũ, hoàn thiện cơ sở vật chất và xây dựng cơ chế phối hợp
quản lý một cách hệ thống.
9. Những đóng góp mới của luận án
- Luận án làm rõ thêm nội hàm của một số khái niệm: năng lực,
NLHĐTT, cán bộ DTTS, cao cấp LLCT.
- Luận án chỉ ra yêu cầu khách quan về đổi mới công tác quản lý đào
tạo nhằm tăng cường NLHĐTT cho cán bộ DTTS.
- Xác định các nội dung quản lý đào tạo Cao cấp LLCT nhằm tăng
cường NLHĐTT cho cán bộ DTTS.
- Thông qua phương pháp nghiên cứu thực tiễn, luận án đánh giá thực
trạng công tác quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS, xác định những
yếu kém, hạn chế và nguyên nhân của công tác này trong bối cảnh hiện nay.
- Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp quản lý
đào tạo Cao cấp LLCT nhằm tăng cường NLHĐTT cho cán bộ DTTS.
10. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận án kết cấu làm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị
cho cán bộ dân tộc thiểu số tại các Học viện chính trị và kinh nghiệm quốc tế

hay vấp váp. Có lý luận thì mới hiểu được mọi việc trong xã hội, trong phong
trào để chủ trương cho đúng, làm cho đúng”[55, tr.357]. Cán bộ được huấn
luyện sau khi học “họ có thể tự mình tìm ra phương hướng chính trị, có thể
làm những công việc thực tế, có thể trở nên người tổ chức và lãnh đạo” [82,
tr.55]. Kế hoạch mở lớp phải hợp lý, phân cấp đào tạo phải phù hợp “mở lớp
nào cho ra lớp ấy; lựa chọn người dạy và người học cho cẩn thận; đừng mở
lớp lung tung” [55, tr.363]. Người huấn luyện phải thực sự có chuyên môn
sâu, có tinh thần phấn đấu không ngừng trong học tập để phục vụ sự nghiệp


9
giáo dục “người huấn luyện của Đoàn thể phải làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư
tưởng, đạo đức, lề lối làm việc” [56 tr.356] và “phải học thêm mãi thì mới làm
được công việc huấn luyện của mình... người huấn luyện nào tự cho là mình
biết đủ cả rồi, thì người đó dốt nhất”[55, tr.356]. Đối tượng huấn luyện trước
hết phải là cán bộ, nhất là cán bộ có chức, có quyền, cán bộ lãnh đạo chủ chốt
của Đảng, của Nhà nước và các tổ chức đoàn thể ở địa phương. Nội dung
huấn luyện bao hàm trên tất cả các mặt về lý luận chính trị, chuyên môn
nghiệp vụ và rèn luyện tư cách phẩm chất đạo đức, chú trọng đến huấn luyện
lý luận chính trị về thế giới quan, nhân sinh quan đúng đắn mà tiêu biểu đó là
chủ nghĩa Mác - Lênin; nội dung chương trình đào tạo phải thiết thực, ngắn
ngọn, phù hợp với nhận thức của cán bộ DTTS; phương pháp đào tạo luôn
luôn chú ý đến lý luận liên hệ với thực tiễn “thực tiễn mà không có lý luận
hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực
tiễn là lý luận suông”[57, tr.73]. Đối với cán bộ DTTS, phương pháp đào tạo
phải đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, không rập khuôn, máy móc,
các dân tộc khác nhau, phương pháp đào tạo cũng khác nhau “một tỉnh có
đồng bào Thái, đồng bào Mèo thì tuyên truyền, huấn luyện đối với đồng bào
Thái khác, đồng bào Mèo khác”[57, tr.303].
Những quan điểm trên của Bác đã trở thành những bài học vô cùng giá

miền núi, vùng dân tộc và đổi mới chính sách giáo dục - đào tạo đối với cán
bộ DTTS trong giai đoạn hiện nay.
Cuốn sách “Một số vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt
cấp huyện người các dân tộc Tây Nguyên” [59] do Lê Hữu Nghĩa chủ biên.
Công trình nghiên cứu sâu về xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ DTTS
khu vực Tây Nguyên trên cơ sở phân tích thực trạng, rút ra một số kinh
nghiệm và đề xuất các giải pháp, trong đó có đề cập đến giải pháp tăng cường
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ như: cụ thể hóa mục tiêu đào tạo phù hợp
với yêu cầu của đối tượng và thực tiễn tình hình ở Tây Nguyên; đổi mới nội
dung, phương thức đào tạo đảm bảo tính hệ thống, cơ bản, hiện đại và thiết
thực giữa tri thức lý luận và tri thức kinh nghiệm, giữa lý luận và thực hành;


11
tăng cường các điều kiện đảm bảo cho quá trình đào tạo; hoàn thiện cơ chế
phối hợp và thực hiện chế độ chính sách ưu tiên đối với cán bộ DTTS.
Cuốn sách “Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền
núi phía Bắc nước ta hiện nay”[68] của tác giả Lô Quốc Toản đã phản ánh
những thành tựu của phát triển nguồn cán bộ DTTS thông qua việc khôi phục
và phát triển các trường dân tộc phổ thông nội trú, thực hiện chế độ cử tuyển
học sinh DTTS vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp. Thực trạng công
tác phát triển nguồn cán bộ này còn gặp nhiều khó khăn, bất cập về nhận thức,
cơ chế, chính sách cũng như đầu tư cho công tác đào tạo nhằm nâng cao trình
độ của đội ngũ cán bộ DTTS. Giải pháp tác giả đề ra là: tiếp tục củng cố và
hoàn thiện hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú; nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng tuyển sinh, chất lượng đào tạo dự bị
đại học, hệ cử tuyển của các trường đại học, cao đẳng ở miền núi phía Bắc;
quản lý chặt chẽ nguồn cán bộ DTTS từ cơ sở và làm tốt công tác qui hoạch
đội ngũ này ở tất cả các cấp, các ngành, lĩnh vực, kết hợp với phát hiện, bồi
dưỡng nhân tài; thực hiện phân cấp phối hợp giữa các cấp, các ngành để phát

mới nội dung, chương trình, phương pháp cho phù hợp với đối tượng và điều
kiện thực tiễn theo vùng, miền; gắn công tác đào tạo với công tác qui hoạch
cán bộ của địa phương; tăng cường bồi dưỡng kiến thức cho GV nhằm phục
vụ tốt cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ DTTS. Công trình có giá trị
tham khảo nhất định trong vấn đề xác định yêu cầu và vai trò của công tác
đào tạo LLCT đối với cán bộ nói chung và cán bộ DTTS ở từng khu vực miền
núi nói riêng.
Tổng quan đề tài cấp Bộ “Những căn cứ lý luận và thực tiễn xác định
nội dung, chương trình đào tạo cán bộ chủ chốt cơ sở miền núi đáp ứng yêu
cầu của cách mạng trong giai đoạn hiện nay”[79] của Trần Ngọc Uẩn nhấn
mạnh việc xây dựng nội dung, chương trình đào tạo cho cán bộ chủ chốt cơ sở
miền núi phải phù hợp với đối tượng đào tạo và sát với thực tiễn miền núi. Bổ
sung nghiên cứu trên, tác giả có công trình “Phương thức đào tạo cán bộ ở
các trường chính trị tỉnh, thành phố trong thời kỳ mới”[80] nghiên cứu sâu về
vị trí, vai trò, đối tượng đào tạo và chương trình đào tạo cán bộ cơ sở hiện nay


13
theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII), trong đó nổi bật là công
tác tổ chức đào tạo thí điểm ở một số Trường chính trị đối với “chương trình
đào tạo cán bộ lãnh đạo cơ sở miền núi”, “chương trình đào tạo cán bộ lãnh
đạo cấp cơ sở ở Tây Nguyên”. Từ những hạn chế về chương trình đào tạo; đội
ngũ GV; cơ sở vật chất - kỹ thuật; chế độ chính sách, tác giả đề xuất các giải
pháp: thực hiện “đào tạo cơ bản”, “bồi dưỡng theo chức danh” cho cán bộ cơ
sở; rà soát hệ thống chương trình đào tạo tiến tới xây dựng và ban hành hệ
thống chương trình đào tạo thống nhất; điều chỉnh hình thức đào tạo và đổi
mới phương pháp giảng dạy; tăng cường công tác quản lý dạy và học; bồi
dưỡng nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ GV; tăng cường đầu tư nhân lực,
vật lực phục vụ cho công tác đào tạo.
Cuốn sách “Một số vấn đề về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh

đặc thù trong hệ thống chính trị. Từ việc nghiên cứu lý luận và thực trạng hoạt
động đào tạo tác giả đưa ra định hướng và quan điểm đổi mới quản lý hoạt
động đào tạo ở Học viện trong bối cảnh hiện nay, tuy nhiên xét tổng thể về
mối quan hệ đào tạo cũng như chức năng, nhiệm vụ của Học viện, tác giả
chưa đề cập đến đối tượng đào tạo là cán bộ DTTS, những bất cập trong quản
lý đào tạo đối tượng này đang là vấn đề cần được quan tâm đối với các cơ sở
đào tạo trong hệ thống Học viện chính trị.
Đề tài cấp Bộ “Nâng cao chất lượng, hiệu quả các mặt công tác đào tạo bồi
dưỡng cán bộ của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh ( 20102020)”[74] của Tạ Ngọc Tấn đã tập trung làm rõ cơ sở phương pháp luận về
các vấn đề liên quan đến việc đánh giá và đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị trong xu thế đổi mới của đất
nước; đề xuất hệ thống các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng công
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo phân cấp đào tạo.
Ngoài ra, còn các công trình nghiên cứu về chất lượng và hiệu quả công
tác đào tạo cán bộ ở hệ thống Học viện như: “Qui mô và hình thức đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Học viện”[76] của Phí Ngọc Tiếp;
"Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí


15
Minh - Thực trạng và giải pháp phát triển”[53] do Hà Lan làm chủ nhiệm
(2004-2006); “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo ở Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh- vấn đề và kinh nghiệm”[48] của Vũ Nhật Khải;
“Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”[67] của Nguyễn Phú
Trọng - Trần Xuân Sầm; “Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống trường chính trị, trường đoàn
thể ở Trung ương hiện nay”[77] của Phạm Quang Thọ, tuy nhiên, các công
trình trên chủ yếu đề cập đến việc nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ nói
chung trong hệ thống Học viện chưa đề cập sâu chất lượng đào tạo cán bộ

những kinh nghiệm của thế giới; chú trọng nâng cao năng lực tư duy sáng tạo và
tầm nhìn chiến lược trong xu thế phát triển của thế giới, tăng cường các kỹ năng
lãnh đạo, quản lý cho công chức nhà nước. Đối với các chương trình dành cho
quan chức cấp cao của Nhà nước, chú trọng tăng cường năng lực tổ chức thực
hiện, năng lực huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm thúc đẩy sự
phát triển của đất nước...
Nhìn chung, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung và cán bộ
DTTS được nhiều công trình tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên,
quản lý đào tạo cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS ở Học viện CTQG Hồ Chí
Minh chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, những tiếp cận nghiên
cứu trên sẽ giúp chúng tôi kế thừa có chọn lọc nhằm từng bước hoàn thiện đề
tài nghiên cứu góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo cán bộ DTTS ở
Học viện CTQG Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý
Quản lý là tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển các hoạt động xã
hội và hành vi của con người nhằm đạt được mục đích của người quản lý và
phù hợp với qui luật khách quan. C.Mác coi quản lý là một đặc điểm vốn có
và bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội “tất cả mọi lao động xã hội trực
tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên một qui mô tương đối lớn, thì ít
nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân


17
và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ
thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một
người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần
phải có nhạc trưởng”[8,tr. 480].
Harold Koontz, tác giả người Mỹ cho rằng: “Quản lý là một hoạt động
thiết yếu nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, đào tạo có nghĩa là “dạy dỗ, rèn luyện để
trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp”[27, tr.593]. Theo Từ điển Giáo
dục học, đào tạo là “quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp
những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo, đồng thời bồi
dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học
đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng và bảo vệ đất
nước”[71, tr.76].
Đào tạo còn được hiểu đó là quá trình tác động đến con người làm cho
người đó nắm vững tri thức, kỹ năng, thái độ một cách hệ thống, có khả năng
thực hiện có hiệu quả những hoạt động nghề nghiệp nhất định. Khái niệm đào
tạo có những điểm khác biệt so với khái niệm giáo dục, giáo dục mang một ý
nghĩa chung, phản ánh quá trình truyền thụ, lĩnh hội tri thức của loài người,
qua đó làm biến đổi nhân cách; còn đào tạo là hoạt động được qui định về
phạm vi, cấp độ, cấu trúc, qui trình một cách chặt chẽ với những hạn định cụ
thể về mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo và có hệ thống cho mỗi khoá
học với những thời gian, trình độ và tính chất cụ thể. Quá trình này được tiến
hành ở các cơ sở giáo dục đào tạo khác nhau, tuỳ từng cấp học, thời gian học và
nội dung đào tạo của mỗi khoá học, người học sẽ được cấp bằng tốt nghiệp
tương ứng với trình độ, chương trình đã đào tạo nếu đạt được những yêu cầu của
khóa học, về tính chất, đào tạo là một thuộc tính cơ bản của quá trình giáo dục.
Ngày nay, đào tạo không còn là quá trình chuyển giao một chiều mà
bằng những phương tiện dạy - học hiện đại. Các cơ sở đào tạo tiến hành đổi
mới phương pháp giảng dạy giúp người học chủ động tích cực, tự chiếm lĩnh
và trang bị tri thức cho bản thân, đó là quá trình đào tạo được chuyển biến
thành quá trình tự đào tạo của người học. Chất lượng đào tạo sẽ đạt được hiệu


19
quả tốt nhất nếu quá trình đào tạo chuyển biến theo phương thức này, người
học sẽ được truyền đạt những kinh nghiệm, được mở rộng tầm hiểu biết và

xác định rõ đối tượng quản lý, các thành tố liên quan vận dụng vào lĩnh vực
đào tạo, có thể hiểu: Quản lý đào tạo là quá trình tác động có mục đích, có tổ
chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng việc vận dụng các chức
năng và phương tiện quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra.
1.2.4. Cao cấp lý luận chính trị
Lý luận chính trị là một khái niệm mang nghĩa rộng, theo từ điển Giáo
dục học, lý luận là “hình thức cao nhất của tư duy khoa học, là hệ thống các
khái niệm, các phạm trù, các qui luật phản ánh những thuộc tính cơ bản,
những mối liên hệ của các sự vật trong thực tiễn. Lý luận là yếu tố cấu trúc cơ
bản của khoa học, nó liên kết những sự việc, những vấn đề, những giả định,
những phương pháp nhận thức v.v…thành một thể thống nhất”[71, tr. 236].
Theo Chủ Tịch Hồ Chí Minh, “lý luận là đem thực tế trong lịch sử,
trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ
ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận
chân chính”[54, tr.237].
Xét về bản chất lý luận có thể hiểu đó là hệ thống những tri thức được
khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn phản ánh những mối quan hệ bản chất, tất
nhiên mang tính qui luật của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan và
được biểu đạt bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, qui luật.
Chính trị là một lĩnh vực đặc biệt, phức tạp, liên quan đến lợi ích trực
tiếp của các giai cấp và các lực lượng trong xã hội nên có nhiều cách tiếp cận
khác nhau: Theo Từ điển Bách khoa thư Hà Nội, chính trị theo nghĩa chung
nhất đó là “tất cả các hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân
tộc, quốc gia và các tập đoàn xã hội xoay quanh một vấn đề trọng tâm, là
giành, giữ và sử dụng chính quyền Nhà nước”[73, tr.17]. Theo Đại Từ điển
Tiếng Việt, chính trị được hiểu là “những vấn đề về điều hành bộ máy nhà
nước hoặc những hoạt động của giai cấp, chính đảng nhằm giành hoặc duy trì
quyền điều hành nhà nước”[27, tr.369].



về cơ cấu, năng lực công tác nhưng vị trí, vai trò của họ lại ảnh hưởng rất lớn
đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội, ổn định an ninh quốc phòng vùng dân


23
tộc miền núi. Đặc biệt, đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là cán bộ
DTTS công tác ở các cơ quan cấp huyện thị và tương đương thuộc đối tượng
đào tạo cao cấp LLCT tại các Học viện chính trị lại có vị trí, vai trò hết sức
quan trọng:
+ Cán bộ DTTS là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò chủ đạo trong quá
trình xây dựng tổ chức bộ máy chính quyền địa phương vùng miền núi vững
mạnh. Đối với vùng miền núi đông đồng bào dân tộc sinh sống thì vai trò của
cán bộ DTTS không thể thiếu trong bất cứ lĩnh vực công tác nào. Họ là những
trụ cột, là những người tham gia điều hành tổ chức bộ máy ở cơ sở và góp
phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị do Đảng và nhân dân giao phó. Bộ máy
chính quyền địa phương đang dần dần được cải cách và hoàn thiện, đội ngũ
cán bộ đoàn kết, nhất trí xây dựng phong trào cách mạng quần chúng ngày
càng sâu rộng. Là lực lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý tại chỗ, cán bộ DTTS
sống và làm việc, có quan hệ gần gũi với nhân dân, điều này càng khẳng định
hơn vị trí, vai trò cán bộ DTTS. Để phát huy vị thế của cán bộ DTTS đối với
công tác lãnh đạo, quản lý tại địa phương vùng đồng bào dân tộc, cần đặc biệt
quan tâm đối với đội ngũ cán bộ DTTS để họ thực sự là lực lượng “nòng cốt”
đi đầu trong công tác xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, xã hội, ổn định
an ninh quốc phòng ở địa phương trong giai đoạn hiện nay.
+ Cán bộ DTTS đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, thực hiện
thắng lợi chủ trương, đường lối Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở
địa phương vùng dân tộc miền núi. Vai trò này của cán bộ DTTS thể hiện rõ
qua thực tiễn đạt được trên các mặt của đời sống xã hội ở địa phương vùng
dân tộc miền núi trong nhiều năm qua. Với trách nhiệm và vai trò của mình,
họ đã góp phần xây dựng kế hoạch, phương hướng nhiệm vụ, đôn đốc, kiểm

chỉ đạo xây dựng tình đoàn kết các dân tộc ở địa phương.
+ Cán bộ DTTS là những người có khả năng tuyên truyền, vận động,
thuyết phục đồng bào dân tộc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đây là thế mạnh của đội ngũ cán bộ
DTTS hiện nay, đa số cán bộ DTTS tham gia công tác trong các tổ chức chính
quyền ở địa phương là những người có uy tín, tiếng nói của họ có ảnh hưởng


25
to lớn đến tình cảm và nhận thức của người dân. Do thấu hiểu phong tục tập
quán, ngôn ngữ đồng bào địa phương nên cán bộ DTTS có thể đi sâu, đi sát
nắm bắt đời sống, tâm tư, nguyện vọng của người dân và có phương pháp vận
động, thuyết phục đồng bào thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, giữ vững trật tự an ninh xã hội, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp
luật, giúp đồng bào tin tưởng vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước và tham gia, cống hiến sức mình cho sự nghiệp xây
dựng và phát triển địa phương.
1.3.1.3. Đặc điểm cán bộ dân tộc thiểu số
Cán bộ DTTS ở nước ta chủ yếu sinh sống ở các vùng trọng điểm như
Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ và một số tỉnh miền núi trên cả nước.
Theo số liệu điều tra dân số và nhà ở Việt Nam ngày 1/4/2009, DTTS ở nước
ta có trên 12,2 triệu người trong tổng số 85,5 triệu người, chiếm tỷ lệ 14,3%
dân số. Trong số đó, các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, DTTS
số chiếm 78,56% và phân bố theo tỷ lệ: các tỉnh miền núi Tây Bắc chiếm tỷ lệ
54,68%; Tây Nguyên chiếm tỷ lệ 35,29%; đồng bằng sông Cửu Long chiếm
tỷ lệ 13,84%.
Liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài, miền Trung -Tây Nguyên
là khu vực có số lượng lớn đồng bào các dân tộc sinh sống, tập trung ở các
tỉnh có các huyện miền núi như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế,
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên và các tỉnh Tây Nguyên. Riêng các tỉnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status