Bước đầu tìm hiểu vai trò của phong trào phật giáo đối với cách mạng miền nam việt nam thời kỳ 1954 1975 - Pdf 34

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, giáo lý của Phật giáo
đề cao bình đẳng, bác ái, cứu khổ, cứu nạn… rất gần gũi với tín ngưỡng, văn
hóa truyền thống của cư dân Việt Nam nên dễ dàng được cư dân Việt Nam
chấp nhận.
Trải qua quá trình lịch sử gần 20 thế kỷ, Phật giáo đóng vai trò tích cực
trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Các Phật tử luôn ý thức được
"trước khi trở thành người con Phật, Phật tử là người dân của một nước".
Cho nên, việc bảo vệ và xây dựng đất nước phải được đặt lên hàng đầu. Chỉ
khi nào đất nước được hòa bình, nhân dân được ấm no, hạnh phúc thì Phật
giáo mới phát triển được con đường thực nghiệm tâm linh, phát huy chánh
đạo. Muốn vậy Phật giáo phải "tồn tại trong lòng dân tộc", cùng dân tộc đi
qua bao khúc quanh của lịch sử, chịu đựng bao nỗi thăng trầm của thời cuộc.
Phật giáo phải tồn tại như "một thực thể đồng cam cộng khổ với dân tộc chứ
không thể chỉ là chiếc bóng tuy có mặt trên quê hương nhưng thiếu hẳn hình
tượng trong lòng dân tộc" [8].
Trong phong trào cách mạng miền Nam (1954 - 1975), chính quyền
Ngô Đình Diệm (CQNĐD) đã dựa vào Mỹ và Công giáo để xây dựng bộ máy
thống trị, kìm kẹp nhân dân miền Nam, đàn áp Phật giáo. Nhiều phong trào
Phật giáo đã nổ ra ở Miền Nam, chống chính sách kỳ thị tôn giáo và đàn áp
Phật giáo của Mỹ - Diệm; phát động phong trào yêu nước, chống đế quốc
xâm lược.
Cho đến nay, các phong trào Phật giáo vẫn chưa được giới sử học Việt
Nam nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện. Do đó việc tiến hành nghiên


cứu phong trào Phật giáo là một việc làm có ý nghĩa khoa học sâu sắc, giúp
hiểu được bản chất của phong trào; góp phần hiểu rõ hơn về lịch sử cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
Mặt khác, ở nước ta hiện nay tôn giáo đang là vấn đề lớn liên quan đến

cứu cũng đã chú ý đến việc nghiên cứu phong trào Phật giáo như: "Đồng bào
theo đạo Phật ở miền Nam đang tiếp tục truyền thống anh dũng, bất khuất
của dân tộc" của Dương Minh, Nghiên cứu lịch sử, số 53, 1963; "Theo quan
điểm lịch sử nhìn vào cuộc đảo chánh vừa qua ở miền Nam Việt Nam và số
kiếp Ngô Đình Diệm" của Trần Huy Liệu, Nghiên cứu lịch sử, số 58, 1964.
Các công trình trên đây, đã phân tích những mâu thuẫn của nhân dân miền
Nam với CQNĐD, mâu thuẫn giữa Mỹ với Diệm, bước đầu đã phác họa bức
tranh tổng quát và nêu lên được một số nhận định đánh giá về phong trào Phật
giáo. Tuy nhiên, nguồn sử liệu còn nghèo nàn nên chưa giải quyết một cách
thoả đáng, đúng mức với vị trí của phong trào Phật giáo.
Từ sau năm 1975 đến nay, phong trào Phật giáo Việt Nam vẫn chưa
được giới sử học Việt Nam chú ý nhiều, chỉ có số ít công trình được công bố
như: "Việt Nam Phật giáo sử luận" của Nguyễn Lang, Nxb Văn học, Hà Nội,
1994, có đề cập đến những thủ đoạn của CQNĐD đối với Phật giáo và những
phong trào Phật giáo nổ ra năm 1963. "Phong trào Phật giáo miền Nam Việt
Nam năm 1963" của Lê Cung, Nxb Thuận Hoá, Huế, 2003, đã phân tích sâu
sắc nguyên nhân dẫn đến phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm
1963 và trình bày khá chi tiết về diễn biến của phong trào. Tuy nhiên, hai
công trình trên mới chỉ dừng lại nghiên cứu về phong trào Phật giáo miền


Nam Việt Nam năm 1963, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
đầy đủ về phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam từ 1954 đến 1975 và các
công trình chưa làm nổi bật được vai trò của phong trào Phật giáo đối với
cách mạng miền Nam Việt Nam thời kỳ 1954 - 1975.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích rõ nguyên nhân sâu xa dẫn đến bùng nổ phong
trào đấu tranh của Phật giáo, chúng ta làm nổi bật được vai trò to lớn của
phong trào Phật giáo đối với cách mạng miền Nam Việt Nam thời kỳ 1954 1975.

Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề Tôn giáo và vai trò của Tôn
giáo.
Về phương pháp nghiên cứu, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã
sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic, phương pháp đối chiếu
và so sánh nhằm rút ra những nhận định đánh giá chính xác.
5. Đóng góp của đề tài
Một là, đề tài làm rõ được con đường du nhập và quá trình phát triển


của Phật giáo ở Nam Bộ. Trên cơ sở đó thấy được những đặc điểm riêng biệt
của Phật giáo Nam Bộ so với Phật giáo Bắc Bộ.
Hai là, đề tài làm rõ được sự tác động của phong trào yêu nước tới cuộc
đấu tranh của Tăng ni, Phật tử. Đặc biệt là làm rõ được chính sách chia rẽ tôn
giáo của CQNĐD trên tất cả các lĩnh vực tư tưởng - chính trị, kinh tế - xã hội,
văn hoá - giáo dục, quân sự. Đây là một chính sách cực kỳ phản động mà
CQNĐD xem như là một công cụ có hiệu quả để đẩy lùi phong trào cách
mạng Việt Nam nhằm cột chặt miền Nam nước ta trong quỹ đạo của Chủ
nghĩa thực dân mới. Nhưng với chính sách kỳ thị tôn giáo này, phong trào
Phật giáo miền Nam thực sự bùng nổ vào năm 1963, tạo điều kiện thúc đẩy
cách mạng Việt Nam phát triển.
Ba là, trên cơ sở tìm hiểu về phong trào Phật giáo từ 1954 đến 1975, đề
tài làm rõ được vai trò của phong trào Phật giáo trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước của dân tộc.
Bốn là, trong quá trình nghiên cứu đề tài, nhiều bài học kinh nghiệm
quý báu được rút ra, đặc biệt là bài học về xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân, không phân biệt màu da, sắc tộc, tôn giáo. Là “con rồng cháu tiên” thì
phải biết cùng nhau đoàn kết lại, tạo nên sức mạnh phi thường đánh bại mọi
kẻ thù xâm lăng. Trong thời đại ngày nay, sức mạnh của khối đại đoàn kết
được biểu hiện trong sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam văn minh, hiện
đại, có nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Chẳng hạn, Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận tập một
viết: “Đạo Phật truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch. Tài liệu
chắc chắn cho biết rằng vào hạ bán thế kỷ thứ hai, tại nước ta đã có một
trung tâm Phật giáo phồn vinh và quan trọng rồi, nhưng có thể đạo Phật đã


du nhập vào nước ta trong thế kỷ đầu của kỷ nguyên” [14, 19]. Theo Nguyễn
Lang, trong ba trung tâm Phật giáo đời Hán (Luy Lâu, Bành Thành, Lạc
Dương) thì có nhiều dữ kiện khiến chúng ta nghĩ trung tâm Luy Lâu tại Giao
Chỉ được thành lập sớm nhất, trung tâm này đã làm bàn đạp cho sự thành lập
các trung tâm Bành Thành và Lạc Dương ở Trung Hoa. Ông còn chứng minh
trung tâm Lạc Dương được thành lập từ trung tâm Bành Thành, trung tâm
Bành Thành được thành lập do sự thăm viếng của các tăng sĩ xuất phát từ
trung tâm Luy Lâu. Theo ông, trung tâm Luy Lâu được hình thành vào
thượng bán thế kỷ thứ nhất Tây lịch.
Mặt khác, có nhiều nguồn sử liệu nói đến tình hình Phật giáo ở nước ta
vào nửa cuối thế kỷ thứ II sau công nguyên, lúc bấy giờ trung tâm Phật giáo ở
Luy Lâu (vùng Dâu - Thuận Thành, Hà Bắc) đã khá thịnh đạt. Điều đó khiến
ta có thể suy đoán rằng Phật giáo từ phía Nam Ấn Độ qua đường biển được
truyền bá vào miền Bắc Việt Nam khoảng thế kỷ I sau công nguyên. Các vị
sư đầu tiên có lẽ là người Ấn Độ, nhưng từ cuối thế kỷ thứ II, đầu thế kỷ III
trở đi đã thấy sử chép tên nhiều vị sư người Trung Á và Trung Hoa. Như vậy,
Phật giáo truyền vào nước ta ngoài đường biển nối Giao Châu với Thiên Trúc,
đường biển và đường bộ nối liền trung tâm Luy Lâu với các trung tâm Phật
giáo Trung Hoa ở Bành Thành (Hoa Nam) và Lạc Dương (Hoa Bắc), cũng có
ý kiến cho rằng Phật giáo vào Việt Nam bằng con đường bộ dọc lưu vực sông
Hồng nối liền Giao Châu với miền Vân Nam và qua đó tới Tây Tạng, Trung
Á.
Như vậy, có thể nói rằng ngay từ thời rất xưa, Việt Nam đã được các
cao tăng Ấn Độ đến truyền giáo trực tiếp. Thời điểm đó có thể là xưa hơn thời


Đồng Nai, Biên Hòa, Gia Định, Mỹ Tho thế kỷ XVII (1679). Những ngôi
chùa cổ ở Mỹ Tho, Cai Lậy và các Phật đường sau này xuất phát từ các nhà
sư Trung Quốc này.
Hướng thứ ba, đầu thế kỷ XVIII, Mạc Cửu người Quảng Đông, từ
Chân Lạp sang vùng đất mới, đặt tên là Hà Tiên (1708 - 1725), dựng chùa
Tam Bảo. Ngôi chùa này cho đến nay vẫn còn nổi tiếng. Đây là một trong
những hướng du nhập của Phật giáo Trung Hoa vào Nam Bộ theo hướng
ngược lại với cuộc di dân.
Hướng thứ tư, từ Campuchia, Phật giáo Nam Tông được Hộ Tông
truyền vào Nam Bộ từ năm 1938, đem lại cho Phật giáo Nam Bộ một nét mới
mẻ.
1.2. Quá trình phát triển của đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam
Bộ
1.2.1. Đạo Phật trong người Việt ở Nam Bộ dưới thời các chúa Nguyễn và
triều Nguyễn
Nam Bộ là vùng đất mới đối với lịch sử lâu đời của đất nước. Đó là
vùng hoang vu, nhiều thú dữ, thiên tai, hạn hán, lụt lội ở vùng nhiệt đới gió
mùa. Tuy nhiên, bên cạnh mặt hoang vu, thú dữ và sự khắc nghiệt của thiên
nhiên, vùng đất Nam Bộ lại là vùng đất “cò bay thẳng cánh”, bát ngát ruộng
đồng màu mỡ, phì nhiêu, cảnh vật vừa thơ mộng lại vừa mang vẻ kỳ bí, hấp
dẫn lôi cuốn con người muốn khai phá, tìm tòi, “mời gọi” cư dân từ các nơi
đến sinh sống.
Dưới thời các chúa Nguyễn, nhiều thành phần cư dân đã đến đây sinh
sống. Họ thuộc đủ các thành phần dân tộc khác nhau và theo các hình thức
tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau, nhưng Phật giáo vẫn là tôn giáo chủ đạo.


Để đáp ứng nhu cầu của lưu dân vào đây cần có chùa, có thầy cầu an,
giúp đỡ khi hoạn nạn, đau ốm ở xứ lạ hoặc cầu siêu khi mất. Nhu cầu được an

trong chừng mực nhất định, đạo Phật đã tạo được thế đứng trong nhân dân.
Tuy là buổi đầu ở vùng đất mới, đạo Phật cũng đã thể hiện được một số đặc
điểm của mình qua thờ cúng, qua sinh hoạt Phật giáo, dù rằng các yếu tố này
còn khá mờ nhạt, nhưng cũng đã có những nét mới phong phú, đa dạng và là
tiền đề cho việc hình thành những đặc điểm mang nét đặc trưng của Phật giáo
Nam Bộ.
1.2.2. Đạo Phật trong người Việt ở Nam Bộ dưới thời thuộc Pháp
1.2.2.1. Đạo Phật trước thời chấn hưng
Khi người Pháp bắt đầu đặt gót chân xâm lược vào Nam Bộ thì đây là
giai đoạn Phật giáo trong người Việt ở Nam Bộ có sự chuyển biến lớn - Phật
giáo đi vào suy thoái.
Ở giai đoạn này, các mặt sinh hoạt tín ngưỡng có phần nào bị phá vỡ do
sự xâm nhập của Pháp vào Việt Nam. Từ 1860 đến 1865, một mặt thực dân
Pháp tăng cường bắt sư đi lính, xâm chiếm, đập phá nhiều ngôi chùa để sử
dụng làm phòng tuyến và làm đồn bốt. Suốt từ Sài Gòn vào Chợ Lớn, 4 ngôi
chùa, đền cổ đã bị quân đội viễn chinh chiếm đóng là chùa Khải Tường, đền
Hiển Trung, chùa Kiểng Phước, chùa Cây Mai và đặt tên là “phòng tuyến các
chùa”.
Ngoài ra, Pháp còn chiếm và triệt hạ hàng loạt các chùa như: chùa Kim
Chương, chùa Phật Lớn (ông Phúc) bị dỡ vào năm 1865 gần thành Ô Ma
(đường Nguyễn Trãi ngày nay); chùa Pháp Võ (Chợ Quán) bị dỡ năm 1863;


chùa Phước Hải trong bệnh viện Chợ Rẫy bị dỡ năm 1865; chùa Phước Hưng
(đường An Dương Vương ngày nay) bị dỡ năm 1864; chùa Kim Tiên (Chợ
Quán) bị dỡ năm 1863; chùa Gia Điền (Chợ Quán) bị dỡ năm 1865. Điều đó
đã gây hậu quả nghiêm trọng, nhiều ngôi chùa lớn bị triệt hạ, nhiều kinh sách
quý bị thất lạc, chỉ còn những ngôi chùa nhỏ trong hẻm mới tồn tại được.
Mặt khác, thực dân Pháp ra sức phát triển nhà thờ ở đô thị. Thực dân
Pháp quan niệm Phật giáo gắn với dân tộc Việt Nam, theo Phật giáo và hành

thân đi vận động hầu hết các chùa lớn ở miền Nam tham gia phong trào chấn
hưng Phật giáo. Năm Canh Ngọ 1930, các lớp học luân chuyển do hoà thượng
Khánh Hoà khai mở lấy tên là “Phật học Liên Xã" do Lục Hoà Tăng Nam
Việt đảm nhiệm việc học lẫn tiền học tại chùa Long Phước (Trà Ôn), sau đó
đến chùa Long Phước (Trà Vinh), chùa Viên Giác (Bến Tre)... mỗi khoá du
học từ 80 đến 100 học tăng.
Cùng với hoà thượng Khánh Hoà, tại miền Nam còn có giáo thọ Thiện
Chiếu - là một trong những vị tăng trẻ tuổi có tiếng thời bấy giờ. Từ 1926 đến
1929 tại chùa Linh Sơn - nơi nhà sư trụ trì, nhiều hoạt động Phật giáo đã được
thực hiện, nhằm khơi dậy và làm sống lại một Phật giáo chánh tín, mang âm
hưởng dân tộc và hơn hết là phát huy tinh thần yêu nước, cho tăng sĩ, Phật tử
trong giai đoạn có thực dân Pháp xâm lược.
Ngoài hai tăng sĩ được xem là linh hồn của phong trào chấn hưng Phật
giáo ở Nam Bộ, thời kỳ phát động phong trào còn có sự giúp sức của hoà
thượng Từ Phong (chùa Giác Hải). Với nỗ lực phi thường và lòng quyết tâm
khôi phục lại bộ mặt mới cho Phật giáo Việt Nam của các tăng sĩ, đã góp


phần làm cho công cuộc chấn hưng Phật giáo ở Nam Bộ có được kết quả đáng
kể.
Đặc biệt, từ 1925 đến 1926, tình hình chính trị - xã hội ở Gia Định có
những chuyển biến mạnh mẽ đã tạo tiền đề tích cực cho công cuộc chấn hưng.
Đó là giai đoạn cao trào dân tộc - dân chủ nổi lên và hoạt động mạnh mẽ.
Đạo Cao Đài ra đời vào cuôi năm 1925 đầu 1926, hoạt động rầm rộ, thu hút
đông đảo người dân ở Nam Bộ. Làn sóng ảnh hưởng đó đã thúc đẩy những
người theo đạo Phật thấy cần thiết phải chấn hưng, phải canh tân nhằm đưa
Phật giáo đi vào cuộc sống.
Tóm lại, trong giai đoạn Pháp, Nhật xâm lược nước ta, đặc biệt là ở
Nam Bộ, Phật giáo đã có những chuyển biến sâu sắc. Từ sự khủng hoảng về
tổ chức, giáo lý, kinh sách,... nhiều hội Phật giáo đã ra đời; các Phật học

thống trường Bồ Đề và một hệ thống Phật học viện được phát triển rộng khắp,
không chỉ dành riêng cho con em Phật tử, mà đây còn là nơi đào tạo tăng ni
sinh về đạo đức và văn hóa.
Trên thực tế, dù có nhiều nỗ lực của Mỹ đầu tư vào lĩnh vực này, cũng
như bàn tay của CIA, thông qua cơ quan văn hóa Á Châu, đã tài trợ cùng với
việc đào tạo nhanh chóng một đội ngũ trí thức Phật giáo ở nước ngoài (Nhật,
Mỹ, Anh), nhưng trong nhiều năm ảnh hưởng và tác động của Mỹ đến các tổ
chức giáo dục nói chung và Phật giáo nói riêng chưa đạt những thành quả như
Mỹ mong muốn. Lý do chủ yếu nhất đưa đến sự thất bại này chính là phản
ứng của giới trí thức thành thị đối với cuộc chiến và sự gia tăng ảnh hưởng


của Mỹ vào xã hội miền Nam nói chung.
Bên cạnh chủ trương “hiện đại hóa” Phật giáo, người ta còn thấy song
song với kế hoạch này, trong Phật giáo còn được cổ xúy bởi tư tưởng “Hòa
bình”, “Hóa giải”, “Về nguồn”, “Cách mạng xã hội chủ nghĩa không cộng
sản”, “chủ nghĩa xã hội Phật giáo”, “chủ nghĩa nhân bản”… thực chất, tất cả
các luồng tư tưởng đó được khơi dậy sau năm 1963 và cũng chỉ gây được một
ảnh hưởng nhỏ bé trong vài năm, bởi vì sau phong trào Đồng Khởi, cách
mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam bước vào giai đoạn mới. Mặt khác,
công tác từ thiện - xã hội mà trường “Thanh niên Phụng sự xã hội” đã đề ra,
với các làng “Tình thương”, “Hoa tiêu”… thu hút một số thanh niên trẻ thời
ấy, cũng bị bế tắc, vì người chủ xướng ra nó cũng đã ở nước ngoài và “chỉ
đạo từ xa” cho một kế hoạch mà như GS.Trần Văn Giàu nhận định “chắc hẳn
là sau này Nhất Hạnh có thời giờ kiểm lại để thấy rằng “tình thương”, “chí
nguyện” và “học thức” của những đoàn Thanh niên Phụng sự xã hội của ông
đào tạo bằng giáo lý cải cách của “Đạo Phật hiện đại hóa” cũng không làm
được gì nhiều hơn cái đội bình định vũ trang bằng sung đạn tâm lý chiến và
kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi của Mỹ. Các màu sắc ấp chiến lược đều bị phá
sản, kể cả màu sắc “làng tình thương”, “làng tự nguyện” của Nhất Hạnh [11,

Tết.
Một trong những đặc trưng của Phật giáo trong người Việt ở Nam Bộ
qua sinh hoạt tín ngưỡng là môn ứng phú. Buổi đầu cư dân đến vùng đất mới
cần có thầy cầu an khi đau ốm và cầu siêu khi qua đời nên từ rất sớm một
tầng lớp tăng sĩ đã thường xuyên đến nhà Phật tử cúng bái, phục vụ cho nhu
cầu tinh thần này. Các thầy cúng đám hay các ứng phú sư, một mặt đã đưa
Phật giáo dần dần đi vào con đường xa rời với chánh pháp, nhưng mặt khác


nó thể hiện tính thực tiễn của cư dân vùng đất mới. Ứng phú đã trở thành một
hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian Phật giáo, đã đi vào lịch sử, là một trong
những dấu ấn sâu đậm về đặc điểm của Phật giáo trong người Việt ở Nam Bộ.
Đặc biệt, ở Nam Bộ xuất hiện nhiều giáo phái được hình thành từ yêu
cầu giữ vững tổ chức Phật giáo để đấu tranh chống ngoại xâm như Đạo Bửu
Sơn Kỳ Hương, Lục Hòa Tăng Nam Việt, Thiên Thai Thiền Giáo Tông, Phật
Giáo Cửu Quốc… Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương đã đặt ơn Tổ quốc trở thành một
trong bốn trọng ân mà người theo đạo phải thực hiện và đền đáp. Chính
truyền thống yêu nước thương dân là sợi chỉ xuyên suốt, là hạt nhân chỉ đạo
mọi hoạt động bởi vì: “đất nước còn, dân tộc còn, đạo pháp còn”. Sự vay
mượn các hình thức đồng bóng, chữa bệnh đầy màu sắc huyền bí và mê tín
của Bửu Sơn Kỳ Hương, của đạo Lành… xét cho cùng, ngoài mục đích
truyền bá tín ngưỡng thì còn có một dụng ý nữa là nhằm vào việc vận động,
tập hợp những người yêu nước đứng vào tổ chức kháng chiến có quy mô to
lớn hơn, chặt chẽ hơn.
Tóm lại, trong suốt quá trình phát triển của mình Phật giáo trong người
Việt ở Nam Bộ mang những đặc trưng riêng, thể hiện tính đa dạng phong phú.
Đó là một minh chứng về sự “tùy thuận” của Phật giáo vào vùng đất mình cư
trú.
1.3.2. Phật giáo Nam Bộ thể hiện một tinh thần nhập thế năng động
Do đặc thù về lịch sử, Nam Bộ cùng với miền Nam là nơi trực tiếp

xá Ngọc Phương trung tâm đấu tranh, là hội sở Trung ương của Giáo hội, đã
đứng lên đòi hoà bình, đòi quyền sống, đòi công bằng xã hội, chống bắt lính,


đòi thả tù chính trị phạm…
Một trong những hành động đưa phong trào đấu tranh của Tăng Ni,
Phật tử Nam Bộ lên đỉnh cao giai đoạn 1954 - 1975 là tháng 6-1963, Hoà
thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu tại ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn
Duyệt (tức Cách mạng tháng Tám và Nguyễn Đình Chiểu hiện nay) với lời
đại nguyện cầu mong cho “Phật giáo Việt Nam được trường tồn và đất nước
được thanh bình, chúng sanh được an lạc” [16, 218]. Giáo sư Trần Văn Giàu
đã dánh giá cao về hành động tự thiêu này và cho rằng: “Đó là một hành động
chống chiến tranh, là hành động bảo vệ hòa bình, vì hòa bình mà hi sinh (…)
nhà sư là một người yêu nước, Quảng Đức yêu nước theo phong cách một
nhà sư [12, 30].
Tiếp nối gương hi sinh này, nhiều cái chết tiếp theo sau đó của các
Tăng ni, Phật tử đã góp phần lớn trong việc giành lại nền độc lập của đất
nước.
Có thể nói, hoà nhập và cùng với nhân dân Nam Bộ đứng lên chống
ngoại xâm, thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn và một tinh thần nhập thế
năng động, là một điểm nổi bật của Phật giáo Nam Bộ. Tinh thần ấy xuất phát
từ truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam mà đội ngũ Tăng ni là một bộ
phận.
Tiểu kết
Du nhập vào Việt Nam khoảng đầu công nguyên, trải qua các triều đại,
Phật giáo đã có những nét riêng, thể hiện sự thích ứng theo phong tục tập
quán và tín ngưỡng bản địa. Từ thế kỷ thứ XVI, với sự phân chia đàng Trong
và đàng Ngoài, lấy sông Gianh làm ranh giới, đây là mốc quan trọng có ảnh
hưởng đến lịch sử Phật giáo, làm cho Phật giáo mỗi miền mang những đặc


thành lập các trại tập trung để giam giữ những người gọi là "nguy hiểm cho
quốc phòng và an ninh”; Dụ số 13 (20-2-1956) nhằm bóp nghẹt quyền tự do
báo chí; Luật 10 / 59 (5-1959) về việc thành lập các tòa án quân sự đặc biệt,


đặt những người cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Cùng với những chính
sách trên là các chương trình “Cải cách điền địa”, “Khu dinh điền”, “Khu trù
mật”, “ấp chiến lược”…
Tất cả những chính sách và biện pháp trên, về thực chất là chống lại
khát vọng hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước của nhân dân miền Nam. Đó
chính là những nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào đấu tranh cách mạng
của nhân dân miền Nam.
Tháng 8-1954 “Phong trào hòa bình” của trí thức và các tầng lớp nhân
dân miền Nam ra đời tại Sài Gòn - Chợ Lớn. Phong trào tổ chức nhiều cuộc
mit tinh, hội họp đưa yêu sách đòi chính quyền Ngô Đình Diệm thi hành
nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ. Phong trào lan rộng từ thành thị đến nông
thôn, tiêu biểu là ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng.
Liên tiếp trong những năm 1956 - 1958, nhiều cuộc đấu tranh của công
nhân đã diễn ra trên khắp các thành phố, thị xã miền Nam, nhất là vào dịp kỷ
niệm ngày Quốc tế lao động 1-5 hàng năm. Đặc biệt, ngày 1-5-1958, gần 50
vạn công nhân Sài Gòn xuống đường biểu tình với những khẩu hiệu đấu tranh
phù hợp với quyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân, như đòi tăng lương, giải
quyết nạn thất nghiệp, hạn chế nhập cảng hàng hóa mà trong nước sản xuất
được, triệt để giảm tô đúng mức, thực hiện đầy đủ khẩu hiệu “người cày có
ruộng, thống nhất đất nước”.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào quần chúng, tháng 1-1959
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 họp, xác định con đường phát triển cơ
bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân
dân bằng lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp lực lượng vũ
trang của nhân dân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status