Một số biện pháp tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả giấc ngủ trưa cho trẻ 5 đến 6 tuổi ở trường mầm non hùng vương - Pdf 34

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
“Chăm sóc sức khỏe ban đầu là chìa khóa để toàn thể các dân tộc trên
thế giới vào năm 2010 đạt được một trình độ cho phép họ sống một cuộc sống
phong phú về mặt xã hội và kinh tế”.
(Tuyên ngôn Alma - Ata 1978)[1]
Trẻ em là nguồn hạnh phúc to lớn của gia đình, là tương lai của mỗi
quốc gia dân tộc. Vì vậy, việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em đã trở thành nghĩa vụ
và trách nhiệm của toàn xã hội, là mối quan tâm hàng đầu, là trung tâm chú ý
của nhiều ngành khoa học, của các nhà nghiên cứu trẻ em trên nhiều quốc gia,
trong đó có Việt Nam. Hiện nay ở Việt Nam, việc quan tâm, chăm sóc đến trẻ
em đã được đề cập trong điều 21,22 Luật giáo dục (2005) đã xác định nhiệm
vụ và mục tiêu của giáo dục mầm non “Giáo dục mầm non thực hiện việc
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi” , “ Mục tiêu
của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ,
thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ
em vào học lớp một”.[9]
Có thể cho rằng, giáo dục mầm non sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình
phát triển nhân cách con người. Vì vậy, vấn đề đặt ra trong lứa tuổi này là
phải quan tâm đầy đủ đến giáo dục thể chất trí tuệ và tinh thần cho trẻ như
C.Mác đã từng khẳng định: “Việc kết hợp giáo dục, trí tuệ và thể chất không
chỉ là một phương tiện tăng thêm sản xuất xã hội mà con là phương tiện duy
nhất để phát triển con người toàn diện”.[2]
Cơ thể trẻ đang trên đường hoàn thiện và phát triển, vì thế sức đề
kháng, sự dẻo dai của cơ thể còn yếu. Trong các mặt giáo dục trẻ thì việc giáo
dục thể chất phải là nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, phải được tiến hành thường
xuyên, mạnh mẽ, toàn diện dưới sự quan tâm, là tránh nhiệm của toàn xã hội.

1




Nhưng trên thực tế trong các trường mầm non, việc tổ chức giấc ngủ trưa
cho trẻ còn gặp nhiều khó khăn: khó khăn về cơ sở vật chất, khó khăn về số
lượng trẻ, cá nhân trẻ hiếu động, khó ngủ, giáo viên quá bận rộn…nên giấc
ngủ trưa của trẻ chưa đạt hiệu quả cao. Xuất phát từ những lí do trên, tôi
mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Một số biện pháp tổ chức nhằm nâng
cao hiệu quả giấc ngủ trưa cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương
thị xã Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
Một số biện pháp tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả giấc ngủ trưa cho trẻ
5 - 6 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả giấc ngủ trưa cho trẻ
5 - 6 tuổi ở trường mầm non.
3.2. Khách thể nghiên cứu.
Giấc ngủ trưa của trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non Hùng Vương thị xã
Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
4.1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài.
4.2. Tìm hiểu thực trạng ngủ trưa của trẻ và phát hiện một số nguyên
nhân làm ảnh hưởng đến giấc ngủ trưa của trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
4.3. Đề xuất một số biện pháp tổ chức góp phần nâng cao hiệu quả giấc
ngủ trưa cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
5. Giả thuyết khoa học.
Hiệu quả giấc ngủ trưa của trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non có thể được
nâng cao nếu trong quá trình tổ chức giấc ngủ trưa cho trẻ, các cô giáo mẫu
giáo tiến hành đồng bộ một số biện pháp sau: cho trẻ tích cực tham gia vào

3

4


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Lược sử nghiên cứu vấn đề.
1.1. Những nghiên cứu trên thế giới.
Việc nghiên cứu một cách khoa học về giấc ngủ đã được bắt đầu từ giữ
thế kỷ XIX với những nghiên cứu về lý thuyết của giấc ngủ. Trong đó có lý
thuyết vỏ não của I.P.Paplôp mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Theo kết quả của một nghiên cứu của Viện sức khỏe quốc gia Mỹ
(NIH) thì những đứa trẻ ngủ đủ thời gian mỗi ngày sẽ ít bị béo phì, ít bị tai
nạn bất thường, có tâm trạng vui vẻ thoải mái và kết quả học tập tốt hơn.
Những đứa trẻ ngủ ít thuờng bị hiếu động thái quá, thiếu tập trung tư tưởng
trong học tập, hay cáu kỉnh vô cớ và đôi khi có biểu hiện rối loạn hành vi.
Ông Carl Hunt - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu về rối loạn giấc ngủ thuộc
NIH còn khẳng định: “Bất kể làm việc gì trẻ em cũng sẽ làm tốt hơn nếu
chúng có một giấc ngủ tổt”. NIH khuyên nên cho trẻ ngủ nhiều hơn, đồng thời
cung cấp nhiều thông tin để trẻ ngủ ngon hơn như: không nuôi động vật trong
phòng ngủ, trước lúc đi ngủ không nên xem ti vi, không nên ăn hoặc uống
nước có ga trước khi đi ngủ….[10]
Theo báo cáo của bác sĩ Brett R.Kuln, trường đại học Nebraska tại hội
nghị thường niên của Hiệp hội nghiên cứu giấc ngủ: khuyến khích trẻ ngủ
nhiều có thể trừ ác mộng và mộng du. Mặc dù người ta cho rằng tình trạng
này có liên quan đến một số yếu tố di truyền, nhưng tác giả cho rằng nhũng
trẻ bị rối loạn này có thể bị giảm các biểu hiện bệnh lý nếu tăng tổng số thời
gian ngủ. Tác giả khuyên các bậc cha mẹ, các cô giáo nên cho trẻ ngủ trưa,
cần cho trẻ ngủ nhiều hơn bằng cách không để ti vi và trò chơi điện tử trong
phòng ngủ của trẻ. Tăng tổng số thời gian ngủ làm giảm rõ rệt tần xuất các
cơn ác mộng.[10]
Trong thời gian gần đây, bác sỹ Mare Weissbluth - chuyên gia hàng


6


tiễn, tôi thấy việc nghiên cứu “ Một số biện pháp tổ chức nhằm nâng cao hiệu
quả giấc ngủ trưa cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non” là cấp thiết.
2. Đặc điểm của hoạt động thần kinh cấp cao ở trẻ mẫu giáo.
Trên cơ sở sự phát triển của hệ thần kinh mà hoạt động thần kinh cấp
cao của trẻ em được phát triển theo lứa tuổi. Sự phát triển của hệ thần kinh có
liên hệ chặt chẽ với sự phát triển thể chất, phụ thuộc vào ảnh hưởng của ngoại
cảnh, của giáo dục và đặc điểm cá thể trẻ.
Hệ thần kinh có vai trò vô cùng quan trọng trong cơ thể. Nó là trung
tâm điều khiển hoạt động của các cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể, giúp
chúng hoạt động thống nhất, nhịp nhàng. Giấc ngủ trẻ em hình thành và ổn
định dần dần theo sự phát triển hệ thần kinh của trẻ. Với trẻ nhỏ, hệ thần kinh
chưa hoàn thiện. Đến cuối tuổi mẫu giáo, hệ thần kinh mới hoàn thiện về cấu
tạo cơ bản, chưa hoàn thiện về chức năng: quá trình hưng phấn lớn hơn quá
trình ức chế, quá trình phân tán lớn hơn quá trình tập trung cho nên trẻ dễ mệt
dưới ảnh hưởng của những tác động mạnh, không liên tục và trẻ dễ bị ảnh
hưởng của môi trường bên ngoài. Trẻ càng nhỏ thì hệ thần kinh càng non nớt
và nhanh chóng bị mệt mỏi. Trong các công trình nghiên cứu về hoạt động
thần kinh, PapLôp đã nhấn mạnh đến một điều là các trung khu thần kinh đặc
biệt chóng mệt. Nếu không kịp thời cho các trung khu đó nghỉ thì sẽ gây ra
những rối loạn nghiêm trọng của hệ thần kinh. PapLôp cũng đã chứng minh là
trong trường hợp này sẽ diễn ra quá trình bảo vệ thần kinh, đó là quá trình ức
chế; sự ức chế đó còn gọi là ức chế bảo vệ. Hiện tượng ngủ là một thí dụ về
ức chế bảo vệ. Những công trình nghiên cứu của các nhà sinh lí học khác
cũng chứng minh là hệ thần kinh trung ương phải được nghỉ ngơi trước tiên,
sự nghỉ ngơi theo chu kỳ đối với hệ thần kinh có một ý nghĩa rất lớn để bảo vệ
các tế bào thần kinh khỏi bị suy nhược. Do vậy cần tổ chức cho trẻ giấc ngủ

phấn sang ức chế, quy luật này chỉ có tính chất tương đối, nghĩa là không
đúng trong mọi trường hợp. Nếu kích thích quá yếu (dưới ngưỡng), hoặc quá

8


mạnh (trên ngưỡng) thì kích thích càng tăng, phản xạ càng giảm (do xuất hiện
lực ức chế vượt hạn).[7, trang 61].
3.3. Quy luật lan tỏa và tập trung.
Khi nghiên cứu quy luật hình thành quá trình hưng phấn và ức chế trên
vỏ não, PapLôp đã thấy rằng những quá trình đó không dừng lại ở tại điểm
mà tại đó chúng sinh ra, mà chúng lan rộng ra mọi hướng trên vỏ não
(khuyếch tán hay lan tỏa). Mức độ lan rộng phụ thuộc vào hưng tính của các
tiêu điểm trên vỏ não và vào cường độ kích thích tác động. Sau khi đã lan
rộng ra xunh quanh chúng ta lại thu hẹp dần phạm vi hoạt động, cuối cùng rút
về vị trí xuất phát, đó là hiện tượng tập trung.
Sự lan tỏa tập trung của hưng phấn và ức chế trên vỏ não là hiện tượng
mang tính chất quy luật - qui luật lan tỏa và tập trung.[7, trang 61].
3.4. Quy luật cảm ửng qua lại.
Cảm ứng là khả năng gây ra quá trình đối lập ở xung quanh (không
gian) hoặc tiếp sau (thời gian) của các quá tình thần kinh cơ bản (hưng phấn
và ức chế).
Theo PapLôp, trên vỏ não có hai loại cảm ứng:
- Cảm ứng dương tính: xảy ra khi sự phát sinh ức chế gây nên hưng
phấn.
- Cảm ứng âm tính: xảy ra khi sự phát sinh hưng phấn gây nên ức chế.
Như vậy, một quá trình thần kinh (hưng phấn hoặc ức chế) có thể vận
động theo qui luật lan tỏa và tập trung, hoặc theo qui luật cảm ứng qua lại,
điều đó tùy thuộc và nhiều yếu tố, nhưng trước hết nó phụ thuộc vào trạng
thái hoạt động của trung tâm bị kích thích. Nếu trạng thái hoạt động của trung

4.1. Khái niệm và bản chất sinh lý của giấc ngủ.
4.1.1. Khái niệm về giấc ngủ.
Ngủ là một trạng thái nghỉ ngơi của cơ thể, khi đó các quá trình sinh lý
đều giảm mức độ. Giấc ngủ đảm bảo khôi phục khả năng phân tích và tổng

10


hợp của vỏ não, khả năng làm việc của tế bào não nói riêng và cơ thể nói
chung. Chính vì vậy, giấc ngủ là nhu cầu sinh lý của con người.[7, trang 72].
Một giấc ngủ ngon phải đảm bảo các yếu tố:
- Ngủ nhanh.
- Ngủ say (ngủ sâu).
- Ngủ đủ thời gian cần thiết.
4.1.2. Bản chất sinh lý của giấc ngủ.
Ngủ là một nhu cầu sinh lý bình thường của cơ thế, có tác dụng bảo vệ
hệ thần kinh.
Theo PapLôp, tế bào thần kinh làm việc kéo dài và căng thẳng sẽ mệt
mỏi, suy nhược. Nếu làm việc thái quá thì các tế bào sẽ bị tổn thương và hoạt
động của chúng sẽ bị rối loạn trầm trọng. Lúc này vỏ não sẽ có một phản ứng
tự vệ chống lại sự mệt mỏi và suy nhược của tế bào thần kinh: Trong vỏ não
phát sinh một quá trình ức chế, ức chế này lan rộng dần khắp vỏ não và lan
xuống cả phần dưới vỏ, làm xuất hiện giấc ngủ
Như vậy cơ sở sinh lí của giấc ngủ là hiện tượng khuyếch tán của một
quá trình ức chế lan truyền trong toàn bộ vỏ não và các phần dưới não.
4.2. Ý nghĩa của giấc ngủ.
Trước kia, người ta chỉ chú ý đến sự thức mà ít nói đến sự ngủ. Mãi vài
chục năm gần đây, khi điện não ra đời,sự ngủ mới được nghiên cứu tương đối
đầy đủ. Thực ra ông cha ta nói đã từ lâu: “Ăn được, ngủ được là tiên. Không
ăn, không ngủ mất tiền thêm lo”.

của Terman cũng cho thấy thông minh đi đôi với giấc ngủ. Năm 1983, phòng
thí nghiệm giấc ngủ ở Canada đã khẳng định nghiên cứu của Terman là
đúng:Trẻ có chỉ số IQ lớn thì tổng lượng thời gian ngủ của chúng dài. Các
nghiên cứu của Canada và Mỹ đều thống nhất rằng trẻ thông minh có giấc
ngủ dài hơn so với trẻ cùng lứa tuổi.

12


Mới đây, một nghiên cứu khác của Đại học Lousville về giấc ngủ đối
với trẻ sinh đôi trẻ có kiểu ngủ dài và điểm số cao hơn về tập đọc, từ vựng,
đọc hiểu…so với trẻ có kiều ngủ ngắn.Rõ ràng, giấc ngủ với trẻ em là rất
quan trọng.Các nghiên cứu đều chứng minh có sự liên quan chặt chữ giữa
giấc ngủ và khả năng học tập.
Giấc ngủ trưa với thời gian chỉ bằng khoảng 1/5 thời gian của giấc ngủ
đêm, tuy khá ngắn ngủi nhưng lại rất cần thiết và có ý nghĩa lớn lao đối với
sức khỏe, tâm lý, trí tuệ của mỗi con người, đặc biệt với trẻ em ở lứa tuổi mẫu
giáo. Trẻ có thời lượng ngủ đủ thì tỉnh táo, tiếp thu hết các thông tin xung
quanh như một miếng bọt biển khô kiệt thấm nước. Đối chiếu tổng thời lượng
ngủ với khí chất của trẻ thấy: các em nhóm dễ quản lý có thời lượng ngủ lớn
hơn các em nhóm khó quản lý là 1h30’, gần tương đương một giấc ngủ ngắn
ban ngày, trong khi giấc ngủ đêm có thể coi như bằng nhau. Như vậy giấc ngủ
trưa có liên quan đến khí chất của trẻ. Rối loạn giấc ngủ có ảnh hưởng nhiều
đến các kiểu ngủ: tư chất thông minh; đến sự rèn luyện; học tập và đến cả
hiệu suất ở nhà trường của các em.
Chúng ta không thể coi giấc ngủ trưa là giấc ngủ phụ, là phần bù cho
giấc ngủ đêm. Giấc ngủ trưa là giấc ngủ độc lập nếu xét cả về mặt thời gian
và chức năng. Nó tuân theo qui luật tự nhiên, theo nhịp điệu sinh học. Hơn thế
nữa, nó còn là một nhu cầu bản năng, nhu cầu xã hội vì nó thỏa mãn sự phát
triển của con người, góp phần nâng cao sức tái sản xuất xã hội. Giấc ngủ

vùng nào đó, hoặc khuyếch tán ra các vùng xung quanh. Và nếu không có gì
cản trở thì ức chế đó lan tỏa ra khắp các cơ quan dưới vỏ và dẫn đến giấc ngủ.
Trong quá trình ngủ, các tế bào của vỏ não không phải ngừng hoạt
động hoàn toàn mà nó chuyển sang dạng hoạt động khác nhằm đảm bảo cho
quá trình chuyển hóa đặc trưng của tế bào vỏ não với mục đích khôi phục khả
năng làm việc của tế bào thần kinh. Khi tế bào thần kinh đã khôi phục được

14


khả năng làm việc thì vỏ não chuyển sang trạng thái hoạt động, cơ thể tỉnh
giấc.[7, trang 73, 74]
4.4. Những điều kiện để xuất hiện và khuyếch tán ức chế ngủ.
Trong điều kiện tự nhiên của giấc ngủ, sự khuyếch tán có thể xảy ra do
3 nhân tố:
- Hoạt động thiên biến vạn hóa trong ngày của các vùng phân tích quan
trên vỏ não đã làm giảm sút khả năng làm việc, gây trạng thái mệt mỏi trong
các vùng đó, làm cho các vùng đó có xu hướng chuyển sang trạng thái ức chế.
Chính vì thế ở người lao động mệt mỏi thì đêm dễ ngủ thiếp đi và ngủ ngon.
Ở những trẻ em khỏe mạnh, giấc ngủ hay là sự ức chế trước hết phát sinh
trong các cơ quan phân tích vận động và vận động ngôn ngữ khi chúng mệt
mỏi.
- Sự loại trừ các kích thích bên ngoài làm cho tính cường (trương lực)
của các tế bào thần kinh giảm sút và dễ chuyển sang trạng thái ức chế. Vì vậy,
khi chuẩn bị cho trẻ ngủ nên cởi bớt quần áo, đặt trẻ ở tư thế thoải mái, tắt bớt
đèn, vặn nhỏ đài…
- Giấc ngủ còn là kết quả của một quá trình phản xạ có điều kiện, thành
lập trên các tác nhân thời gian và chế độ sống của động vật và con người. Nói
cách khác là xây dựng trên sự xen kẽ đều đặn và đúng kì hạn của hoạt động
ban ngày và sự ngừng hoạt động ban đêm, kèm theo một số động tác quen

- Giảm trương lực cơ (bắp cơ mềm, đa số cơ xương dãn).
4.7. Thời gian ngủ của trẻ.
Thời gian ngủ chiếm 1/3 đời người, nhưng phân bố không đồng đều ở
các lứa tuổi, và nó phụ thuộc vào khả năng làm việc của tế bào thần kinh. Trẻ
càng nhỏ thời gian ngủ càng nhiều, giấc ngủ ngắn, số lần ngủ nhiều:

16


Thời gian ngủ
Lứa tuổi

Số lần ngủ

3–6
6 – 12
12 – 18
18 – 36
36 – 72

4
3
2
1
1

Ngày
7h30
6h00
4h30

- Quá trình thành lậptrường :
Trường mầm non Hùng Vương được thành lập ngày 30/6/ 2006, trường
mầm non Hùng Vương thuộc tổ 10, Phường Hùng Vương, thị xã Phúc Yên,
tỉnh Vĩnh Phúc.
- Cơ cấu của trường :
+ Tổng số cháu: 509 cháu
+ Tổng số lớp : - 3 lớp mẫu giáo lớn : A,B,C
- 4 lớp mẫu giáo nhỡ : A, B, C, D
- 3 lớp mẫu giáo bé : A, B, C
- 2 lớp nhà trẻ : A, B

17


+ Tổng số cán bộ giáo viên : 41
+ Ban giám hiệu: 3 người
- Thuận lợi:
+ 12/12 lớp thực hiện chương trình “ Đổi mới hình thức chăm sóc giáo
dục trẻ”. Về đội ngũ 100% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn nghiệp vụ sư
phạm, số lượng giáo viên giỏi các cấp đều tăng hàng năm, hiện nay trường có
2 giáo viên giỏi cấp tỉnh.
+ Về điều kiện vật chất, trang thiết bị dạy học: Trẻ được học trong ngôi
trường khang trang, thoáng mát, sạch sẽ với đầy đủ phòng học, trang thiết bị
nhằm phục vụ công tác chăm sóc và giáo dục trẻ.
+ Trẻ được đến trường đầy đủ, được học tập và vui chơi cùng bạn bè,
cô giáo. Các cháu ngoan, khoẻ, tích cực tham gia các hoạt động do cô tổ
chức,tỷ lệ Bé ngoan- Bé chuyên cần đạt trên 98%( số liệu năm học 20112012). Đến trường mầm non trẻ được các cô tận tình dạy dỗ, chăm sóc từ việc
học hành, ứng xử trong giao tiếp trong mối quan hệ bạn bè, đến việc chăm lo
cho các con từng giấc ngủ.
- Khó khăn:

Cụ thể:
Tiêu chí 1: “ngủ nhanh”
- Mức độ 1: Trẻ ngủ sau 15 phút
- Mức độ 2: Trẻ ngủ sau 30 phút
- Mức độ 3: Trẻ ngủ sau 45 phút
Tiêu chí 2: “ngủ sâu”
- Mức độ 1: Giấc ngủ không bị gián đoạn, không xảy ra hiện tượng bất
thường của giấc ngủ (mộng du, hoảng sợ khi ngủ, giẫy giụa quá nhiều khi
ngủ, xoay lật người nhiều lần).
- Mức độ 2: Giấc ngủ bị gián đoạn hoặc xuất hiện những hiện tượng bất

19


thường của giấc ngủ.
- Mức độ 3: Giấc ngủ bị gián đoạn và có xảy ra những hiện tượng bất
thường của giấc ngủ.
Tiêu chí 3: “ ngủ đủ thời gian cần thiết”
- Mức độ 1: Tổng thời lượng ngủ của trẻ đạt từ 120 phút đến 150 phút.
- Mức độ 2: Tổng thời lượng ngủ của trẻ đạt từ trên 60 phút đến dưới
120 phút.
- Mức độ 3: Tổng thời lượng ngủ của trẻ không đạt 60 phút.
Dựa trên số điểm mà trẻ đạt được ở 3 tiêu chí trên, tôi đánh giá hiệu
quả giấc ngủ trưa của trẻ theo 3 loại:
- Loại tốt: Nếu trẻ đạt từ 7- 9 điểm.
- Loại trung bình : Nếu trẻ đạt được từ 4- 6 điểm .
- Loại yếu: Nếu trẻ đạt 3 điểm.
1.2. Kết quả nghiên cứu.
Sau khi quan sát giấc ngủ trưa của trẻ, tôi thu được kết quả như sau:
- Loại tốt: có 36/90 trẻ (chiếm 40 %).

trường mầm non .
Qua kết quả điều tra trên tôi thấy vẫn có một tỉ lệ đáng kể trẻ có giấc

20


ngủ trưa ở loại trung bình và yếu (54/90 trẻ chiếm 60 %). Kết quả điều tra
trên đã gợi ý cho chúng tôi thấy sự cần thiết phải đưa ra một số biện pháp tổ
chức nhằm nâng cao hiệu quả giấc ngủ trưa cho trẻ ở trường mầm non, qua đó
giúp trẻ phát triển về mặt thể chất và trí tuệ.
2. Thực trạng tổ chức giấc ngủ trưa cho trẻ ở trường mầm non.
Với mục đích tìm hiểu thực trạng tổ chức giấc ngủ trưa cho trẻ ở trường
mầm non tôi đã tiến hành bằng cách sử dụng phiếu thăm dò đối với 25 giáo
viên đang trực tiếp chăm sóc trẻ ở trường mầm non Hùng Vương thị xã Phúc
Yên - tỉnh Vĩnh Phúc. Kết quả như sau:
Câu hỏi 1: Theo chị, giấc ngủ trưa có vai trò như thế nào đối với trẻ?
- Có 22/25 (chiếm 88%) số giáo viên trả lời là rất quan trọng.
- Có 3/25 (chiếm 12%) số giáo viên trả lời là quan trọng.
- Không có giáo viên nào trả lời bình thường và không quan trọng.
Điều tra này thể hiện qua bảng 3:
Bình thường và
không quan trọng
Số phiếu(Tổng 25)
22/25
3/25
0/25
Số phần trăm (%)
88
12
0

Phương Cho trẻ tham gia
pháp tổ vào các hoạt động
chức trong chế độ sinh
hoạt
Thườn Không
Mức độ
g
có câu
xuyên
trả lời
Số phiếu
20/25
5/25
(Tổng 25)
Số phần
trăm (%)
80
20

Làm vệ sinh cho trẻ

Ngủ vào một giờ

Thườn
g
xuyên

Bình
thườn
g


Bảng 4: Kết quả việc tổ chức giấc ngủ trưa cho trẻ
Kết quả này cho thấy: Trong quá trình tổ chức giấc ngủ trưa cho trẻ,
phần lớn giáo viên đã thường xuyên cho trẻ tham gia các hoạt động trong chế
độ (có 20/25 giáo viên, chiếm 80%) làm vệ sinh cho trẻ (14/25 giáo viên
chiếm 56%) và cho trẻ ngủ vào một giờ nhất định (25/25 giáo sinh viên,chiếm
100%).
Trả lời câu hỏi 3:Tổ chức giấc ngủ trưa cho trẻ ở trường mầm non
hiện nay có những khó khăn gì?
- Có 18/25 (chiếm 72%) số giáo viên trả lời là khó khăn về cơ sở vật

22


chất.( số lượng chăn, gối không đủ cho từng trẻ, nhiều chiếu đã hỏng, chăn
mùa đông cho trẻ con mỏng……).
- Có 7/25 (chiếm 28%) số giáo viên trả lời là khó khăn về số lượng trẻ.
(số lượng trẻ quá nhiều)
- Ngoài ra các giáo viên còn nêu lên những khó khăn khác như: cá nhân
trẻ hiếu động, khó ngủ chính là đặc điểm của từng cháu, giáo viên quá bận
rộn…
Điều tra này được thể hiện qua bảng 5:
Khó khăn
Cơ sở vật chất
Số lượng trẻ (nhiều)
Số phiếu (Tổng 25)
18/25
7/25
Số phần trăm (%)
72

Mức độ
Số phiếu
(Tổng25)
Số phần
trăm
(%)

Ngủ nhanh

Ngủ đủ thời gian cần
thiết

Ngủ sâu

Tốt

Trung
bình

Chưa
tôt

Tốt

Trung
bình

Chưa
tốt


12

64

28

8

44

48

8

Bảng 6: Kết quả đánh giá về thực trạng ngủ trưa của trẻ ở trường mầm
non.
Như vậy, theo điều tra thì tôi thấymức độ tốt và trung bình ở ba tiêu chí
của giấc ngủ: ngủ nhanh, ngủ sâu, ngủ đủ thời gian cần thiết là tương đương
nhau và được đáng giá cao.
Trả lời câu hỏi 5:Theo chị những nguyên nhân nào dưới đây làm ảnh
hưởng đến giấc ngủ trưa của trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non.
- Có 5/25 (chiếm 20%) số giáo viên trả lời là do mức độ hoạt động của
trẻ.
- Có 20/25 (chiếm 80%) số giáo viên trả lời là do tình trạng sức khỏe của
trẻ.
- Không có ý kiến khác
Điều tra được hiện qua bảng 7:
Nguyên nhân

Do mức độ hoạt

cho rằng tình trạng sức khỏe của trẻ là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến giấc
ngủ của trẻ. Số giáo viên cho rằng mức độ hoạt động là nguyên nhân làm ảnh
hưởng đến giấc ngủ của trẻ chiếm tỉ lệ thấp (20%).
Trả lời câu hỏi 6: Theo kinh nghiệm của chị thì tổ chức giấc ngủ trưa
cho trẻ ở trường mầm non như thế nào là có hiệu quả?
- Có 5/25 (chiếm 20%)số giáo viên trả lời là cho trẻ tham gia tích cực
vào các hoạt động.
- Có 9/25 (chiếm 36%) số giáo viên trả lời là tiến hành vệ sinh cho trẻ.
- Có 11/25 (chiếm 44%) số giáo viên trả lời là cho trẻ đi ngủ đúng giờ.
- Ngoài ra các giáo viên còn nêu ra các ý kiến khác như: phải khắc phục
những khó khăn về cơ sở vật chất, quan tâm đến trẻ cá biệt.
Điều tra này được thể hiện qua bảng 8:
Hiệu quả
Số phiếu
(Tống 25)
Số phần trăm (%)

Cho trẻ tích cực
tham gia vào các
hoạt động

Tiến hành vệ sinh Cho trẻ đi ngủ
cho trẻ
đúng giờ

5/25

9/25

11/25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status