MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6. Phương pháp nghiên cứu
B. NỘI DUNG
3
3
4
4
4
4
4
5
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY KĨ NĂNG SỐNG TRONG MÔN ĐẠO
ĐỨC CHO HỌC SINH LỚP MỘT
5
1. Các căn cứ khoa học của đề tài
1.1 Căn cứ vào mục tiêu giáo dục tiểu học
1.2. Căn cứ vào đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học
1.3. Căn cứ vào định hướng giáo dục KNS trong nhà trường tiểu học
2. Giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường tiểu học
2.1. Khái niệm kĩ năng sống
2.2. Giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường tiểu học
HỌC VÕNG LA
1. Một số biện pháp dạy KNS trong môn Đạo đức cho học sinh lớp 1 ở
trường Tiểu học Võng La
1.1. Giáo dục kĩ năng tự nhận thức
1.2. Giáo dục kĩ năng giao tiếp
1.3. Giáo dục kĩ năng hợp tác
1.4. Giáo dục kĩ năng ra quyết định
1.5. Giáo dục kĩ năng đồng cảm, chia sẻ
1.6. Giáo dục kĩ năng làm chủ bản than
1.7. Giáo dục kĩ năng đặt mục tiêu
2. Thực nghiệm khoa học và kết quả
2.1. Mục đích thực nghiệm
2.2. Đối tượng thực nghiệm
2.3. Kết quả thực nghiệm
1
7
7
7
8
8
8
10
13
15
17
19
21
22
đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học,
giáo dục phổ thông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo
dục thế kỉ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kĩ năng sống, đó là: Học để biết,
Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học để cùng chung sống. Mục tiêu
giáo dục phổ thông đã và đang chuyển hướng từ chủ yếu là trang bị hành vi sang
trang bị những năng lực cần thiết cho các em học sinh. Từ năm học 2010-2011,
Bộ GD-ĐT đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống (KNS) lồng ghép vào các môn
học ở bậc tiểu học. Đây là một chủ trương cần thiết và đúng đắn. Nội dung giáo
dục kĩ năng sống đã được tích hợp trong một số môn học và hoạt động giáo dục.
Một trong những môn học có nội dung giáo dục KNS khá rõ nét đó chính là
phân môn Đạo đức ở lớp 1. Môn Đạo đức giúp học sinh tìm hiểu các hành vi
Đạo đức đơn giản, cơ bản về hành vi thái độ của con người đối với xã hội; chú
trọng đến việc hình thành và phát triển các kĩ năng như quan sát, dự đoán, nêu
thắc mắc, đặt câu hỏi, tìm kiếm thông tin, phân tích, so sánh để giải đáp thắc
mắc,... đặc biệt chú trong đến kĩ năng vận dụng hành vi để ứng xử thích hợp
trong cuộc sống.
Với những đặc điểm về đối tượng và phương pháp nghiên cứu như vậy,
môn Đạo đức ở lớp 1 có khả năng lớn trong việc giáo dục KNS cho học sinh.
Giáo dục KNS là mục tiêu quan trọng trong dạy học môn Đạo đức. Thực hiện
tốt giáo dục KNS trong dạy môn Đạo đức sẽ góp phần chuyển các hành vi thành
thái độ và hành vi tích cực, phù hợp; giúp học sinh có thể xử trí có hiệu quả các
tình huống thực tế trong cuộc sống; giúp cho việc học tập môn Đạo đức có ý
nghĩa; mặt khác giúp các em nắm vững các hành vi Đạo đức. Với nội dung bao
hàm như vậy, đòi hỏi mỗi chúng ta – những nhà giáo dạy Tiểu học – phải truyền
thụ đến học sinh bằng con đường nào để các em không những có hành vi Đạo
đức mà các em còn phải có những kĩ năng cơ bản như: nhận thức về bản thân, về
giao tiếp và ứng xử thích hợp, ra quyết định và giải quyết vấn đề,...Với học sinh
lớp 1, vốn sống còn ít ỏi, các em chưa có nhiều vốn sống cũng như những kinh
nghiệm giải quyết các tình huống có vấn đề nên việc giáo dục KNS thông qua
môn học không phải dễ dàng. Chính vì vậy, mỗi giáo viên khi dạy phân môn
- Đối tượng khảo sát, thực nghiệm: giáo viên và học sinh khối 1 trường Tiểu
học Võng La.
- Thời gian nghiên cứu: năm học 2013 - 2014
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc sách, tài liệu tham khảo, văn
bản để thu thập các tư liệu, thông tin cần thiết liên quan đến đề tài.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát
Phương pháp điều tra
Phương pháp thực nghiệm
- Nhóm phương pháp hỗ trợ
Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp so sánh đối chiếu
4
B - NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY KĨ NĂNG SỐNG TRONG MÔN
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH LỚP 1
1. Căn cứ khoa học của đề tài
1.1. Căn cứ vào mục tiêu giáo dục tiểu học
Luật Giáo dục năm 2005, điều 2 đã xác định Mục tiêu của giáo dục Tiểu
học “Nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển
đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ
bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.”. Như vậy mục tiêu giáo dục Tiểu
học đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho học sinh sang trang bị những
năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hành động, năng lực thực
tiễn.
1.2. Căn cứ vào đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học
độ, hành vi.
5
Vậy kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng
xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực
trước các tình huống của cuộc sống( Có nghĩa là biến cái biết thành cái làm
trong thực tế cuộc sống một cách tích cực nhất)
Kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lí- xã hội cơ bản giúp cho con người
tồn tại và thích ứng, giúp cho con người vững vàng trước cuộc sống có nhiều
thách thức nhưng cũng có nhiều cơ hội trong thực tại.
Kỹ năng sống có thể hình thành tự nhiên, học được từ những trải nghiệm
của cuộc sống và do giáo dục mà có, chính cuộc đời trải nghiệm, va vấp , thành
công, thất bại giúp con người có được bài học quý giá về kỹ năng sống, tuy
nhiên nếu được dạy dỗ từ sớm, con người sẽ rút ngắn thời gian học hỏi, trải
nghiệm, sẽ thành công hơn.
Kỹ năng sống cần cho suốt cả cuộc đời và luôn luôn được bổ sung, nâng
cấp để phù hợp với sự thay đổi của cuộc sống biến động, người trưởng thành
cũng cần học kỹ năng sống.
2.2. Giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường tiểu học
Kỹ năng sống bao giờ cũng gắn với các nội dung giáo dục cụ thể và
thường được phân loại theo các mối quan hệ nhằm giúp người học có khả năng
ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tự hoàn thiện mình. Đó là kỹ năng
nhận biết và sống với chính mình, gồm các kỹ năng như tự nhận thức, ứng phó
với căng thẳng, tự trọng, đương đầu với cảm xúc, thương lượng…; Kỹ năng ra
quyết định một cách hiệu quả, bao gồm các kỹ năng như tư duy phê phán, tư duy
sáng tạo, ra quyết định; Kỹ năng nhận biết và sống với người khác, bao gồm các
kỹ năng như giao tiếp có hiệu quả, cảm thông với người khác, đứng vững trước
áp lực, tiêu cực của bạn bè, người khác (Biết từ chối).
Những người có kỹ năng sống phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những
và bài “ Giữ gìn sách vở, đồ dùng học tập”.
- Giáo dục kĩ năng đặt mục tiêu thông qua bài “ Đi học đều, đúng giờ”.
II. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY KĨ NĂNG SỐNG TRONG MÔN
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH LỚP 1 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC VÕNG LA
1. Đặc điểm của trường tiểu học Võng La
Trường Tiểu học Võng La là một ngôi trường nhỏ thuộc ngoại thành Hà
nội. Trường nằm ở vị trí xa trung tâm nên rất hạn chế trong việc giao lưu và
tham gia các hoạt động lớn được tổ chức trong khu vực. Hơn nữa, số lượng học
sinh của trường ít, đa số là con em nông dân thuần túy, cha mẹ không có việc
làm ổn định, nhiều người làm nghề buôn bán tự do nên thường phải dậy đi làm
từ rất sớm. Học sinh đa số phải tự túc ăn sáng, tự túc trang phục trước khi đến
trường. Do đó, việc lĩnh hội các kĩ năng sống cho bản thân từ gia đình còn nhiều
hạn chế. Chính vì vậy, trong nhà trường, việc lồng ghép kĩ năng sống vào trong
các môn học là điều cần thiết và quan trọng, góp phần hình thành và phát triển
nhân cách cho trẻ. Đặc biệt môn Đạo đức nói chung và môn Đạo đức lớp Một
nói riêng là môn học dễ dàng lồng ghép giáo dục kĩ năng sống, góp phần giúp
học sinh phát triển toàn diện.
2. Thực trạng dạy KNS trong môn Đạo đức cho học sinh lớp 1 ở trường
tiểu học Võng La
2.1. Thuận lợi:
* Về phía giáo viên:
- Thuận lợi lớn của giáo viên hiện nay đó là Bộ GD-ĐT đã phát hành tài liệu
giáo dục KNS cho giáo viên.
- Đã có nhiều năm dạy lớp 1, nắm chắc được phương pháp dạy học các môn nói
chung và phân môn Đạo đức nói riêng.
- Giáo viên được đi tập huấn ở trường Bồi dưỡng cán bộ quản lí về giảng dạy
KNS thông qua các môn học Tiểu học.
- Giáo viên được học tập các chuyên san, chuyên đề do trường tổ chức.
* Về phía häc sinh:
- Học sinh luôn say mê học hỏi, tìm tòi, tìm hiểu thế giới tự nhiên, con người và
là khả năng của con người hiểu về chính bản thân mình như: cơ thể, tư tưởng,
các mối quan hệ của bản thân; biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tiềm năng, tình
cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu, ... của bản thân; quan tâm và
luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả bản thân đang cảm thấy căng thẳng.
Tự nhận thức là một KNS rất cơ bản của học sinh Tiểu học, là nền tảng để
học sinh giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có
thể cảm thông được với người khác. Ngoài ra, có hiểu đúng về mình, học sinh
mới có thể có những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với với
khả năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã hội. Ngược lại đánh
giá về bản thân không đúng có thể dẫn đến những hạn chế, sai lầm, thất bại
trong cuộc sống và giao tiếp với người khác.
Nếu như trước đây dạy học phân môn Đạo đức chỉ đơn thuần là thầy truyền
thụ hành vi, học sinh tiếp thu. Thầy là người định hướng giúp học sinh tìm ra
hành vi và ghi nhớ hành vi, các em học xong không có sự vận dụng hành vi vào
cuộc sống chính vì vậy mà các em rất chóng quên, các kĩ năng sống không được
thể hiện trong cuộc sống. Đặc biệt kĩ năng sống nói chung và kĩ năng tự nhận
thức nói riêng rất mờ nhạt. Giáo dục kĩ năng tự nhận thức cho học sinh thông
qua môn Đạo đức trước hết người giáo viên cần nắm được: nhân cách của học
sinh chỉ được phát triển thông qua chính hoạt động của học sinh. Vì vậy trong
các tiết dạy, tôi luôn chú trọng đến việc tổ chức cho học sinh trao đổi nhóm, thảo
luận các vấn đề, tổ chức công tác tự lập của học sinh. Từ việc nắm bắt được
hành vi của bài các em sẽ chuyển hành vi thành thái độ, hành vi tích cực phù
hợp. Từ đó giáo viên liên hệ tới thực tế cuộc sống của các em giúp các em có kĩ
8
năng nhận thức ngay từ những bài học ở lớp, ở trường. Điều đó giúp các em
thích nghi dần với cuộc sống, tự nhận thức được về mình và hiểu được về mình.
Để nhận thức đúng về bản thân tôi đã giúp các em có nhiều cơ hội được trải
nghiệm qua thực tế, đặc biệt là qua giao tiếp với người khác. Phân môn Đạo đức
thiêng liêng, thể hiện sự tôn nghiêm của mỗi dân tộc. Đó còn là niềm tự hào của
mỗi quốc gia, khẳng định quyền độc lập của đất nước...
Hoặc với bài: Lễ phép với anh chị, nhường nhịn em nhỏ.
* Mục tiêu: Sau bài học, HS biết
- Đối với anh chị cần lễ phép, đối với em nhỏ cần nhường nhịn. Có như
vậy, anh chị em mới hòa thuận, cha mẹ mới vui lòng.
- HS biết cư xử lễ phép với anh chị, nhường nhịn em nhỏ trong gia đình.
* Các kĩ năng được giáo dục trong bài:
Kĩ năng tự nhận thức thái độ và hành động đối với anh chị em trong gia
đình.
Kĩ năng giao tiếp, ứng xử đúng đắn trong mối quan hệ với anh chị em.
9
* Cách tiến hành:
Để giáo dục kĩ năng nhận thức cho học sinh, tôi đã tiến hành cho HS thảo
luận nhóm, phân tích tình huống trong hoạt động 2: Trình bày những cách giải
quyết có thể xảy ra trong tình huống đó.
HS quan sát, nêu nội dung tranh:
GV nêu câu hỏi: Theo em, bạn Lan ở tranh 1 có thể có những cách giải
quyết nào?
+ Lan nhận quà và giữ tất cả cho mình.
+ Lan nhận quà chia cho em quả bé còn mình giữ quả to.
+ Lan chia mỗi người một nửa quả bé, một nửa quả to.
+ Lan chia cho em quả to, nhận phần mình quả bé.
+ Lan nhường cho e chọn trước.
+ Lan cho em cả hai quả táo.
Hỏi: Nếu con là bạn Lan, con sẽ giải quyết thế nào?
Lúc này, tôi sẽ cho HS tự trình bày ý kiến của mình. Qua việc trình bày
của HS và kết quả nhận xét định hướng của GV, tôi đã giáo dục cho HS kĩ năng
người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về
suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ
và sự tư vấn khi cần thiết.
Kĩ năng giao tiếp giúp học sinh biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều
chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm
xúc nhưng không làm hại hay gây tổn thương cho người khác. Kĩ năng này giúp
cho học sinh có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết giữ gìn mối
quan hệ tích cực với mọi người xung quanh; đồng thời biết cách xây dựng mối
quan hệ với bạn bè. Người có kĩ năng giao tiếp biết dung hòa đối với mong đợi
của người khác; có cách ứng xử phù hợp khi làm việc cùng với các bạn.
Trong phân môn Đạo đức, ngoài việc truyền thụ hành vi của bài, việc giáo
dục kĩ năng giao tiếp cho các em luôn được tôi quan tâm. Thông qua các tiết học
tôi đã tạo điều kiện cho các em được nói với nhau, trao đổi với nhau về những
vấn đề của bài học cũng như những vấn đề liên quan tới cuộc sống xung quanh
các em. Các em được lắng nghe ý kiến của nhau và có sự phản hồi tích cực trong
các tiết học. Các em được trình bày mọi suy nghĩ, ý tưởng của mình. Chính
trong những hoạt động đó, kĩ năng giao tiếp của các em được hình thành và phát
triển. Ngoài ra, tôi còn yêu cầu các em vận dụng hành vi đã học vào thực tế cuộc
sống. các em có thể trao đổi với những người xung quanh về những mảng kiến
thức có liên quan đến cuộc sống của mình. Hàng ngày, với những việc làm như
vậy, kĩ năng giao tiếp của các em được phát triển. Việc giáo dục kĩ năng giao
tiếp được lồng ghép trong tiết học rất nhẹ nhàng mà đạt hiệu quả cao.
Thông thường với mỗi bài Đạo đức việc giáo dục kĩ năng giao tiếp thường
được tôi tiến hành trong hoạt động thảo luận - đóng vai xử lí tình huống.
.Ví dụ khi dạy bài: Em là học sinh lớp Một
* Mục tiêu: Sau bài học, HS biết:
Vào lớp Một, em sẽ có thêm nhiều bạn mới, có thầy giáo, cô giáo mới,
trường lớp mới, em sẽ được học thêm nhiều điều mới lạ.
- Hiểu trẻ em có quyền được tôn trọng, không bị phân biệt đối xử.
- Biết phân biệt hành vi chào hỏi, tạm biệt đúng với chào hỏi, tạm biệt
chưa đúng.
Biết chào hỏi, tạm biệt trong các tình huống hàng ngày.
* Các kĩ năng được giáo dục trong bài:
-Kĩ năng phân tích, xử lí thông tin rút ra hành động đúng, hợp tình huống
trong giao tiếp hàng ngày.
-Kĩ năng giao tiếp, ứng xử phù hợp khi sử dụng lời nói: chào hỏi hay tạm
biệt.
* Cách tiến hành:
Để giáo dục HS kĩ năng giao tiếp, ứng xử thông qua bài học, tôi hướng
dẫn HS thông qua hoạt động 3 của bài: Đóng vai
+ Bước 1: Thảo luận chung
Khi chúng ta gặp một ai đó hoặc muốn chia tay với một ai đó ta cần nói
như thế nào?
+ Bước 2: Làm việc theo nhóm:
Tôi chia lớp thành 10 nhóm: 5 nhóm sẽ thảo luận chung một tình huống.
(hoặc chia tổ 1,2 thảo luận nhóm 4 tình huống 1; tổ 3,4 thảo luận nhóm 4 tình
huống 2)
- Tình huống 1: Mai và Lan đang đi trên đường, gặp một bà cụ đang
chống gậy đi tới. Mai và Lan dừng lại lễ phép chào bà.
- Tình huống 2: Quân, Nam và Hà đi học về cùng nhâu. Đến nhà Quân,
Quân nói lời chào tạm biệt các bạn để về nhà.
+ Bước 3: làm việc chung:
Tất cả các nhóm đóng vai theo tình huống của nhóm mình. Nhóm khác bổ
sung.
Giáo viên nêu câu hỏi cho cả lớp thảo luận:
-Trong trường hợp gặp một ai đó, con muốn chào thì con sẽ nói như thế
nào?
-Trong trường hợp con muốn tạm biệt một ai đó, con sẽ nói như thế nào?
người khác. Kĩ năng hợp tác là kĩ năng rất phổ biến trong phân môn Đạo đức lớp
1, nó cho phép học sinh có cơ hội để diễn đạt và khám phá ý tưởng của mình,
mở rộng suy nghĩ hiểu biết và rèn luyện kĩ năng nói. Trong mỗi tiết học, tôi
thường chú trọng đến hoạt động thảo luận nhóm. Ở hoạt động thảo luận nhóm,
giáo viên tổ chức cho học sinh đối thoại với nhau, nhằm huy động trí tuệ của tập
thể, giải quyết một vấn đề do thực tế cuộc sống đòi hỏi để tìm ra hoặc đưa ra
những giải pháp hoặc những kiến nghị, những quan niệm mới. Như vậy kĩ năng
hợp tác được hình thành và tạo ra được môi trường xã hội thuận lợi để trẻ hình
thành tính cách. Để giáo dục kĩ năng hợp tác trong phân môn Đạo đức thì học
sinh giữ vai trò tích cực và chủ động tham gia thảo luận và tranh luận, giáo viên
giữ vai trò nêu vấn đề gợi ý khi cần thiết và tổng kết thảo luận. Giáo dục kĩ năng
hợp tác thông qua thảo luận nhóm, phải có sự tham gia của mọi thành viên thể
hiện:
+ Các em phải nói với nhau
+ Nghe lẫn nhau
+ Đáp lại điều bạn khác nói
+ Đưa ra ý kiến của riêng mình
Để giúp các em có được kĩ năng hợp tác thông qua các tiết học phân môn
Đạo đức tôi đã áp dụng triệt để trong các tiết học song hoạt động giáo dục nhiều
nhất đó là hoạt động thảo luận nhóm.
Ví dụ khi dạy bài: Em và các bạn
* Mục tiêu: Sau bài học, học sinh biết
13
- Trẻ em có quyền được học tập, được vui chơi, có quyền được kết giao
bạn bè.
- Cần phải đoàn kết, thân ái với bạn bè khi cùng học, cùng chơi.
- Có hành vi ứng xử đúng với bạn khi học, khi chơi.
* Các kĩ năng được giáo dục trong bài:
* Các kĩ năng được giáo dục trong bài:
- Kĩ năng lựa chọn và xử lí thông tin.
- Kĩ năng hợp tác giữa các thành viên nhiều nhóm để bảo vệ cây và hoa
nơi công cộng.
- Kĩ năng trình bày suy nghĩ ý tưởng để bảo vệ cây và hoa nơi công cộng
nơi mình đang sống và học tập.
* Cách tiến hành:
Để giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh, tôi tiến hành cho học sinh làm
việc theo nhóm ở hoạt động 3 (tiết 2): Thực hành xây dựng kế hoạch bảo vệ cây
và hoa. (10 phút)
14
+ Bước 1: Làm việc theo nhóm tổ: Thảo luận các vấn đề
. Nhận bảo vệ và chăm sóc cây và hoa ở đâu?
. Thời gian chăm sóc vào bao giờ?
. Bằng những việc làm cụ thể nào?
. Phân công phụ trách việc.
Yêu cầu học sinh thảo luận, trao đổi thông tin, giao nhiệm vụ cụ thể nhằm
xây dựng kế hoạch riêng cho tổ. Phân công nhiệm vụ cho từng thành viên; bảo
đảm công bằng, hợp lí và linh hoạt.
+ bước 2: Làm việc chung (10 phút)
Mỗi tổ sẽ cử đại diện 2 em lên trình bày kế hoạch hành động của tổ mình. Cả
lớp lắng nghe bổ sung và lập kế hoạch thống nhất chung cho cả lớp.
Qua hoạt động này, các em thấy được tác dụng của hợp tác nhóm trong
công việc. Qua việc giáo dục kĩ năng hợp tác tôi thấy các em rất tích cực tham
gia vào hoạt động chung, dễ dàng đưa ra những sáng kiến mới. Các em có ý
thức cộng đồng, cùng gánh vác công việc chung của nhóm để nhóm mình có thể
hoàn thành nhiệm vụ với kết quả cao nhất, không đùn đẩy thoái thác công việc
cho người khác.
ra quyết định đúng đắn, phù hợp giáo viên liên hệ tới học sinh những vấn đề mà
bài học mang đến có liên quan tới cuộc sống của các em. Từ đó các em sẽ phải
tự ra quyết định phù hợp mà không cần đến sự hỗ trợ của người lớn. Kĩ năng ra
quyết định được hình thành trong những tiết học và được ứng dụng trong cuộc
sống của các em.
Ví dụ khi dạy bài: Đi bộ đúng nơi quy định.
*Mục tiêu: Qua bài học, học sinh biết
- Phải đi bộ trên vỉa hè, nếu đường không có vỉa hè phải đi sát lề bên phải.
- Qua đường ở ngã ba, ngã tư phải đi theo đèn tín hiệu và đi vào vạch quy
định.
- Đi bộ đúng nơi quy định là đảm bảo an toàn cho bản thân và cho mọi
người.
* Các kĩ năng được giáo dục trong bài:
- kĩ năng ứng phó, xử lí tình huống đặt ra.
- Kĩ năng giao tiếp, xử lí thông tin.
- kĩ năng ra quyết định và đảm nhận trách nhiệm về việc đi bộ đúng nơi
quy định.
* Cách tiến hành:
Để giáo dục kĩ năng ra quyết định cho học sinh tôi tiến hành cho học sinh
chơi trò chơi ở hoạt động 3 (tiết 2) của bài.
Cho học sinh đứng thành hàng ngang, đội nọ đối diện với đội kia, cách
nhau khoảng 2 đến 5 bước. Người điều khiển trò chơi cầm đèn hiệu đứng ở giũa,
cách đều hai hàng ngang và đọc:
Đèn hiện lên màu đỏ
Dừng lại chớ có đi
Màu vàng ta chuẩn bị
Đợi màu xanh ta đi
( Đi nhanh! Đi nhanh! Nhanh, nhanh, nhanh!)
Học sinh đọc đồng thanh những câu khẩu hiệu được đặt tron g ngoặc đơn.
Giáo viên giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm:
Tình huống: Khi thấy bạn hái hoa, phá hoa nơi công cộng em sẽ ứng xử
như thế nào?
Nhóm 1: Mặc bạn, không quan tâm.
Nhóm 2: Cùng hái hoa, phá cây với bạn.
Nhóm 3: Khuyên ngăn bạn.
Nhóm 4: Mách người lớn.
Bước 2: Làm việc cả lớp
Từng nhóm trình bày cách ứng xử của mình, học sinh các nhóm nhận xét,
rút ra quyết định đúng đắn, phù hợp giúp bảo vệ cây và hoa nơi công cộng là:
Khuyên ngăn bạn không nên làm như vậy và giải thích cho bạn hiểu những ích
lợi mình có khi tham gia vào việc bảo vệ cây và hoa nơi công cộng. Đó còn là
quyền và nghĩa vụ của trẻ em.
Qua việc giáo dục kĩ năng ra quyết định tôi thấy các em không những tiếp thu
hành vi một cách chắc chắn mà các em còn biết vận dụng những kĩ năng đó vào
cuộc sống hàng ngày của các em.
1.5. Giáo dục kĩ năng đồng cảm, chia sẻ:
Trong cuộc sống hằng ngày, ai cũng cần được quan tâm, chia sẻ và ai cũng
cần biết quan tâm, chia sẻ với người khác, nhất là những lúc vui, buồn hoặc gặp
khó khăn, hoạn nạn. Sự quan tâm, chia sẻ phải được xuất phát từ lòng yêu
thương con người.
Đồng cảm là năng lực cảm nhận và hiểu biết sâu sắc tâm trạng, cảm xúc
của người khác ngay cả khi họ ở trong hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt với chúng
ta. Đồng cảm giúp chúng ta biết nỗi đau của người khác, vui buồn cùng họ.
Chia sẻ là cùng người khác san sẻ niềm vui, nỗi buồn, làm cho họ vui càng
thêm vui, nỗi buồn được giảm bớt. Đồng cảm và chia sẻ là hai khái niệm khác
nhau nhưng có quan hệ mật thiết. Có đồng cảm thì người ta mới có chia sẻ,
ngược lại, khi đã chia sẻ người ta sẽ càng cảm thấy đồng cảm hơn.
Cách tốt nhất dạy trẻ lớp 1 hình thành và phát triển kỹ năng đồng cảm, chia
sẻ là thông qua trải nghiệm. Thông qua môn Đạo đức, bước đầu dạy trẻ có kỹ
được lời cô giáo giảng.
+ Mất trật tự trong giờ học khiến cho chính bản thân chúng ta không nghe
giảng được, chúng ta sẽ không hiểu bài và còn làm ảnh hưởng tới mọi người
xung quanh.
+ Chúng ta cần giữ trật tự trong trường học vì điều đó là cần thiết cho bản
thân chúng ta và cho mọi người xung quanh. Nếu mất trật tự không những ảnh
hưởng tới mình mà còn làm ảnh hưởng tới người khác.
Qua hoạt động này, tôi giáo dục cho học sinh kĩ năng đồng cảm, chia xẻ
là phải biết quan tâm đến những người xung quanh, biết vì lợi ích của các bạn
mà có ý thức với bản thân trong mọi hoạt động.
Hoặc với bài: Gia đình em.
*Mục tiêu: Qua bài học, học sinh biết
- Trẻ em có bổn phận phải lễ phép, vâng lời ông bà, cha mẹ và anh chị.
- Yêu quý gia đình mình.
- Yêu thương, kính trọng, lễ phép với ông bà, cha mẹ.
* Các kĩ năng được giáo dục trong bài:
- Kĩ năng giao tiếp với mọi người trong gia đình.
- Kĩ năng đồng cảm, chia xẻ với gia đình và mọi người xung quanh những
khó khăn cũng như công việc vừa sức hàng ngày.
- Kĩ năng phân tích, đảm nhận trách nhiệm.
* Cách tiến hành:
18
Để giáo dục cho học sinh kĩ năng đồng cảm, chia sẻ cho học sinh tôi tiến
hành cho học sinh thảo luận thông qua hoạt động 1 (tiết 2) của bài: Tiểu phẩm
" Chuyện của bạn Long" (do một số học sinh trong lớp đóng)
Bước 1: Xem tiểu phẩm
+ Các vai: Long, mẹ Long, các bạn Long
+ Nội dung:
hợp, tự bảo vệ bản thân trước các tác nhân từ môi trường, tự nhiên.
Thông qua phân môn Đạo đức lớp 1, kĩ năng làm chủ bản thân được thể hiện
rất rõ thông qua việc đảm nhận trách nhiệm. Đó chính là khả năng con người thể
hiện sự tự tin, chủ động và ý thức cùng chia sẻ công việc với các thành viên
trong nhóm. Khi đảm nhận trách nhiệm sẽ tạo được một không khí hợp tác tích
cực, giúp giải quyết vấn đề, đạt được mục tiêu chung của cả nhóm, đồng thời tạo
sự thỏa mãn và thăng tiến cho mỗi thành viên. Thông qua các bài học, kĩ năng
làm chủ bản thân còn giúp các em thể hiện tính kiên định trong mọi hoàn cảnh
19
giúp các em có được chính kiến, quan điểm, thái độ và những quyết định của
bản thân, đứng vững trước những áp lực tiêu cực của những người xung quanh.
Ví dụ khi dạy bài: Gọn gàng, sạch sẽ.
*Mục tiêu: Sau bài học, học sinh biết:
- Thế nào là ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ.
- Ích lợi của việc ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ.
- Biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, đầu tóc, quần áo gọn gàng, sạch sẽ.
* Các kĩ năng được giáo dục trong bài:
- Kĩ năng tự bảo vệ và đảm nhận trách nhiệm thực hiện vệ sinh cá nhân để
phòng các bệnh truyền nhiễm.
- Kĩ năng hợp tác, giúp đỡ.
* Cách tiến hành:
Để giáo dục kĩ năng đảm nhận trách nhiệm cho học sinh tôi tiến hành cho
học sinh thực hành thông qua hoạt động 2 (tiết 2) của bài: Giúp bạn sửa lại quần
áo, đầu tóc gọn gàng, sạch sẽ.
Tổ chức cho học sinh làm việc theo cặp, giúp nhau chỉnh lại trang phục,
đầu tóc và trả lời câu hỏi:
-Muốn trang phục, đầu tóc luôn gọn gàng, sạch sẽ em cần phải làm gì?
Sau đó yêu cầu đại diện học sinh trả lời, học sinh khác lắng nghe và bổ sung ý
Cần phải giữ gìn đồ dùng học tập:
- Không làm dây bẩn, viết bậy, vẽ bậy ra sách vở.
- Không gập gáy sách vở.
- Không xé sách, xé vở.
- Học xong phải cất gọn đồ dùng học tập vào nơi quy định.
- Giữ gìn sách vở, đồ dùng học tập giúp các em thực hiện tốt quyền học
tập của mình.
Qua việc tìm hiểu bài, tôi thấy các em đã biết làm chủ bản thân mình
trong việc thực hiện giữ gìn sách vở, đồ dùng học tập.
Kĩ năng làm chủ bản thân trong học tập nói riêng và trong cuộc sống nói
chung đã được hình thành thông qua các tiết học Đạo đức. Các em ngày càng
hoàn thiện được mình. Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi,
thói quen đạo đức lành mạnh, tích cực trong các mối quan hệ. Từ đó giúp cho
học sinh ngày càng hoàn thiện mình hơn, sống có ích hơn cho bản thân và cộng
đồng xã hội.
1.7. Giáo dục kĩ năng đặt mục tiêu:
Mục tiêu là cái đích mà chúng ta muốn đạt tới trong một khoảng thời gian
hoặc một công việc nào đó. Mục tiêu có thể về nhận thức, hành vi hoặc thái độ.
Kĩ năng đặt mục tiêu là khả năng của con người biết đề ra mục tiêu cho bản
thân trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện được mục tiêu đó.
Muc tiêu có thể được đặt ra trong một khoảng thời gian ngắn, như một ngày,
một tuần (mục tiêu ngắn hạn). Mục tiêu cũng có thể cho một thời gian dài như
một năm hoặc nhiều năm (mục tiêu dài hạn).
Kĩ năng đặt mục tiêu giúp chúng ta sống có mục đích, có kế hoạch và có khả
năng thực hiện được mục tiêu của mình.
Muốn cho một mục tiêu có thực hiện thành công thì phải lưu ý đến những
yêu cầu sau:
- Mục tiêu phải được thể hiện bằng những ngôn từ cụ thể; trả lời được những
câu hỏi như: Ai? Thực hiện cái gì? Trong thời gian bao lâu? Thời điểm hoàn
thành mục tiêu là khi nào?
Bước 2: Đại diện 1 số nhóm đóng vai trước lớp
Bước 3: Nhận xét và thảo luận:
- Nếu em có mặt ở đó, em sẽ nói gì với bạn? Vì sao?
- Để luôn luôn đi học đều, đúng giờ con cần đặt mục tiêu cho mình là gì?
Qua việc trình bày của học sinh, tôi giáo dục cho học sinh cần phải biết đặt
mục tiêu cho mình trong mọi hoạt động hàng ngày. Có đặt mục tiêu và cố gắng
thực hiện tốt thì các em mới hình thành được thói quen và hành vi đạo đức phụ
hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.
Kĩ năng đặt mục tiêu trong học tập nói riêng và trong cuộc sống nói chung đã
được hình thành thông qua các tiết đạo đức. Các em ngày càng hoàn thiện được
mình. Trên cơ sở đó, hình thành những kĩ năng sống cơ bản và cần thiết cho học
sinh, giúp học sinh có thói quen thường xuyên tốt, có hành động chuẩn mực
trong các mối quan hệ.
2. Thực nghiệm khoa học và kết quả
2.1. Mục đích thực nghiệm
Khảo sát tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
2.2. Đối tượng thực nghiệm
Học sinh lớp 1 ở trường Tiểu học Võng La
2.3. Kết quả thực nghiệm
Qua một năm học vừa tìm tòi vừa vận dụng giáo dục các kĩ năng cho học
sinh thông qua môn Đạo đức, bản thân tôi đã thu được một số kết quả như sau:
- Giáo viên không còn lúng túng trong việc dạy lồng ghép KNS vào phân
môn Đạo đức.
- Học sinh tích cực tự giác học tập, say mê với môn học và đặc biệt các kĩ
năng sống của các em được phát triển và được ứng dụng có hiệu quả trong thực
tế.
- Tiết Đạo đức diễn ra sinh động, hấp dẫn mọi đối tượng học sinh. Học
sinh chủ động tìm tòi tranh luận, kĩ năng sống được lồng ghép trong các bài học
một cách tự nhiên không gò bó, áp đặt.
- Qua mỗi tiết học có lồng ghép kĩ năng sống đã trang bị cho học sinh
đức lớp Một nhằm giáo dục cho học sinh mà tôi đã áp dụng. Nó giúp học sinh
lớp tôi học tốt môn đạo đức, có những hành vi đạo đức chuẩn mực và phát huy
tính tích cực của học sinh. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được không
tránh khỏi những mặt còn hạn chế. Vậy tôi rất mong đón nhận được ý kiến đóng
góp của các cấp lãnh đạo, các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi thêm đầy đủ
giúp tôi tiến bộ hơn trong giảng dạy.
2. KHUYẾN NGHỊ
2.1. Đối với cấp trên:
- Cần tổ chức các lớp học về giáo dục lồng ghép kĩ năng sống th ông qua môn
Đạo đức ở lớp Một để giáo viên có điều kiện tìm hiểu thêm.
- Tổ chức các chuyên đề về dạy lồng ghép kĩ năng sống trong phân môn Đạo
đức Một.
- Tăng cường thêm tranh ảnh, tư liệu phục vụ cho việc dạy lồng ghép kĩ năng
sống trong phân môn Đạo đức.
- Tổ chức chuyên đề về lồng ghép giáo dục KNS trong các môn học, đặc biệt là
đưa ra cách thức lồng ghép và phương pháp giảng dạy phù hợp để giáo viên có
thể nâng cao chất lượng dạy học.
2.2. Đối với các bạn đồng nghiệp:
23
Trên đây là việc dạy lồng ghép giáo dục kĩ năng sống thông qua phân
môn Đạo đức lớp Một đã được tôi thử nghiệm và thu được kết quả khả quan.
Mong các bạn đồng nghiệp áp dụng và đóng góp ý kiến để bản sáng kiến của tôi
được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Võng La, ngày 15 tháng 4 năm 2014
Tôi xin cam đoan bản SKKN là do tôi viết,