NGHIÊN CỨU TRUYỀN THÔNG Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
TIẾP CẬN NHÂN HỌC
Trần Thị Thảo*
TÓM TẮT
Nhân học truyền thông là một mảng nghiên cứu khá thú vị không
chỉ vì cách tiếp cận theo quan điểm nhân học mà còn vì những hiệu
ứng xã hội của truyền thông. Khi phân loại truyền thông theo quy mô
giữa một bên là phát tin, truyền tin và một bên là tiếp nhận và phản
hồi thông tin thì truyền thông có ba cấp độ là truyền thông liên cá
nhân, truyền thông tập thể và truyền thông đại chúng. Trong đó,
truyền thông đại chúng thường được cho là hình thức tạo ra hiệu ứng
xã hội mạnh mẽ, nó phát triển cùng với sự xuất hiện của các phương
tiện thông tin đại chúng. Bài viết này nhằm bước đầu tìm hiểu và xác
lập một số khái niệm, quan điểm trong nhân học truyền thông, đặc
biệt là mảng truyền thông đại chúng - một lĩnh vực nghiên cứu còn
nhiều mới mẻ ở Việt Nam.
Từ khóa: Nhân học truyền thông, hiệu ứng xã hội, truyền thông đại
chúng
1. MỞ ĐẦU
Trong vài thập niên gần đây, “truyền thông đại chúng”
thường được đề cập đến với một vai trò nhất định trong những
xã hội hiện đại, có những điều kiện phát triển mạnh những
*
ThS., Khoa Nhân học, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia TP. Hồ
Chí Minh
123
124
“bùng nổ thật sự của truyền thông” (Philippe Breton, Serge
Proulx, 1996, tr. 10).
Khi xem xét truyền thông dưới góc nhìn của nhân học, các
nhà nhân học trên thế giới đã nhận thấy lĩnh vực này “được định
hình trên nền tảng của các mối quan hệ giữa các ngành mới như
nghiên cứu về truyền thông, nghiên cứu về các phương tiện
truyền thông đại chúng, nghiên cứu về văn hóa, nghiên cứu về
phim ảnh, xã hội học truyền thông đại chúng, nhân học hình ảnh
và nhân học truyền thông đại chúng… Một số nhà nghiên cứu
cho rằng, ngành nhân học đã đi sau trong việc nghiên cứu về
phương tiện truyền thông đại chúng, nhưng ít nhất cũng có một
nhà nhân học đi tiên phong trong lĩnh vực này từ nửa đầu thế kỷ
hai mươi, khá lâu trước khi nó trở thành xu hướng nghiên cứu.
Đó là Hortense Powdermaker (1900-1970), một nhà tổ chức lao
động, giáo sư nhân học của trường Queens College, và là học trò
của Bronislaw Malinowski (được xem như là vị cha đẻ của
ngành Dân tộc học). Bà đã thắp ngọn đuốc tiên phong trên con
đường nghiên cứu về Nhân học truyền thông đại chúng” (Kelly
Askew and Richard R. Will (edited), 2002, tr.3).
Từ những năm giữa thập niên 80 của thế kỷ XX, các nhà
nhân học đã bắt đầu tập trung sự chú ý đến các phương tiện
truyền thông đại chúng. Trong một số báo cáo đã xuất hiện việc
mô tả nhân học truyền thông đại chúng như thế nào, hoặc tiến
trình của nó như thế nào. Vào thời điểm chuyển đổi thiên niên
kỷ, hơn một trăm nhà nhân học đã công bố truyền thông đại
chúng hoặc văn hóa đại chúng như là một trong những hướng
nghiên cứu của họ và lợi ích của việc giảng dạy trong quyển
1
Mark Allen Peterson là cựu nhà báo ở Washington, DC. Ông cũng là giáo sư của
khoa nghiên cứu quốc tế và nhân học ở đại học Miami. Ông đã xuất bản nhiều bài
báo về truyền thông đại chúng ở Mỹ, Nam Á và Trung Đông, và ông cũng giảng
dạy các khóa học từ phương pháp nghiên cứu nhân học đến truyền thông đại chúng
tại đại học American ở Cairo, Đại học Hamburg, Đại học Georgetown và trường
Gettysburg.
126
nhân học truyền thông về lối ứng xử của người Jamaica khi họ
mua sắm, sở hữu và sử dụng phương tiện liên lạc thông tin
không dây này, xem xét những ảnh hưởng của điện thoại di
động đến giáo dục, sức khỏe và tội phạm ở Jamaica.
Ở Việt Nam, vẫn chưa có nhiều ấn phẩm chuyên khảo về
lĩnh vực nhân học truyền thông bởi lĩnh vực này là sự kết hợp
của ngành khoa học về nhân học và truyền thông (cũng còn khá
mới mẻ ở Việt Nam). Điều này khác với tình hình nghiên cứu về
truyền thông của các nhà xã hội học ở Việt Nam, trong đó có thể
kể đến các tác phẩm nghiên cứu có tính hệ thống về xã hội học
truyền thông của nhà nghiên cứu, nhà báo Trần Hữu Quang như:
Chân dung công chúng truyền thông (qua khảo sát xã hội học
tại TPHCM), 2001; Xã hội học báo chí, 2006… Nhà nghiên cứu
Tạ Ngọc Tấn cũng có những giới thiệu về các phương tiện
truyền thông đại chúng hiện đại, các nguyên tắc, phương pháp
nhằm quản lý, điều hành, phát huy vai trò sức mạnh của các loại
hình phương tiện truyền thông đại chúng qua quyển Truyền
thông đại chúng, được xuất bản lần đầu vào năm 2001, và tái
biên), 2002, tr. 1053). Truyền thông thường được xem xét như
một quá trình truyền đạt thông tin được thực hiện qua ngôn ngữ
hoặc các cử chỉ, điệu bộ hoặc các hành vi biểu lộ cảm xúc, vì thế
mà một số nhà nghiên cứu đã phân biệt truyền thông với hai loại
hình là truyền thông bằng ngôn từ (verbal) và truyền thông không
bằng ngôn từ (non-verbal). Khái niệm truyền thông có thể được
định nghĩa như sau: truyền thông là một quá trình truyền đạt, tiếp
nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa
con người với con người (Trần Hữu Quang, 2006, tr. 3).
Như vậy truyền thông được xem xét như một quá trình và
để thiết lập được các mối liên hệ giữa con người với con người
cần đặt nó vào bối cảnh của không gian và thời gian. Nếu truyền
thông giữa người ở nơi này với người ở nơi khác, tổ chức này
128
với tổ chức khác được xem như bối cảnh không gian thì truyền
đạt thông tin từ thời điểm này đến thời điểm khác trong chiều
dài lịch sử nhờ vào các phương tiện lưu trữ văn bản, hình ảnh,
âm thanh… được xem như là bối cảnh thời gian. Thông tin được
chuyển đạt nhanh nhất đến cộng đồng cư dân chính là nhờ vào
quá trình truyền thông. Vì thế mà trong tác phẩm Sức mạnh của
tin tức truyền thông, Michael Schudson đã nhận định rằng
“nhiều thông tin đến với người dân nói chung qua truyền thông
chứ không qua chuyên gia trung gian” (Michael Schudson,
2003, tr. 272).
Khi nhắc đến quá trình truyền thông và mô hình của quá
trình ấy, người ta thường nhắc đến công thức nổi tiếng của
Harold D. Lasswell là “Ai, nói cái gì, bằng kênh nào, cho ai, và
có hiệu quả gì?” (“Who says what in which channel to whom
Roman Jakobson phác thảo một cách khá hoàn chỉnh và mô
hình này được Michel de Coster phác họa thành sơ đồ với trình
tự bốn giai đoạn chính như sau: phát tin, truyền tin, nhận tin và
phản hồi.
130
Mối liên hệ giữa cá nhân với xã hội thể hiện qua quá trình
truyền thông. Có sự khác biệt giữa hai khái niệm “truyền thông
đại chúng” và “các phương tiện truyền thông đại chúng”. Thuật
ngữ “các phương tiện truyền thông đại chúng” (mass media)
được dùng để chỉ những công cụ kỹ thuật hay những kênh mà
nhờ vào đó người ta mới có thể tiến hành quá trình truyền thông
đại chúng, nghĩa là việc phổ biến, loan truyền thông tin ra mọi
người. Trong tiếng Anh, chữ mass media bao gồm hai thành
phần : mass có ý nghĩa là “đại chúng” và media (gốc từ tiếng
La-tinh là medium, thể số nhiều là media) có nghĩa ban đầu là
“trung gian”, ở đây có ý nghĩa là các phương tiện hay công cụ.
Do đó, thuật ngữ “các phương tiện truyền thông đại chúng” có
nghĩa là các công cụ trung gian có chức năng vận chuyển thông
tin ra các tầng lớp công chúng. Còn thuật ngữ “truyền thông đại
chúng” (mass communication) là thuật ngữ được dùng để chỉ
một quá trình xã hội: quá trình truyền tải thông tin một cách
rộng rãi ra công chúng (Dẫn lại theo Trần Hữu Quang, 2006, tr.
16). Điểm cơ bản để xác định một hành vi có nằm trong quá
trình truyền thông đại chúng tùy thuộc vào việc hành vi đó có
nằm trong quá trình truyền tải và tiếp nhận thông tin qua các
phương tiện thông tin đại chúng, chứ không phải là việc sử dụng
thiết bị kỹ thuật nào.
34). Chính vì thế, xem xét nhân học truyền thông cần phải đặt
trong mối quan hệ liên ngành, xuất phát từ nhân học văn hóa xã
hội, liên quan đến ngôn ngữ học, nhân học ngôn ngữ và xã hội
học truyền thông.
Một số nhà nhân học vẫn coi ngôn ngữ như là nền tảng của
khoa học về con người. Việc nghiên cứu luôn đòi hỏi các nhà
nhân học phải sử dụng thông thạo ngôn ngữ của cộng đồng tộc
người mà họ muốn nghiên cứu. Ngôn ngữ học chú trọng đến lịch
sử, cấu trúc và cách sử dụng ngôn ngữ… những khái niệm và
thực tiễn ngôn ngữ. Trong khi đó, nhân học sẽ chú trọng hơn đến
132
hành vi của ngôn từ như Hymes nhận định “… đây là một cơ hội
để phát triển những mối ràng buộc mới, thông qua những đóng
góp vào việc nghiên cứu hành vi ngôn từ mà chỉ có sự cộng tác
giữa ngôn ngữ học và nhân học mới có thể mang lại. Điều này
rộng lớn hơn là việc đưa ngôn ngữ học vào việc nghiên cứu
những vấn đề khoa học khác, chẳng hạn như hành vi tri nhận hay
hành vi biểu cảm” (Dell H. Hymes, , 2006, tr. 144). Nhân học
truyền thông sẽ chú ý hơn đến hành vi tri nhận và biểu cảm mang
đậm tính tộc người với cách sử dụng ngôn ngữ trong những cộng
đồng khác biệt. Quan điểm so sánh trong nghiên cứu nhân học sẽ
thể hiện rõ ở đây.
Đối với nhân học, hoạt động truyền thông đặc biệt là truyền
thông đại chúng cũng được xem xét như một quá trình xã hội.
Quá trình truyền thông đại chúng là một quá trình xã hội đặc thù
bao gồm ba thành tố là: Hoạt động truyền thông; Các nhà
truyền thông; và công chúng độc giả hoặc khán thính giả. Chính
ba thành tố này cũng trở thành đối tượng nghiên cứu nói chung
Giai đoạn thứ nhất từ khoảng đầu thế kỷ XX cho đến cuối
những năm của thập niên 1930. Giai đoạn đầu này các nhà
nghiên cứu đã đề cập đến quan niệm về sức tác động to lớn của
các phương tiện truyền thông đại chúng đối với ứng xử và suy
nghĩ của người dân. Sang đến giai đoạn thứ hai từ khoảng
những năm 1940 cho đến đầu những năm 1960 thì các nhà
nghiên cứu đã bớt đánh giá cao vai trò, khả năng tác động to
lớn của các phương tiện truyền thông đại chúng, bởi nó không
mang tính trực tiếp mà luôn đi qua bộ lọc, các bước trung gian.
Trong giai đoạn hai này, các nhà nghiên cứu cũng chú ý nhiều
hơn đến bối cảnh xã hội và bắt đầu quan tâm chú ý đến những
kênh truyền thông liên cá nhân, lưu tâm đến nhân tố cơ cấu xã
hội trong quá trình truyền thông đại chúng. Giai đoạn thứ ba
bắt đầu từ khoảng thập niên 1960 trở lại đây, có nhiều xu
hướng và quan điểm nghiên cứu khác nhau về truyền thông
134
xuất hiện. Các đề tài nghiên cứu cũng đa dạng hơn, không chỉ
xoay quanh việc đánh giá tác động, vai trò của truyền thông đại
chúng mà còn mở rộng nghiên cứu về nội dung các thông điệp
của truyền thông đại chúng, quá trình truyền thông đại chúng,
quá trình sản xuất của các phương tiện truyền thông đại chúng,
nghiên cứu về các tổ chức và lao động của bản thân những
người làm công tác truyền thông, cách thức tiếp nhận truyền
thông đại chúng nơi người dân và việc người dân sử dụng các
phương tiện thông tin đại chúng như thế nào trong cuộc sống
của họ (Trần Hữu Quang, 2001, tr. 22-26).
Xuất phát từ ba quan điểm chính của ngành nhân học là tính
toàn diện; tính so sánh đối chiếu; và phạm vi rộng lớn cả về
dùng lời nói, họ truyền ý tứ của mình qua cách ăn mặc, qua cách
đi đứng, và thậm chí bắt người khác chờ đợi mình lâu hay mau”
(Emily A. Schultz và Robert H. Lavenda, 2001, tr. 126).
Bên cạnh đó, việc các nhà nhân học nhận định vai trò của
các phương tiện truyền thông đại chúng đối với quá trình phát
triển và thay đổi của các nền văn hóa cũng góp ý tưởng cho
những nghiên cứu về tác động qua lại của truyền thông đến việc
bảo tồn và biến đổi của các nền văn hóa. Các tác giả của tác
phẩm Nhân học một quan điểm về tình trạng nhân sinh cũng đã
đưa ra ý tưởng về việc “nhờ vào những tiến bộ trong kỹ thuật
thông tin, trong tiến trình sản xuất và trong việc tiếp thị đã xóa
hẳn ranh giới địa lý giữa những nền văn hóa…” (Emily A.
Schultz và Robert H. Lavenda, 2001, tr. 499).
Từ đối tượng nghiên cứu của nhân học truyền thông, có thể
đề xuất một số lĩnh vực nghiên cứu của bộ môn này như: truyền
thông bằng lời (verbal) hoặc không bằng lời (non-verbal), phân
tích ngôn ngữ, phân tích diễn ngôn; những ứng xử và hành vi
ngôn ngữ; những ký hiệu biểu tượng trong hoạt động truyền
thông, các phương tiện truyền thông và việc sử dụng các phương
tiện truyền thông… Từ những lĩnh vực nghiên cứu trên, có thể
136
triển khai thành những đề tài cụ thể hơn. Chẳng hạn như việc sử
dụng ngôn từ khác biệt bằng lời hoặc không bằng lời khi cần trao
đổi thông tin giữa những người trong cùng một nhóm phân chia
theo giới, theo lứa tuổi, theo tầng lớp xã hội, theo sở thích, theo
nghề nghiệp… Nghiên cứu này cũng có thể đặt trong sự so sánh
với những cộng đồng tộc người khác nhau. Nét khác biệt trong
văn hóa dẫn đến cách sử dụng ngôn từ của trẻ em ở một cộng
mạnh đến việc so sánh giữa các nhóm thanh niên thuộc về các
cộng đồng tộc người khác nhau, trình độ học vấn khác nhau, đặc
điểm văn hóa tôn giáo khác nhau… Các phim cộng đồng, một
hình thức mới của nhân học hình ảnh, với sự tham gia trực tiếp
của những người dân trong cộng đồng từ khâu góp ý tưởng đến
trực tiếp quay phim và dàn dựng… chuyển tải những thông điệp
truyền thông nhất định. Qua đó các nhà nghiên cứu có thể thấy
được lối ứng xử của cư dân với những nét tương đồng hoặc khác
biệt trong đời sống hàng ngày khi có máy quay phim hoặc không
có máy quay phim.
Như vậy điểm mạnh của nhân học khi nghiên cứu về truyền
thông chính là việc đặt nghiên cứu vào trong bối cảnh xã hội và
chú ý đến đối tượng nghiên cứu là cộng đồng tộc người cụ thể
với những đặc điểm văn hóa riêng biệt. Từ những khác biệt văn
hóa dẫn đến lối ứng xử khác biệt của cư dân ở những cộng đồng
tộc người khác nhau. Ngôn ngữ với vai trò như một dạng tín
hiệu để chuyển tải thông tin sẽ được mã hóa và giải mã theo
những phương thức khác biệt mà yếu tố văn hóa của cộng đồng
tộc người là một trong những nhân tố quyết định.
6. KẾT LUẬN
Với đà phát triển của xã hội hiện đại, vai trò của truyền
thông, đặc biệt là truyền thông đại chúng, ngày càng trở nên
quan trọng. Trong một chừng mực, có thể thấy, xã hội hiện nay
mang tính chất của xã hội truyền thông, con người sống trong xã
hội luôn có nhu cầu nắm bắt thông tin, từ những vấn đề nổi bật
138
mang tính thời sự có tầm ảnh hưởng rộng lớn trong xã hội đến
những nội dung liên quan với đời sống hàng ngày của người dân
xuất bản ở Việt Nam. Qua đó, nhân học truyền thông có thể vận
dụng kế thừa và ngày càng làm sáng tỏ các khái niệm, các quan
điểm khi nghiên cứu lĩnh vực truyền thông.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Emily A. Schultz và Robert H. Lavenda, 2001, Nhân học Một quan điểm về tình trạng nhân sinh, do Phan Ngọc
Chiến, Hồ Liên Biện dịch, NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
2. Kelly Askew and Richard R. Will (edited), 2002, The
Anthropology of Media, A reader, Backwell Publishers.
3. Mark Allen Peterson, 2005, Anthropology and Mass
Communication, Media and Myth in the New Millennium,
first paperback edition published, Berghahn Books.
4. Michael Schudson, 2003, Sức mạnh của tin tức truyền
thông (bản dịch cuốn The Power of News, Harvard, Harvard
University Press, 1995, người dịch: Thế Hùng, Trà My),
NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
5. Philippe Breton, Serge Proulx, 1996, Bùng nổ truyền thông,
sự ra đời một ý thức hệ mới, bản dịch củaVũ Đình Phòng,
NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
6. Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê (chủ biên), 2002, Từ điển
tiếng Việt, in lần thứ tám, NXB Đà Nẵng, Trung tâm Từ
điển học, HN-Đà Nẵng .
7. Trần Hữu Quang, 2001, Chân dung công chúng truyền
thông (qua khảo sát xã hội học tại TPHCM), NXB Tổng
140
hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thời báo Kinh tế Sài Gòn,
Trung tâm Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương,.