Nghiên cứu kĩ thuật nhân giống và chăm sóc cây con ba kích tím (morinda offcinalis how) có xuất xứ thừa thiên huế tại vùng cát nội đồng tỉnh thừa thiên huế - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Lâm Nghiệp

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu kĩ thuật nhân giống và chăm sóc cây con Ba
kích tím (Morinda offcinalis How) có xuất xứ Thừa Thiên Huế tại
vùng cát nội đồng tỉnh Thừa Thiên Huế

Sinh viên thực hiện

: Trần Đăng Quý

Lớp

: QLR45B

Giáo viên hướng dẫn

: Ths. Nguyễn Hợi

Bộ môn

: QLTNR&MT

NĂM 2015


TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Việt Nam là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên cây thuốc rất

Đề tài đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các giá thể khác nhau đến
sinh trưởng chiều cao của cây con Ba kích kết quả cho thấy sau 2 tháng đầu tiên
cây con sinh trưởng chiều cao bình quân 2cm, sinh trưởng chậm ở tháng đầu tiên


và có dấu hiệu sinh trưởng nhanh vào tháng thứ 2. Mặc dù có sự khác nhau về
khả năng sinh trưởng chiều cao của cây con được trồng trên các giá thể khác
nhau tuy nhiên do hạn chế về thời gian nên sự khác biệt này là chưa đáng kể.
Bên cạnh nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể, đề tài còn tiến hành nghiên
cứu ảnh hưởng của chế độ che bóng đến khả năng sinh trưởng chiều cao của cây
con. Kết quả nghiên cứu cho thấy về mặt trực quan sự sinh trưởng chiều cao của
cây con tốt ở các chế độ che bóng 50% và 75% và sinh trưởng có phần hạn chế
ở các chế độ che bóng 0% và 25%. Tuy nhiên chưa đánh giá được sự ảnh hưởng
của chế độ che bóng đến sinh trưởng của cây con về mặt thống kê.


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Hiện trạng các loài đất theo nguồn gốc phát sinh trên địa bàn tỉnh
Thừa Thiên Huế.................................................................................................24
Bảng 4.2. Tăng trưởng GDP của tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 2010.....................................................................................................................27
Bảng 4.3. Vốn thu hút đầu tư vào tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 2010.....................................................................................................................28
Bảng 4.4. Tỷ lệ ra rễ của hom Ba kích sau thời gian 1 tháng......................40
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của giá thể ruột bầu đến sự sinh trưởng chiều cao của
cây con Ba kích(cm)..........................................................................................42
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của chế độ che bóng đến sinh trưởng chiều cao của
cây con Ba kích .................................................................................................44
(Đvt: cm).............................................................................................................44


DANH MỤC CÁC HÌNH

CHƯƠNG III.....................................................................................................17
ĐỐI TƯỢNG, PHAM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG.....................................18
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................................18
3.1. Mục tiêu nghiên cứu..................................................................................................................18
3.1.1. Mục tiêu chung...................................................................................................................18
3.1.2. Mục tiêu cụ thể...................................................................................................................18
3.2 Nội dung nghiên cứu...................................................................................................................18
3.3. Phạm vi nghiên cứu...................................................................................................................18


3.4. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................................................19
3.4.1. Thừa kế số liệu thứ cấp.......................................................................................................19
3.4.2 Thu thập số liệu sơ cấp........................................................................................................19
3.4.3. Xử lí và phân tích số liệu....................................................................................................20

CHƯƠNG IV.....................................................................................................21
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN................................................21
4.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của Tỉnh Thừa Thiên Huế..................................................21
4.1.1. Điều kiện tự nhiên..............................................................................................................21
4.1.1.1. Vị trí địa lý....................................................................................................................21
4.1.1.2. Địa hình, địa thế...........................................................................................................21
4.1.1.3. Khí hậu thủy văn..........................................................................................................22
4.1.1.4. Đất đai, thổ nhưỡng – thảm thực vật..........................................................................24
4.1.1.5. Đặc điểm nhóm cồn cát và đất cát biển ở T.T Huế.......................................................25
4.1.1.6. Thực trạng đất đồi núi và đất cát chưa sử dụng chưa quy hoạch cho lâm nghiệp.......26
4.1.2. Tình hình kinh tế xã hội của Tỉnh Thừa Thiên Huế..............................................................26
4.1.2.1. Dân cư và nguồn lao động...........................................................................................27
4.1.2.2. GDP.............................................................................................................................27
4.1.2.3. Tổng vốn thu hút đầu tư..............................................................................................27
4.1.2.4. Kim ngạch xuất - nhập khẩu........................................................................................28

khai thác, buôn bán và sự quản lý kém hiệu quả tại nhiều địa phương. Nhất là
hiện nay nhu cầu của con người về nguồn dược liệu ngày càng tăng đang gây lên
áp lực lớn với vấn đề bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây dược liệu.
Ba kích (Morinda spp.) là dạng cây thân thảo sống lâu năm, có rễ củ dùng
làm thuốc. Rễ củ của Ba kích có tác dụng ôn thận, tráng dương, chống viêm,
tăng cường sức đề kháng…(theo Thuốc Đông dược). Ngoài tự nhiên cung như
thói quen của người dân đang khai thác và sử dụng khá nhiều giống loài khác
nhau để làm thuốc với nhiều cái tên khác nhau như Ba kích tím, Ba kích lông,
Ba kích vàng, Ba kích trắng…để chỉ các giống loài khác nhau theo kinh nghiệm
dân gian nhưng lại thiếu các thông tin về mặt khoa học. Mặt dù vậy, đây cũng là
loài dược liệu được người dân quen dùng nhiều như một loại sâm vì vậy nó
không chỉ có ý nghĩa về mặt y học mà còn có giá trị kinh tế, rễ Ba kích trên trên
thị trường có giá từ 300 – 500 nghìn đồng/kg. Hiện nay, Ba kích là loài đang bị
đe dọa nghiêm trọng ngoài tự nhiên do khai thác chưa chú trong đến việc nhân
giống và gây trồng.
Thực tế hiện nay,việc tiến hành tuyển tập các giống, loài, xuất xứ khác
nhau, khảo sát các đặc điểm phân biệt cũng như khả năng cung cấp sản phẩm và
khả năng gây trồng theo hướng cung cấp nguyên liệu và một việc làm rất cấp
thiết nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội cũng như nâng cao hiệu quả bảo tồn được
loài ngoài tự nhiên. Trước thực trạng trên việc thực hiện đề tài” Nghiên cứu kĩ
thuật nhân giống và chăm sóc cây con Ba kích tím (Morinda offcinalis How) có
xuất xứ Thừa Thiên Huế tại vùng cát nội đồng tỉnh Thừa Thiên Huế. ” là rất cấp
thiết và thiết thực.

1


CHƯƠNG II
TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan vê cây thuốc trên thế giới



thuốc. Trong đó ở Trung Quốc đã có tới trên 10.000 loài thực vật được xem là
loài cây thuốc, Ấn Độ có hơn 6.000 loài, vùng nhiệt đới Đông – Nam Á khoảng
6.500 loài…( dẫn từ Nguyễn Tập, 2007).
Theo Lewington (1993) đã thống kê trên thế giới có hơn 35.000 loài thực
vật đang được sử dụng trong các nền văn hoá khác nhau vào mục đích chữa
bệnh. Nhiều loài trong số chúng là đối tượng không thể kiểm soát được trong
các hoạt động buôn bán ở quy mô địa phương hoặc quốc tế (dẫn từ Phạm Văn
Điển và Phạm Minh Toại, 2005).
Nguồn gen cây thuốc đang ở trong tình trạng bị đe doạ do mất môi trường
sống, nạn phá rừng, thiên tai, sự khai thác cạn kiệt,… Có rất nhiều bằng chứng chỉ
ra rằng sự đa dạng nguồn gen thực vật, bao gồm cả cây thuốc, đang bị suy giảm
một cách trầm trọng ở nhiều nước trên thế giới. Tình trạng này càng trở nên trầm
trọng ở những nơi có mật độ dân số cao, tốc độ đô thị hoá nhanh, và nạn phá rừng
thường xuyên xảy ra, đặc biệt là các nước Nam và Đông Nam châu Á. Những
quốc gia có nguồn gen cây thuốc phong phú cần phải nổ lực hơn nữa để sưu tập,
giữ gìn và bảo tồn nguồn gen quý này để phục vụ cho hoạt động nghiên cứu và sử
dụng chúng một cách có hiệu quả ( Md Mamtazul Haque, 2004).
Trên thế giới có rất nhiều loài thực vật quý hiếm nhưng do các hoạt động
khai thác bừa bãi của con người nên chúng đã dần cạn kiệt và có nhiều loài đã bị
tuyệt chủng. Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn 100
năm trở lại đây có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000
loài có thể gặp rủi ro hoặc sự tồn tại của chúng là rất mong manh vào giữa thế
kỷ tới, nếu chiều hướng này vẫn cứ tiếp tục thì các loài thực vật này càng có
nguy cơ bị đe doạ tuyệt chủng, trong số này có nhiều cây được dùng làm thuốc.
Ví dụ ở Banglades có loài Tylopora cindica (Bunrm.F.) Mer. dùng để chữa bệnh
hen, loài Zanonia indica L. dùng để tẩy xổ trước đây có rất nhiều nhưng do khai
thác quá mức nên hiện nay chúng đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng
(Islam A.S, 1991). Loài Ba gạc (Rauvofia serpentine (L.) Bennth. Ex Kurz)

Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc không được tư liệu hoá và bị thất truyền
2.1.3. Hoạt động bảo tồn tài nguyên cây thuốc
Bảo tồn nguyên vị (In-situ conservation): Chỉ có một số nước tham gia.
Một trong những nước này là Sri Lanka, với 50 khu bảo tồn cây thuốc. Tại Ấn
Độ có 30 trung tâm bảo tồn nguyên vị. Tại Trung Quốc các khu bảo tồn tài
nguyên cây thuốc cũng được thành lập.
Bảo tồn chuyển vị ( Ex-situ conservation): Năm 1989, tổ chức bảo tồn các
vườn thực vật Quốc tế (BGCI) đã phối hợp với UICN và WWF xây dựng “
chiến lược bảo tồn ở các vườn thực vật”. Trên thế giới có khoảng 1.500 vườn
thực vật đã xây dựng, trong đó có khoảng 152 vườn can 33 quốc gia chuyên
trồng cây thuốc hay trồng kết hợp với các cây kinh tế khác. Vườn thực vật ở
Tokyo có khoảng 1.600 loài, vườn thực vật Mêxico, vườn thực vật ở Bungari,
Séc, Ba Lan cũng rất lớn và có nhiều loài được gây trồng.

4


Đã có một số nước gây trồng cây thuốc với quy mô lớn phục vụ y tế và
công tác bảo tồn như Trung Quốc, Ấn Độ (Trần Văn Ơn, 2003).
Vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung, bảo tồn cây thuốc nói riêng
đang được nhiều quốc gia và các tổ chức quôc tế quan tâm.
2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam
2.2.1. Vài nét về y học cổ truyền Việt Nam
Y học cổ truyền (YHCT) Viêt Nam ra đời rất sớm và gắng liền với sự phát
triển của lịch sử và truyền thống văn hoá dân tộc (YHCT bao gồm YHCT chính
thống và YHCT bản địa của các dân tộc thiểu số). Trải qua hàng ngàn năm lịch
sử YHCT Việt Nam đã đúc kết dược nhiều kinh nghiệm phòng bệnh có hiệu quả
trong suốt những năm 1884 – 1945, y học hiện đại xâm nhập vào Việt Nam qua
người Pháp. Y học hiện đại được sự bảo trợ, ủng hộ của chính quyền thực dân,
trong khi YHCT bị coi thường khinh rẻ nên YHCT hầu như không được quan

cứu Việt đã có hàng nghìn năm lịch sử, từ thực tiễn đúc rút thành lý luận. Những
người thầy thuốc châm cứu tiếp tục phát huy vốn quý đó của y học cổ truyền,
kết hợp y học hiện đại xây dựng nền y học có đầy đủ tính chất khoa học, dân
tộc, đại chúng.
2.2.2 Lược sử các nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam
Việt Nam là nước có hệ thực vật rất phong phú và đa dạng. Tổng số loài
thực vật đã ghi nhận cho Việt Nam là 10.500 loài, ước đoán hệ thực vật Việt Nam
có khoảng 12.000 loài. Trong số này, nguồn tài nguyên cây làm thuốc chiếm
khoảng 30%. Kết quả điều tranguồn tài nguyên dược liệu ở Việt Nam giai đoạn
2001-2005 của Viện Dược liệu (2006) cho biết ở Việt Nam có 3.948 loài thực vật
bậc cao, bậc thấp và nấm lớn được dùng làm thuốc. Trong đó nhóm thực vật bậc
cao có mạch có 3.870 loài. Những cây thuốc cógiá trị sử dụng cao, có khả năng
khai thác trong tự nhiên là những cây thuốc nằm trong danh mục 185 cây thuốc
và vị thuốc thiết yếu của Bộ Ytế cũng như những cây thuốc đang được thị trường
dược liệu quan tâm gồm có 206 loài cây thuốc có khả năng khai thác.
Cho đến nay, Việt Nam vẫn được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên
sinh vật đa dạng và phong phú, có khoảng 10% số loài đặc hữu, được xếp thứ 16
trong 25 quốc gia có mức độ đa dạng sinh vật cao nhất thế giới.Đó là chưa kể
đến những cây thuốc gia truyền của 54 dân tộc thiểu số ở Việt Nam mà cho đến
nay chúng ta mới chỉ biết được một phần. Phần lớn cây thuốc dân tộc ở Việt
Nam chưa được thống kê, không có trong các sách về cây thuốc đã xuất bản.
Ngay cả các chuyên gia về cây thuốc cũng không biết có bao nhiêu loài, nhưng
chắc chắn đó là một con số không nhỏ. Ngoài thực vật hoang dã, các nhà khoa
học nông nghiệp đã thống kê được 1.066 loài cây trồng, trong đó cũng có 179
loài cây làm thuốc.
Với một hệ thực vật như vậy, thành phần các loài cây thuốc cũng rất phong
phú và đa dạng. Chúng phân bố tập trung chủ yếu ở các trung tâm đa dạng sinh
vật, trong đó có khu vực dãy Trường Sơn. Cho đến nay, chúng ta chưa có danh
sách đầy đủ về số loài, sự phân bố và trữ lượng của cây thuốc ở khu vực rộng
6

quả (ở Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang). Theo thống kê chưa đầy đủ, đến năm
2002, tổng diện tích rừng có trồng Thảo quả ở Việt Nam là 1.626 ha. Trong đó,
riêng tỉnh Lào Cai có 1.500 ha. Trung bình, mỗi hecta trồng Thảo quả cho 250
Kg/năm; giá bán như hiện nay khoảng 60.000 đến 70.000 đ/Kg, thì thu được
khoảng 15 - 17,5 triệu đồng/ha/năm. Thu nhập từ Thảo quả của một hộ gia đình
ở Bản Khoang vào khoảng 5.170.000 đồng/năm, tương đương 345 USD (2001).
Nguồn thu nhập này chiếm khoảng 50% tổng thu nhập của hộ. Đó cũng là một
khoản thu nhập đáng kể của người dân ở miền núi.
7


Theo kinh nghiệm ở Sa Pa, thu nhập từ trồng cây thuốc đạt 14-24 triệu
đồng/ha/năm, trong khi thu nhập từ cây lương thực chỉ đạt 2,4-4,8 triệu
đồng/ha/năm
Việc bảo tồn nguồn gen cây thuốc được tiến hành dưới hình thức bảo tồn
đa dạng sinh học tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn,...
Với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và khí hậu đã tạo nên mức độ đa
dạng sinh học về khu phân bố, chủng loại tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam.
Từ 1997, Bộ Y tế hàng năm cấp kinh phí cho “Dự án Bảo tồn cây thuốc cổ
truyền” trong khuôn khổ “Chương trình hỗ trợ hoạt động của ngành”. Kết quả
của chương trình này đã ghi nhận tại một số địa phương nhiều loài cây thuốc
mới cùng với tri thức y học cổ truyền của đồng bào dân tộc.
Cùng với sự phát triển của lịch sử, kinh nghiệm dân gian về sử dụng thuốc
ở Việt Nam ngày càng trở nên phong phú, hiệu nghiệm, gắn liền với tên tuổi của
nhiều vị danh y nổi tiếng như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông. Tuệ Tĩnh đã viết
nhiều sách thuốc và phương pháp chữa bệnh. Rất tiếc, nhiều công trình quý giá
của ông đã bị mai một, hiện chỉ còn sót lại hai bộ Nam dược thần hiệu đề cập
đến 496 vị thuốc nam và bộ Hồng Nghĩa giác tư y thư gồm 600 vị thuốc ở Việt
Nam và cách sử dụng.
Kế thừa Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh vào thế kỷ XVII Lê Hữu Trác

(Ampelopsis cantoniensis Hook. Et Arn.) để chữa bệnh của người Tày ở Cao
Bằng; cây Tật lê (Tribulus terrestris L.), dựa trên tri thức sử dụng của người
Chăm, vv. Trong các nền y học nhân dân, mỗi cộng đồng miền núi (cấp xã)
thường biết sử dụng từ 300 - 500 loài cây cỏ sẵn có trong khu vực để làm thuốc.
Mỗi gia đình biết sử dụng từ vài đến vài chục cây để chữa các chứng bệnh thông
thường ở cộng đồng đó. Mỗi cộng đồng thường có 2 - 5 thầy Lang có kinh
nghiệm sử dụng và sử dụng số loài nhiều hơn.
Năm 1962, GS Đỗ Tất Lợi đã cho công bố bộ sách Những cây thuốc và vị
thuốc Việt Nam (hay Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam). Đây là một bộ
sách lớn, lần xuất bản đầu tiên (1962-1965) được in 10.000 cuốn, chia làm 6 tập,
tổng cộng dày 1.494 trang và được tái bản nhiều lần. Bộ sách đã giới thiệu hơn
750 vị thuốc, gồm 164 cây thuốc, 77 vị thuốc động vật, 20 vị thuốc khoáng vật.
Mỗi loại đều có tên khoa học, tên tiếng Việt và tên chữ Hán, những đặc tính
chung, mô tả quá trình phân phối, thu hoạch, chế biến, thành phần hoá học và
công dụng, liều dùng. Cuốn sách bao gồm cả những loại thuốc mà các nhà khoa
học đã xác minh cơ chế, lẫn cả những loại được kiểm chứng hiệu nghiệm trong
thực tế nhưng vẫn chưa được nghiên cứu rõ ràng.
GS.TS Võ Văn Chi là tác giả và đồng tác giả của hàng loạt tác phẩm như:
Từ điển Cây thuốc Việt Nam (NXB Y học - 1997) giới thiệu hơn 3.000 cây
thuốc, Từ điển Thực vật và khoáng vật làm thuốc Việt Nam (NXB Y học 1998), Từ điển Thực vật thông dụng (2 tập, NXB Khoa học - 2003, 2004), Cây
cỏ có ích ở Việt Nam (NXB Giáo dục, 1999 - 2001), Sách tra cứu tên cây cỏ
Việt Nam (NXB Giáo dục, 2007), Cây rừng chữa bệnh, Hệ cây thuốc Tây
Nguyên, Cây thuốc Đồng Tháp Mười và cách dùng để trị bệnh thông thường,
9


Cây rau làm thuốc, Rắn làm thuốc và điều trị rắn cắn, 200 cây thuốc thông
dụng, Từ điển động vật và khoáng vật làm thuốc Việt Nam ...
Tác giả cũng đã xây dựng và xuất bản cuốn Dược liệu Việt Nam (1969 1972) gồm 341 dược liệu trong nước, 74 dược liệu nhập ngoại, 3 chuyên luận
chung về trồng cây thuốc, chế biến, bào chế, bảo quản thuốc cổ truyền dân tộc.

10


gia đình có vườn, rừng thuộc xã Hương Phú (Nam Đông) để phát triển mô hình,
gắn với mục đích nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân vùng núi.
Năm 2006, nhóm tác giả Lê Thị Diên, Trần Minh Đức, Đỗ Xuân Cẩm,
Dương Viết Tình, Nguyễn Viết Tuân ở Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học
Nông Lâm Huế biên soạn cuốn sách “Kỹ thuật gây trồng và bảo tồn một số loài
cây thuốc nam” nhằm bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu, cung cấp cho người
dân những thông tin về đặc điểm nhận biết, kỹ thuật gây trồng cũng như sơ chế
một số loài cây thuốc Nam có giá trị kinh tế, giúp người dân nâng cao thu nhập
từ rừng.
2.2.3. Hiện trạng tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam
Là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên cây thuốc rất phong phú
và đa dạng nhưng Việt Nam lại đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm trầm
trọng nguồn dược liệu do hoạt động khai thác và buôn bán tự phát tại nhiều địa
phương. Điều đáng ngại hơn cả là tình trạng nhiều thương lái trong và ngoài
nước lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bà con ở vùng sâu, vùng xa để thu gom và
bán số lượng lớn cây thuốc qua biên giới với giá rẻ mạt. Hoạt động này không
chỉ đơn thuần làm cạn kiệt nguồn tài nguyên vốn dồi dào mà còn làm mất đi
nhiều giá trị tri thức bản địa quý giá, gây thiệt hại lớn về kinh tế đối với quốc gia
và địa phương.
Theo tài liệu từ Viện Dược liệu Trung ương, Bộ Y tế, hiện chúng ta đã phát
hiện được hơn 3.900 loài cây thuốc, trong đó có 144 loài cây thuốc quý hiếm
được đưa vào Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam, nhiều loài đồng thời còn được
ghi trong Sách Đỏ Việt Nam. Đặc biệt có một số loài được ghi trong Nghị định
số 32/2006/CP của Chính phủ như: Bắc xanh, Pơmu, Du sam núi đá, Thông đỏ
Bắc, Sa mộc dầu, các loài Tế tân, Tam thát hoang, Vù hương, Hoàng đằng, Thổ
Hoàng Liên…
Tuy nhiên, “nguồn “vàng xanh” của chúng ta ngày càng bị thất thoát và có

chẳng những không được hưởng lợi một cách xứng đáng, mà ngay cả những
hiểu biết có tính gia truyền - những tri thức bản địa của họ cũng bị xâm phạm.
Nếu so với toàn bộ nguồn tài nguyên thực vật ở Việt Nam thì cây thuốc là
nhóm bị đe dọa gay gắt nhất. Ðối chiếu với "Sách Ðỏ Việt Nam" tập II - Phần
thực vật, 1996, số loài cây thuốc đang có nguy cơ tuyệt chủng hoặc sắp bị đe
dọa tuyệt chủng cũng chiếm tỷ lệ khá cao.
2.2.4. Tiềm năng và tình hình khai thác sử dụng cây thuốc nam
Lãnh thổ đất liền Việt Nam hẹp chiều ngang và dài chiều dọc với toạ độ
8 30’ đến 23O22’ vĩ Bắc và 102o10’ đến 109o24’ kinh Đông, diện tích gần 1/3
triệu km2 ( 331.688 km2). Có bờ biển dài hơn 3000km với lãnh hải và vùng đặc
quyền kinh tế trên 1 triệu km 2. Địa hình 3/4 là đồi núi, đỉnh núi cao nhất là
Fansipan: 3.143 m, là đỉnh núi cao nhất Đông Dương. Diện tích đồi núi chủ yếu
là đồi núi thấp, độ cao từ 500m trở xuống chiếm tới 70%, độ cao 1000m trở
xuống chiếm tới 85% và chỉ có 15% diện tích lãnh thổ cao trên 1.000m và 1%
o

12


cao trên 2000m. Về khí hậu, Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, nắng lắm
mưa nhiều, lượng mưa trung bình năm trên 1.500mm, thuận lợi cho cây cỏ phát
triển quanh năm.
Theo báo cáo của Viện Dược liệu (2007) cho thấy:
Nhu cầu sử dụng dược liệu cần 59.548 tấn , trong đó: Phục vụ cho công
nghiệp Dược : 20.986 tấn (chiếm 35,0 %); phục vụ Y học cổ truyền : 18.452 tấn
( chiếm 31,0 %); phục vụ xuất khẩu (kể cả chiết xuất và tinh dầu): 20.110 tấn
(chiếm 34.0%)
Và khả năng cung cấp dược liệu hiện nay là : Khai thác trong tự nhiên
(10% trữ lượng): 12.100 tấn (chiếm 20%); từ nuôi trồng (136 loài): 15.606 tấn
(chiếm 26%); từ nhập khẩu: 31.842 tấn ( chiếm 54%).

Dương, Quỳ Hợp (Nghệ An), Hương Sơn (Hà Tĩnh), Tuyên Hoá (Quảng Bình),
A Lưới, Phú Lộc, Nam Đông (Thừa Thiên Huế).
Vùng Nam Trung Bộ: Phước Sơn, Tây Giang, Nam và Bắc Trà My (Quảng
Nam), Sơn Hà, Sơn Tây, Trà Bồng (Quảng Ngãi), Sông Hinh (Phú Yên).
Tây Nguyên: Kômplông, Tumơroong, Đăclây (Kon Tum); K.Bang,
Kongchro, Chu Prông ( Gia Lai), M.Drak, Krông Bông, Eakar (Đắc Lắc), Đak
Nông (Đắc Nông); Di Linh, Lâm Hà, Lạc Dương (Lâm Đồng).
Vùng biển và đảo: Có thể khai thác rong biển và một số cây con thuốc ở
biển và đảo từ Quảng Ninh đến Kiên Giang.
Trong số 62 loài cây thuốc còn khả năng khai thác trong tự nhiên thì hai
loài có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài là Bồ bồ (Adenosma
indiana Merr.) được khai thác tại các địa phương như Quảng Ninh, Bắc Giang,
Phú Thọ, Tuyên Quang, Hoà Bình, Thanh Hoá, còn Nhân trần (Adenosma
cearulea R.Br.) được khai thác tại Cao Bằng, Lạng Sơn,Thái Nguyên, Bắc Cạn,
Hoà Bình, Sơn La, Hà Giang.
(Nguồn: dẫn từ tài liệu Thực phẩm chức năng của Hội Thực phẩm chức
năng Việt Nam).
2.2.6. Một số thông tin về cây Ba kích và tình hình gây trồng
2.2.6.1. Đặc điểm của cây Ba kích
Cây ba kích thuộc loại cây thảo, sống lâu năm, leo bằng thân quấn giống như
sắn dây. Ngọn non có màu tím có nhiều lông tơ nhỏ phía trên lá, mặt phía sau lá
nhẵn. Cành ba kích non có cạnh, lá mọc đối nhau hình mác hoặc hình bầu dục
thuôn nhọn, lá cứng dài từ 6cm đến 14cm và có chiều rộng từ 2,5cm đến 6cm.
Khi non mầm ba kích có màu xanh lục, khi già thì có màu trắng giống như mốc.
Hoa ba kích nhỏ lúc đầu màu trắng sau đó chuyển sang màu vàng nhạt, thường
tập trung ở tán đầu cành dài từ 0,3cm đến 1,5cm có hình chén hoặc hình ống.
Quả ba kích hình cầu, khi chín có màu cam đỏ.Mùa hoa ba kích từ tháng 5
đến tháng 6 còn mùa quả từ thánh 7 đến tháng 10. [1]
2.2.6.2. Công dụng của cây Ba kích
14

như: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang,
Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Lai Châu, Sơn La, Hoà
Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá và Nghệ An. Ngoài ra còn có ở Trung Quốc, Ấn
Độ, Lào và Triều Tiên.
Cây thích ứng rộng với điều kiện sinh thái. Cây ưa sáng, chịu bóng. Khi
15


cây non là cây ưa bóng, khi trưởng thành là cây ưa sáng. Cây tồn tại và phát
triển tốt ở điều kiện nhiệt độ từ 22,5°- 23,1°C, chịu được nhiệt độ tối thấp tuyệt
đối - 2,8°C và tối cao tuyệt đối 41,4°C. Độ ẩm không khí trung bình từ 82- 89%.
Lượng mưa bình quân năm từ 1420,7 - 2574,5 mm. Ba kích ưa đất feralit đỏ
vàng và đất feralit giầu mùn trên núi, đất thịt ẩm mát. Cây sinh trưởng sau 5 đến
7 năm mới thu dược liệu, năng suất bình quân 12kg củ tươi/gốc, càng để lâu
năm sản lượng càng cao chất lượng dược liệu càng tốt.
2.2.6.5. Hoạt động gây trồng cây Ba kích tím
Trong những năm qua, nhiều tỉnh, thành phố đã triển khai xây dựng mô
hình trồng thử nghiệm giống cây Ba Kích như Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc
Giang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Nam… Các tỉnh Quảng Ninh, Vĩnh Phúc
triển khai thực hiện chương trình phát triển cây Ba Kích theo hướng sản xuất
hàng hóa đồng thời xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu chất lượng cao. Năm
2011 Bắc Giang đã xác định trong phát triển trồng rừng cần chú trọng đến trồng
và khai thác các loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế cao, trong đó có cây Ba
Kích. Năm 2012, Hội Nông dân tỉnh đã triển khai mô hình trồng, nhân giống Ba
kích tím dược liệu với quy mô trên 2ha với 10.500 cây, năm 2013 xây dựng
vườn ươm quy mô hộ gia đình với số lượng trên 10.000 cây. Đến nay, sau 3 năm
tiến hành trồng, Ba Kích sinh trưởng phát triển tốt, đã cho củ có kích thước
đường kính trung bình là 5mm.
Theo các hộ nông dân ở thôn Đồng Chu (xã Yên Định) từ khi tham gia mô
hình trồng, nhân giống Ba Kích đã làm thay đổi về nhận thức cho nông dân ở

chương trình, dự án phát triển sản xuất nhằm thực hiện có hiệu quả Kết luận số
97-KL/TW ngày 15/5/2014 của Ban Chấp hành Trung ương về một số chủ
trương, giải pháp tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn.
Có thể nói, việc thực hiện mô hình trồng và nhân giống cây Ba Kích tại
huyện Sơn Động đã mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu
nguyện vọng của bà con nông dân. Mô hình không chỉ góp phần bảo tồn một
loài lâm sản ngoài ngỗ quý mà còn thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây
trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện thực tiễn ở địa phương; từng bước thay đổi
tập quán canh tác, đưa người nông dân vùng cao chuyển từ sản xuất tự phát sang
tập trung theo vùng sản xuất hàng hóa, phát triển lực lực sản xuất, từng bước
làm thay đổi quan hệ sản xuất, để nông dân thực sự là chủ thể trong xây dựng
nông thôn mới và hội nhập quốc tế. Đồng thời khẳng định rõ vị thế và vai trò
của tổ chức Hội Nông dân các cấp trong việc trực tiếp thực hiện và phối hợp
thực hiện một số chương trình đề án phát triển kinh tế, văn hóa xã hội và xây
dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011-2020, góp phần thực hiện
thắng lợi Kết luận số 61-KL/TW ngày 03/12/2009 về “Nâng cao vai trò, trách
nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát nông nông nghiệp, xây dựng
nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010-2020”,
Quyết định số 673/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc
Hội nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương
trình, đề án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 2011 – 2020.

CHƯƠNG III
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status