Vai trò nhân viên công tác xã hội với trẻ tự kỉ tại Trung tâm Đào tạo và Phát triểnGiáo dục Đặc biệt – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - Pdf 34

NHẬN XÉT KẾT QUẢ CỦA KHOA
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
………………………………………………...............................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................

KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
Ký tên

1


LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả của bài nghiên cứu khoa học này là nhờ kiến thức của
thầy cô trong khoa Công tác xã hội, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Lời cảm
ơn đầu tiên chúng tôi xin được chân thành gửi đến các thầy cô trong khoa đã tạo
điều kiện cho tôi được thử sức trong cuộc nghiên cứu khoa học này.
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, cùng những tình cảm sâu sắc

Khuyết tật trí tuệ
Nhân viên công tác xã hội
Trẻ tự kỷ
Bệnh viện

3


MỤC LỤC

4


DANH MỤC BẢNG

Sơ đồ 1: Mô hình kiểu truyền thống
Sơ đồ 2: Mô hình hiện đại
Sơ đồ 3: Mô hình các giai đoạn can thiệp trẻ tự kỷ

5


Báo cáo nghiên cứu khoa học

MỞ ĐẦU
1.

Lí do chọn đề tài
Khi một đứa trẻ ra đời, nó không biết và cũng không thể lựa chọn cho
mình một cơ thể khỏe mạnh, một tinh thần minh mẫn, hay một cơ thể khuyết tật,

6


Báo cáo nghiên cứu khoa học
với trẻ tự kỷ. Và để kết nối với giữa các nguồn lực trên thì vai trò của công tác
xã hội là rất rõ. Hiện nay,vai trò của công tác xã hội với đối tượng là trẻ tự kỉ
này thì chưa một đề tài nào đề cập đến,mọi người vẫn chưa hiểu rõ tính vai trò
của công tác xã hội được thể hiện như thế nào? Vì vậy, trong đề tài nghiên cứu
này chúng tôi muốn làm rõ vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ trẻ tự kỉ
tại cơ sở Trung tâm Đào tạo và Phát triển giáo dục đặc biệt.
Trung tâm Đào tạo và Phát triển Giáo dục Đặc biệt – Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội là một trung tâm được thành lập theo quyết định số 24/QLKH –
TCCB ngày 11/2/1995 của Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội.Trung tâm còn có tên gọi khác là Trung tâm Sao Biển một trung tâm với
mục đích giáo dục trẻ tự kỉ. Đây là một địa bàn nghiên cứu rất thuận lợi cho đề
tài của chúng tôi.
Từ những lý do trên,chúng tôi đã làm đề tài nghiên cứu : “Vai trò nhân
viên công tác xã hội với trẻ tự kỉ tại Trung tâm Đào tạo và Phát triển Giáo
dục Đặc biệt – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”.
Với góc độ nghiên cứu của sinh viên năm thứ 3,là sinh viên chuyên ngành
công tác xã hội, đề tài của chúng tôi không mong muốn có thể giúp các em trẻ tự
kỉ có thể hồi phục và hòa nhập cộng đồng,mà đề tài chúng tôi muốn góp một
phần vào việc làm sáng tỏ vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với trẻ tự
kỉ,mà vai trò chúng tôi muốn làm rõ ở đây là vai trò “ kết nối” giữa gia đình - trẻ
- giáo viên – xã hội để có thể phát hiện sớm và điều trị kịp thời cho trẻ, giúp trẻ
nhanh chóng hồi phục và hòa nhập cộng đồng.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ mấy năm trở lại đây , trên một số phương tiện thông tin đại chúng
người ta đã cảnh báo cho các bậc cha mẹ về một căn bệnh khá nan giải có ở một

(1867) đã mô tả nhiều triệu chứng tâm thần kinh trẻ em. Kraepelin, Guiliarawski
cũng đã có nhiều công trình về lĩnh vực này. Trong những năm gần đây, ngành
tâm thần kinh trẻ em phát triển nhanh chóng. GeorgeHuyer thành lập phòng
khám tâm thần kinh trẻ em (1925) và viết sách Tâm lý Bệnh học trẻ em (1926).
Tramer xây dựng ngành này ở Thụy Sỹ vào năm 1933 và 1934 cho ra đời tạp chí
Tâm thần học trẻ em.
Năm 1934 Schroder chủ trì cuộc hội nghị quốc tế đầu tiên về Tâm thần
kinh trẻ em ở Pari. Những năm sau các khoa và bộ môn Tâm thần kinh trẻ em đã
được thành lập ở nhiều nước.
Dựa trên các kết quả nghiên cứu, những nhà khoa học nhìn chung đều đưa
ra kết luận về nguyên nhân bệnh tâm thần kinh trẻ em là do:
+ Tổn thương não bộ trước, trong và sau khi sinh .
+ Do tác nhân xã hội ( môi trường xã hội , nhà trường ).
+ Yếu tố di truyền.
Trên cơ sở đó họ phân chia bệnh tâm thần kinh trẻ em ra thành các bệnh
chủ yếu như sau:
Loạn thần kinh trẻ em.
Động kinh và các cơn co giật của trẻ em.
Chậm phát triển tâm thần.
Các bệnh tâm thần nội sinh, bao gồm các bệnh:
Tâm thần phân liệt.
Loạn tâm thần hưng trầm cảm.
8


Báo cáo nghiên cứu khoa học


Tự kỷ sớm ở trẻ em (Autismeinfantileprococe).
Tự kỷ sớm ở trẻ được L.Kanner mô tả lần đầu tiên vào năm 1943.

bệnh tự kỷ. Nhưng có thể nói rằng người ta đã đưa ra những nguyên nhân cơ bản
sau: não bất thường, thiếu quân bình về hóa chất, di truyền, nhiễm độc thủy
9


Báo cáo nghiên cứu khoa học
ngân, thiếu sinh tố, màng ruột bị hở, dị ứng và do những yếu tố khác… Thành
tựu lớn nhất trong nghiên cứu trẻ tự kỷ là: Thang đánh giá trẻ tự kỷ -StCARS
(childhoodautismRatinhScale) và các bài test Denver, Balley (đốivớitrẻ6tuổi);
Raven, Gille (cho trẻ trên 6 tuổi).
Từ ngày 12 – 15 /10 /2007 tại bang California -Mỹ đã diễn ra một hội
nghị lớn về Tự kỷ “ Dan – DefeatNow ”. Hội nghị đã tập trung hàng chục các
nhà khoa học, giáo sư, bác sĩ, hội phụ huynh và hàng trăm người từ khắp nơi về
tham dự. Tại đây các giáo sư, bác sĩ đã thuyết trình những công trình nghiên cứu
của mình từ hàng chục năm qua cho đến hôm nay họ đó có cách nhìn mới về tự
kỷ: Căn bệnh này không phải do sự rối loạn của hệ thần kinh mà nguồn gốc là ở
hệ tiêu hóa. “ Hệ thống hấp thu dinh dưỡng ở ruột của các bộ bị tổn thương,
không làm việc đúng chức năng để các chất độc xuyên qua màng thẩm thấu vào
máu và đi khắp cơ thể. Chất độc đi lên não, phá hủy các đường nối tư duy, làm
hư hại tế bào não và nhiều phần chức năng của não, đặc biệt là chức năng xử lí
ngôn ngữ và giao tiếp. Một phần khác là do các độc tố từ bên ngoài môi trường
xâm nhập vào cơ thể. Tùy theo mức độ chất độc trong máu mà các bộ bị tổn
thương ở mức độ khác nhau”.
Bà JulieMatthews, một chuyên gia cố vấn về dinh dưỡng đặc biệt cho trẻ
tự kỷ, là thành viên chính thức của Học viện nghiên cứu Tự kỷ” Autism
Research Institute” cho ra đời cuốn sách Nourishing Hope –Nutrition
Intervention for Autism Spectrum Disorder phát hành lần 2, năm 2007. Nội dung
cuốn sách viết về chương trình dinh dưỡng ăn kiêng cho trẻ tự kỉ.
15/02/2008 có quan niệm mới về nguyên nhân tự kỉ: Bệnh tự kỉ có thể
kiên quan đến hệ miễn dịch của người mẹ trong quá trình mang thai. Nghiên cứu

thoái lui và bệnh tiêu chảy theo sau mũi tiêm ngăn ngừa bệnh sởi Đức (Rubella),
quai bị, sởi (MMR) đã làm giấy lên phong trào vác –xin và bệnh tự kỷ. Tuy
nhiên nghiên cứu này kể từ đó bị bác bỏ.
Tóm lại, việc nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới đều nhằm vào
việc tìm ra nguyên nhân chính vàp hương pháp chữa trị “Tự kỷ”. Tuy nhiên theo
thời gian những hiểu biết và quan niệm tự kỷ có những thay đổi rõ rệt trong
nhận thức và phương pháp can thiệp nhưng bản chất và căn nguyên của chứng
tự kỷ chưa hẳn đã rõ ràng.

2.2.

Việt Nam
Trẻ tự kỉ trong những năm gần đây không còn là đề tài còn mới mẻ, đã
được các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động xã hội quan tâm đến thông qua
nhiều nghiên cứu liên quan tới chủ đề “ trẻ tự kỉ”.
Ở Việt Nam, hội chứng tự kỷ chỉ được quan tâm khoảng 15 năm trở lại
đây, trước đó có những nghiên cứu chưa thực sự đi sâu nghiên cứu và trị liệu.
Nơi tiến hành trị liệu và quan tâm đến trẻ tự kỷ đầu tiên là trung tâm N –T của
cố bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Tại đây vào những năm 90 của thế kỷ trước đã có
11


Báo cáo nghiên cứu khoa học
nhiều cuộc hội thảo liên quan đến hội chứng tự kỷ, bước đầu tiến hành trị liệu
cho trẻ theo phương pháp phân tích tâm lý (Phân tâm học) dưới sự truyền đạt
kinh nghiệm của các bác sĩ tâm thần và các nhà tâm lý trị liệu Pháp.
Nghiên cứu và trị liệu trẻ tự kỷ ở Việt Nam thực sự được phát triển và mở
rộng vào những năm đầu của thế kỷ 21. Các khoa tâm thần của một số bệnh viện
trên toàn quốc bắt đầu có những báo cáo và nghiên cứu về trẻ tự kỷ (đặc biệt ở
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh). Trẻ tự kỷ đã bước đầu được trị liệu bằng

Báo cáo nghiên cứu khoa học
Với nhu cầu tìm hiểu ngày càng tăng của các bậc phụ huynh và những nhà
chuyên môn, một số cuốn sách được xuất bản bằng Tiếng Việt đề cập khá tốt về
hội chứng này: Tác phẩm “Trẻ tự kỷ – Những thiên thần bất hạnh” của Lê
Khanh, (một người gắn bó lâu năm với ngành tâm lý trị liệu) do nhà xuất bản
Phụ Nữ và công ty Văn hóa Phương Nam phát hành. Cuốn sách có thể được
xem là một cẩm nang giúp các nhà tâm lý, giáo dục, y học và các bậc phụ huynh
tìm hiểu về tình trạng tự kỷ ở trẻ em, một hội chứng liên quan đến tâm lý, tâm
thần khiến trẻ sống khép kín, từ chối quan hệ với những người xung quanh. Qua
đó có thể tìm ra một định hướng tốt hơn trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục các em. Ngoài ra, 4 cuốn sách liên quan đến trẻ có hội chứng tự kỷ là: “Nuôi
con bị tự kỷ”, “Để hiểu chứng tự kỷ”, ‘Tự kỷ và trị liệu’, “Hội chứng Asperger”
của TS. Võ Nguyễn Tinh Vân, người Úc gốc Việt. Cuốn “Để hiểu chứng tự kỷ”
xuất bản năm 2002, đề cập đến các vấn đề như: thế nào là tự kỷ, các khiếm
khuyết chính của căn bệnh này, giúp chẩn đoán bệnh, ảnh hưởng của bệnh đến
mối quan hệ trong gia đình, phương pháp chữa trị,… Cuốn “Nuôi con bị tự kỷ”,
xuất bản năm 2002 tìm hiểu về chứng tự kỷ, hỗ trợ gia đình có con tự kỷ, sự học
hành và phát triển của trẻ, một số thông tin về người tự kỷ trưởng thành. Cuốn
“Tự kỷ và trị liệu”, xuất bản năm 2006, tác giả bàn sâu hơn về các triệu chứng tự
kỷ, những ảnh hưởng của não bộ, các phương pháp cụ thể trong việc trị bệnh và
cách đối phó với tình trạng tự kỷ của trẻ. Đây được coi là những cuốn sách
Tiếng Việt đầu tiên mô tả khá chi tiết về tình trạng tự kỷ ở trẻ em, nó đã giúp ích
rất nhiều cho các nhà chuyên môn cũng như các bậc phụ huynh khi tiếp cận vấn
đề này. Trên đây chỉ là những cuốn sách mà tác giả tổng hợp được từ những kiến
thức ở nước ngoài, chưa phải là công trình nghiên cứu khoa học.
Cũng quan tâm đến trẻ tự kỷ, GS. Nguyễn Văn Thành, (nhà tâm lý lâm
sàng, đang định cư tại Thụy Sỹ) công bố 3 cuốn sách: “Trẻ em tự bế, phương
thức giáo dục và dạy dỗ”, 2005; “Nguy cơ tự kỷ từ 0 đến 7 tuổi”; 2006; “Phát
huy quan hệ xã hội trong vấn đề giáo dục trẻ em tự kỷ” , 2007. Ba cuốn sách là
một chuỗi liên kết với nhau viết về quá trình chẩn đoán, phát hiện, quan niệm,

Quan tâm đến vấn đề chẩn đoán trẻ tự kỷ, hai tác giả: Vũ Thị Minh
Hương và Trần Văn Công tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng chẩn đoán trẻ tự kỷ
hiện nay”. Nghiên cứu này thực hiện trên 20 trẻ được chẩn đoán tự kỷ và hết sức
quan tâm đến tình trạng chẩn đoán trẻ tự kỷ hiện nay tại Việt Nam nói chung và
tại Hà Nội nói riêng. Các tác giả chỉ ra một loạt nguy cơ chẩn đoán sai gây hậu
quả nghiêm trọng cho trẻ và các bậc phụ huynh. Cuối cùng nghiên cứu đưa ra
một số kiến nghị trong chẩn đoán trẻ tự kỷ
Với mục đích nhằm giúp trẻ tự kỷ tiến bộ, tác giả Nguyễn Thị Diệu Anh
và cộng sự tại Đơn vị Tâm lý, BV. Nhi Đồng 1 thực hiện nghiên cứu: “Ứng dụng
việc chăm sóc tại nhà cho trẻ có rối loạn tự kỷ”. Nghiên cứu tiến hành trên 10 trẻ
tự kỷ được tiến hành can thiệp bằng phương pháp TEACCH tại gia đình với sự
14


Báo cáo nghiên cứu khoa học
tham gia can thiệp của 10 giáo dục viên đặc biệt. Trước và sau một năm can
thiệp trẻ được đánh giá bằng trắc nghiệm tâm lý – giáo dục (PEP: Psychology
Education Profile). Kết quả nghiên cứu cho thấy, 10 trẻ tự kỷ đều có tiến bộ rõ
rệt [4, tr.120]. Trong nghiên cứu này, tác giả đã cho thấy tính hiệu quả của
phương pháp TEACCH trong trị liệu trẻ tự kỷ.
Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu như: “Đánh giá và quản lý trẻ
tự kỷ tại mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng – Phòng khám Tu Na”
do TS. Lã Thị Bưởi Phòng khám Tu Na, Hà Nội thực hiện. “Đặc điểm lâm sàng
của rối loạn phổ tự kỷ tại Đơn vị Tâm lý, Bệnh viện Nhi đồng 1” do bác sỹ
Hoàng Vũ Quỳnh Trang và Phạm Ngọc Thanh Trà, BV. Nhi đồng 1 thực hiện.
“hội chứng tự kỷ chẩn đoán và can thiệp” do bác sỹ Đỗ Thúy Lan, BV. Tâm thần
ban ngày Mai Hương, Hà Nội. “ Can thiệp sớm trẻ tự kỷ” do Trần Phương
Dung, Khoa Giáo dục đặc biệt, Trường CĐSPMGTW3 thực hiện,…
Mặc dù lĩnh vực tự kỷ khá mới mẻ trong tâm lý học Việt Nam, nhưng
cũng đã có một số tác giả bước đầu khai thác vấn đề này. Nghiên cứu của

hàng chục năm kinh nghiệm thực hành trước khi thực hiện công trình nghiên
cứu này , tác giả đã sử dụng được những phương pháp nghiên cứu đặc trưng
gắn lý thuyết với lâm sàng (theorico-clinique) , trong đó có phương pháp quan
sát theo chiều dọc và thực nghiệm tác động để kiểm chứng giả thuyết. Từ đó,
tác giả đã rút ra những kết luận mới về nhận thức của trẻ tự kỷ và về khả năng
đem lại những tiến triển trong trị liệu cho trẻ tự kỷ bằng một hệ thống các bài
tập nhận thức được xây dựng công phu, dựa trên nền hứng thú và cảm xúc của
trẻ . Luận án này đã mở ra một hướng mới trong hoạt động trị liệu cho trẻ và đã
được ứng dụng ngay tại các cơ sở trường chuyên biệt dành cho trẻ tự kỷ ở Thành
phố Hồ Chí Minh.
Luận án thứ hai của tác giả Nguyễn Minh Đức (2009): Những khoảnh
khắc lóe sáng trong tương tác mẹ con của trẻ có nét tự kỷ ở Việt Nam, luận án
tiến sỹ bảo vệ xuất sắc tại Đại học Pari 7 năm 2009. Tác giả cũng là một nhà trị
liệu đã có hơn 20 năm kinh nghiệm trị liệu cho trẻ bị rối nhiễu tâm lý và trẻ có
nét tự kỷ tại Trung tâm N-T Nguyễn Khắc Viện trước khi làm luận án tiến sỹ.
Cũng theo định hướng theorico-clinique, với phương pháp quan sát theo chiều
dọc và thực nghiệm kiểm chứng, tác giả đã rút ra những kết luận mới về việc sử
dụng thế mạnh của người mẹ nhằm tạo ra những khoảnh khắc lóe sáng trong
tương tác mẹ - con từ đó giúp cho trẻ có nét tự kỷ tiến triển . Kết quả của luận
án này đã được ứng dụng trong hoạt động trị liệu tại Trung tâm N-T Nguyễn
Khắc Viện.
Các nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ, đã phản ánh phần
nào tình hình phát triển của hội chứng tự kỷ ở Việt Nam. Hầu như phần can
thiệp còn nhiều hạn chế và chưa nêu bật được yếu tố nhận thức của trẻ tự kỷ,
cũng như cách thức can thiệp nhằm phát triển khả năng nhận thức cho trẻ. Do
16


Báo cáo nghiên cứu khoa học
đó, vấn đề đặt ra cần có một công trình nghiên cứu công phu hơn, sâu hơn, phản

4.
5.

Khách thể nghiên cứu
Trẻ tự kỉ: 15 trẻ
Thầy cô giáo dạy trẻ tự kỉ: 12 thầy cô
Gia đình có trẻ tự kỉ: 15 gia đình
Phạm vi nghiên cứu
17


Báo cáo nghiên cứu khoa học
-

Không gian : tại trung tâm Đào tạo và Phát triển Giáo dục Đặc biệt
( Trung
tâm Sao Biển) – Trường Đại hoc Sư phạm Hà Nội.
Thời gian :Từ ngày 28 tháng 12 năm 2014 đến ngày 30 tháng 03 năm 2015
Nội dung nghiên cứu : Nhân viên công tác xã hội có rất nhiều vai trò khác nhau,
nhưng trong đề tài này chúng tôi tập trung vào vai trò “ kết nối” của nhân viên
công tác xã hội.

6. Mục đích nghiên cứu
Xác định khó khăn và nhu cầu trong việc giáo dục và hỗ trợ trẻ tự kỉ hòa
nhập với cộng đồng của chính bản thân trẻ tự kỉ, gia đình trẻ tự kỉ, giáo viên
giảng dạy và cả cộng đồng( các chuyên gia về tâm lý,bác sĩ,…), thể hiện sự cảm
thông chia sẻ với hoàn cảnh của họ. Qua đó làm rõ vai trò của nhân viên công
tác xã hội trong việc trợ giúp cho đối tượng là trẻ tự kỉ này. Đồng thời, vận dụng
các kiến thức và kĩ năng đã học có thể tham gia trợ giúp đối tượng tại trung tâm,
giúp các nhà hoạch định chính sách có những chương trình can thiệp cụ thể.

-

chăm sóc và nuôi dạy trẻ tự kỷ.
Vận động các chính sách hỗ trợ trẻ tự kỷ
Củng cố lòng tin,niềm hi vọng cho gia đình có trẻ tự kỷ và giúp họ trong việc

8.

chăm sóc và dạy trẻ tự kỷ.
Phương pháp nghiên cứu
18


Báo cáo nghiên cứu khoa học
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi có sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu đặc thù của ngành công tác xã hội, ngành xã hội học và phương pháp


nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác :
Phương pháp quan sát:
Thông qua phương pháp quan sát các hoạt động,hành vi của trẻ, biểu hiện
của trẻ,quan sát sinh hoạt của trẻ tại trung tâm và trong gia đình… để qua đo thu
thập thông tin,nắm bát được các nhu cầu và nguyện vọng của gia đình trẻ,trẻ tự



kỷ,những khó khăn của họ trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ.
Phương pháp phân tích tài liệu
Thông qua các nguồn tài liệu có từ các trang web, sách báo, các bài báo
cáo,nghiên cứu, các tài kiệu liên quan đến trẻ tự kỉ. Trên cơ sở đó đánh giá

Thực tiễn
Giúp cho mọi người có cái nhìn toàn diện nhất về trẻ tự kỉ,những nguyên nhân
dẫn đến trẻ tự kỉ,các cách nhận biết để điều trị sớm và cách chăm sóc trẻ tự kỉ
trong việc chăm sóc cho con em mình.
Qua đề tài nghiên cứu sẽ cung cấp những kiến thức,nguồn lực trong cộng đòng để
cha mẹ các gia đình có trẻ tự kỉ yên tâm hơn trong quá trình điều trị.

19


Báo cáo nghiên cứu khoa học
Giúp các nhà vận động chính sách thấy được các khó khăn,thực trạng trẻ tự kỉ
hiện nay để có những biện pháp phù hợp cùng với trường học,trung tâm giáo
dục trẻ tự kỉ và các dịch vụ xã hội khác có thể cùng hỗ trợ các em và gia đình trẻ
tự kỉ,hạn chế bệnh tự kỉ ở trẻ em trong cộng đồng.
10. Kết cấu khoa học của đề tài
Bài nghiên cứu khoa học được trình bày theo kết cấu sau:
Phần mở đầu:
Phần nội dung:
Chương 1 : Những vấn đề lý luận chung về trẻ tự kỉ
Chương 2 : Thực trạng và những vấn đề gặp phải của trẻ tự kỷ, gia đình,
giáo viên trong vấn đề giáo dục, chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ tự kỉ tại trung tâm
Đào tạo và Phát triển Giáo dục Đặc biệt.
Chương 3 : Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ trẻ tự
kỉ tại trung tâm Đào tạo và Phát triển Giáo dục Đặc biệt.
Phần Kết luận
-

20


tính trong tâm thần phân liệt. Người bệnh mất đi phần lớn các chức năng giao
tiếp và tương tác với môi trường xã hội. Biểu hiện như là thu kín vào bên trong,
khó giao tiếp và tương tác.
Năm 1943, Leo Kanner – bác sỹ tâm thần học người Mỹ - đã gọi tên hội
chứng này và trong báo cáo, ông đã miêu tả một số trẻ với những đặc điểm như:
khó phát triển mối quan hệ với mọi người, chậm nói và không có khả năng sử dụng
ngôn ngữ khi đã nói được, hành vi trùng lặp và rập khuôn, thiếu trí tưởng tượng,
giỏi học vẹt, bị ám ảnh đối với sự trùng lặp, diệm mạo bên ngoài bình thường. Ông
gọi tình trạng mới phát hiện này là Tự kỉ thời kỳ ấu nhi.
Đến nay, người ta đã biết thêm rất nhiều điều về trẻ Tự kỉ. Trong cuốn “Sổ
tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tâm thần” đã đưa ra những tiêu chí
chẩn đoán Tự kỉ như sau:
Một tập hợp gồm sáu hoặc nhiều hơn các tiêu chí của nhóm (1), (2), và (3),
trong đó có ít nhất hai tiêu chí từ nhóm (1) và một tiêu chí từ mỗi nhóm (2) và (3).
* Nhóm (1) gồm các tiêu chí sau:

21


Báo cáo nghiên cứu khoa học
- Giảm khả năng định tính trong tương tác xã hội thể hiện ở ít nhất hai
trong số các biểu hiện sau:
- Giảm khả năng rõ rệt trong việc sử dụng các hành vi phi ngôn ngữ đa
dạng như ánh mắt, nét mặt, các tư thế của cơ thể và các cử chỉ để tạo sự liên hệ
mang tính xã hội.
- Không có khả năng xây dựng mối quan hệ đối với các bạn đồng trang
lứa phù hợp với các mức độ phát triển.
- Thiếu sự đòi hỏi tự nhiên với các chia sẻ niềm vui, sở thích, các mối
quan tâm hay các thành tích đạt được đối với những người khác (ví dụ không
bao giờ mang hay chỉ cho người khác xem những thứ mình thích).

1. Tương tác xã hội.
2. Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội.
3. Chơi/ hoạt động mang tính biểu tượng hoặc tưởng tượng.
- Hội chứng không phải rối loạn RETT hay rối loạn bất hoà nhập thời kỳ
ấu thơ.
Như vậy, những đặc điểm để chẩn đoán rối loạn Tự kỉ chính là sự xuất
hiện tình trạng đặc biệt bất thường hoặc khuyết tật trong phối hợp và giao tiếp
xã hội cũng như sự xuất hiện của một tập hợp các hành động và sở thích đặc biệt
hạn hẹp. Dạng biểu hiện của tình trạng rối loạn này rất khác nhau, phụ thuộc
vào mức độ phát triển và tuổi cá nhân.
Theo tiến sĩ Trần Thu Hà - Bệnh viện nhi Trung ương “Tự kỉ là một dạng
bệnh trong rối loạn phát triển thâm nhập, ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát
triển nhưng nhiều nhất là về kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội”.
Những người mắc hội chứng tự kỷ thường không có khuyết tật về thể chất
và có vẻ bề ngoài giống như người bình thường khác. Chính vì khuyết tật không
biểu lộ ra ngoài mà cha mẹ trẻ gặp nhiều khó khăn trong việc chẩn đoán, phát
hiện sớm và để đi đến chấp nhận tình trạng tật của con mình.
Gần đây người ta đề cập nhiều đến khái niệm sau: “Tự kỉ là một khuyết
tật phát triển kéo dài suốt cuộc đời làm ảnh hưởng trầm trọng tới quan hệ xã hội,
giao tiếp xã hội, khả năng tưởng tượng và hành vi của trẻ”.
Trẻ hay người mắc hội chứng Tự kỉ thường có khiếm khuyết về ba lĩnh
vực sau:
Tương tác xã hội: Trẻ gặp nhiều khó khăn trong các quan hệ liên cá
nhân, liên hệ mang tính xã hội, đây là một khó khăn điển hình của trẻ Tự kỉ.
Trẻ thường sống trong thế giới của riêng mình, tách rời khỏi những người xung
quanh, lãnh đạm, không quan tâm đến bất kỳ ai, kể cả những người thân thiết
nhất. Có nhiều cha mẹ trẻ tâm sự rằng họ rất buồn khi thấy con không tỏ chút
thái độ, tình cảm nào đối với họ. Đôi khi có những trẻ Tự kỉ chủ động giao tiếp
với người khác nhưng lại theo một cách kỳ quặc, khó được chấp nhận như trẻ
liếm, hít, ngửi tay, má, tóc của bất kỳ người nào trẻ được tiếp xúc. Trẻ không

tiếng kêu không có nghĩa, máy mắt liên hồi... Có nhiều trẻ có hành vi tự xâm hại
rất nguy hiểm như cấu véo vào mình, cắn tay, đập đầu vào tường...
Tự kỉ là một khuyết tật suốt đời và thường bắt đầu trong tuổi ấu thơ. Phần
lớn các trẻ Tự kỉ bắt đầu thể hiện các dấu hiệu đặc trưng của Tự kỉ vào khoảng 2
– 3 tuổi. Tuy nhiên, nhiều trẻ Tự kỉ cũng có các biểu hiện mà cha mẹ thấy là
“khác với trẻ bình thường” ngay từ khi sinh ra. Họ có những nhận xét như trẻ có
biểu hiện khó gần, tách biệt hay ít để ý đến người khác. Một số trẻ Tự kỉ phát
triển bình thường trong một số năm đầu, ngoại trừ sự chậm trễ trong phát triển
ngôn ngữ, tuy nhiên sau đó những biểu hiện của Tự kỉ mới được biểu hiện rõ
nét…Trẻ mất đi những kỹ năng đã được học như lời nói, hứng thú trong các mối
quan hệ xã hội và dường như rời khỏi tầm kiểm soát của cha mẹ.
Tự kỉ tuy là một khuyết tật suốt đời nhưng nếu được phát hiện, can thiệp
sớm với những chương trình giáo dục, trị liệu phù hợp sẽ hạn chế tối đa ảnh
hưởng của tật và người Tự kỉ trưởng thành vẫn có thể sống độc lập đến mức có
24


Báo cáo nghiên cứu khoa học
thể cũng như tham gia hòa nhập vào cuộc sống xã hội như những người bình
thường khác.

1.1.1.3.

-

Khuyết tật trí tuệ
* Alfred Binet và Theodore Simon 2 tác giả người Pháp dựa vào trắc nghiệm
trí tuệ để xác định KTTT. Theo họ người có chỉ số trí tuệ dưới 70 là KTTT
- Nhược điểm: ít hiệu quả đối với trẻ nghèo, trẻ có nguồn gốc văn hóa khác
* 1954 Benda -nhà Tâm lý học Mỹ: người KTTT là người không có khả

Các khái niệm liên quan
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status