MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Với sự bùng nổ tri thức khoa học và công nghệ, kinh tế thế giới phát
triển theo hướng toàn cầu hóa, giáo dục đào tạo ngày càng chứng tỏ được vai
trò quan trọng của mình.
Bước sang cơ chế thị trường, định hướng đào tạo hướng cung đã không
còn phù hợp tình hình thực tế. Ngày nay, với quy luật cung - cầu của thị
trường lao động, đào tạo phải hướng tới đáp ứng tối đa được nhu cầu lao động
kỹ thuật của khách hàng về chất lượng, số lượng cũng như cơ cấu ngành nghề
và trình độ, do vậy để tồn tại và phát triển, các trường dạy nghề phải chuyển
sang đào tạo theo "hướng nhu cầu".
Giáo dục nói chung và đào tạo nghề nói riêng không chỉ dừng lại ở việc
tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu trong nước mà còn là quá trình tạo
ra những sản phẩm mang tính cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo, cung ứng
nhu cầu của thị trường lao động. Để đáp ứng được yêu cầu đó, trong việc dạy
học, thay vì chú trọng truyền thụ kiến thức, cần quan tâm đặc biệt đến phát
triển năng lực của người học, tạo cho người học có khả năng tự chiếm lĩnh tri
thức, có thể tự phát hiện và giải quyết các vấn đề của nghề nghiệp.
Luật dạy nghề nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chỉ rõ:
“Dạy nghề trình độ trung cấp nghề nhằm trang bị cho người học nghề kiến
thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả
năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo,
ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc”.
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật (KT – KT) Thái Nguyên ( là một
trong những cơ sở đào tạo nguồn nhân lực nghề của xã hội. Do vậy cần
nghiên cứu đề xuất những biện pháp thích hợp để đảm bảo chất lượng đào tạo
nghề cho nhà trường thông qua môn thực hành nghề tiện. Một trong những
1
- Nghiên cứu thực trạng và những vấn đề lý luận về năng lực thực hiện
của học sinh nghề
- Vận dụng kết quả nghiên cứu ở trên, thiết kế một số bài dạy về
module thực hành nghề tiện.
- Kiểm nghiệm và đánh giá những biện pháp đề ra trong luận văn để
minh chứng cho giả thuyết khoa học và tính khả thi của việc dạy học module
Tiện cơ bản trình độ trung cấp nghề theo định hướng phát triển NLTH cho HS
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả đã sử
dụng các nhóm phương pháp sau đây:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phân tích cơ sở lý luận khoa học làm cơ sở nghiên cứu của đề tài.
- Nghiên cứu nội dung chương trình, giáo trình kỹ thuật tiện
- Nghiên cứu các tài liệu về các phương pháp dạy học, phát triển
năng lực.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp phỏng vấn, điều tra để đánh giá thực trạng về dạy học
module Tiện cơ bản và khả năng vận dụng dạy học theo định hướng phát
triển năng lực thực hiện cho người học tại trường Cao đẳng KT - KT Thái
Nguyên.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định các giáo án được
biên soạn theo định hướng phát triển năng lực thực hiện cho người học để
minh chứng cho giả thuyết khoa học được đề ra và tính khả thi của việc thực
hiện dạy học module Tiện cơ bản
tâm lý học chức năng [8]. Nhóm “Phi Delta Kapkar” thuộc Đại học StanFort
(Mỹ) đã đưa ra báo cáo “Khoa học và nghệ thuật đào tạo các thầy giáo”, phân
tích công việc của thầy giáo thành các bộ phận, những hành động có thể dạy
và đánh giá được cho người thầy giáo tương lai [10].
Việc phát triển nguồn nhân lực được rất nhiều giới, ngành, các nhà
chính trị, kinh doanh và giáo dục quan tâm nghiên cứu. Điểm trung tâm của
những nỗ lực phát triển nguồn nhân lực được mọi người nhất trí và chú trọng
tập trung vào “học tập và nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ
nghề nghiệp”. Bằng việc chú trọng vào nâng cao chất lượng và hiệu quả thực
hiện nhiệm vụ, tiếp cận dựa trên năng lực là rất phổ biến trên toàn thế giới.
Tiếp cận năng lực được hình thành và phát triển rộng khắp tại Mĩ vào những
năm 1970. Trong phong trào đào tạo và giáo dục các nhà giáo dục và đào tạo
nghề dựa trên việc thực hiện nhiệm vụ, các tiếp cận về năng lực đã phát triển
một cách mạnh mẽ trên một nấc thang mới năm 1990 với hàng loạt các tổ
chức có tầm cỡ quốc gia ở Mĩ, Anh, Úc, New Zealand, Xứ Wales…
5
Vấn đề quan trọng của phát triển các chương trình giáo dục và đào tạo
theo NLTH là cần phải xác định các tiêu chuẩn năng lực từ các đòi hỏi của
hoạt động nghề nghiệp. Chuẩn năng lực được xác định dựa trên kết quả của
phân tích nghề, phân tích chỗ làm việc, các chuẩn mực này là kết quả đầu ra
của quá trình đào tạo. Chính vì vậy nó cũng chính là những mục tiêu dạy học
của chương trình.
Trong đào tạo theo NLTH, các tiêu chuẩn theo kết quả hay đầu ra
(chính là các NLTH) luôn luôn được sử dụng làm cơ sở để lập kế hoạch, thực
hiện và đánh giá quá trình cũng như kết quả học tập. Đào tạo theo năng lực
thực hiện chứa đựng trong đó những yếu tố cải cách, thể hiện ở chỗ nó gắn rất
chặt chẽ với yêu cầu của chỗ làm việc, của người sử dụng lao động, của các
loài
người xuất hiện, các thế hệ loài người đã gắn bó, kết hợp với nhau
trong tất cả các lĩnh vực hoạt động sáng tạo : trong kinh tế, văn hoá, chính trị
và giáo dục…Hoạt động giáo dục (dạy học và giáo dục) luôn luôn phát triển
và không ngừng đổi mới, nâng cao dần cùng với sự phát triển và tiến bộ của
xã hội loài người. Theo tổng kết của UNESCO, trong hơn 50 năm qua giáo
dục “ đã có thể trở thành nhân tố then chốt của phát triển bằng cách thực hiện
ba chức năng kinh tế, khoa học và văn hoá” mà cụ thể là đào tạo đội ngũ lao
động lành nghề, đội ngũ các nhà trí thức tham gia có hiệu quả vào cuộc “cách
mạng trí tuệ” – động lực của các ngành kinh tế; đào tạo nên các thế hệ công
dân “bắt rễ trong chính nền văn hoá của họ và có ý thức hội nhập với các nền
văn hoá khác vì sự tiến bộ của xã hội nói chung”. Mặt khác, giáo dục luôn
không ngừng thích nghi với những thay đổi của xã hội; đồng thời thực hiện sứ
mệnh chuyển giao những thành tựu văn hoá của xã hội loài người từ thế hệ
này đến thế hệ khác, từ thế hệ trước đến thế hệ sau.
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đã gia nhập WTO thì việc nâng
cao chất lượng đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng là mục tiêu hàng
đầu của ngành giáo dục, các tổ chức, các cơ sở đào tạo và tiến tới nâng cao vị
thế của mình trong xã hội.
8
Giáo dục nói chung và đào tạo nghề nói riêng không chỉ dừng lại ở việc
tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu trong nước mà nó còn là quá trình
tạo ra những sản phẩm mang tính cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo, cung ứng
nhu cầu của thị trường lao động.
1.1.4. Nhu cầu đào tạo nghề
trên ghế nhà trường với vốn hiểu biết còn hạn chế. Thực tế thời gian qua cho
thấy, việc chọn nghề của học sinh trung học phổ thông còn nhiều bất cập,
nhiều em có quan niệm chỉ chọn nghề được đào tạo ở bậc học đại học, bởi đó
là con đường duy nhất để thành công, có địa vị cao trong xã hội. Số khác lại
lấy sự đánh giá, phán xét thiếu căn cứ của dư luận xã hội để lựa chọn nghề mà
không cần quan tâm mình có phù hợp với nghề đó hay không. Vậy đâu là
nguyên nhân của hiện trạng này? Biện pháp nào có thể cải thiện được thực
trạng đó? Câu trả lời chỉ có thể có lời giải khi chúng ta tìm hiểu và phân tích
những đặc điểm tâm lý đã điều khiển họat động chọn nghề của học sinh trong
mối liên quan tới các yếu tố ảnh hưởng khác như gia đình, nhà trường, xã hội.
Vì thế, việc nghiên cứu về các đặc điểm tâm lý trong họat động chọn nghề
của học sinh và đề xuất những biện pháp tác động tâm lý tới họat động này là
một việc làm cấp bách và cần thiết không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà
còn có ý nghĩa thiết thực trong việc tổ chức các họat động hướng nghiệp cho
học sinh trung học phổ thông , giúp các em lựa chọn được nghề, đáp ứng
được nhu cầu, nguyện vọng, năng lực của bản thân và nhu cầu của thị trường
lao động.
Phần lớn sinh viên học nghề là các em không đỗ trong kỳ thi đại
học, không đi học trong một vài năm, đi học do gia đình yêu cầu. Ngoài ra do
còn mang tâm lý học nghề nên nhiều sinh viên còn chưa chú tâm vào việc học
tập. Do vậy việc đảm bảo đào tạo cho ra chất lượng đồng đều là một thách
thức không nhỏ cho cơ sở đào tạo.
10
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1. Năng lực
Năng lực chung là năng lực có ở mọi người bình thường. Bất kỳ một
con người mạnh khỏe nào đều có năng lực chung nhưng mức độ khác nhau.
cấu thành từ kiến thức, kỹ năng, thái độ và thói quen làm việc.
Theo tác giả Nguyễn Trọng Khanh: Một cách khái quát, có thể hiểu
năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý của con người đảm bảo thực hiện
được một hoạt động nào đó [12, tr 7].
Như vậy có thể thấy việc định nghĩa khái niệm năng lực không hề đơn
giản. Tuy nhiên, có thể hiểu năng lực là tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, thái
độ đủ để thực hiện một nhiệm vụ, một hoạt động nào đó đạt được kết quả.
1.2.2. Năng lực thực hiện
Khái niệm về năng lực thực hiện: Năng lực thực hiện (NLTH) là một
thuật ngữ được dùng trong đào tạo, đặc biệt là trong đào tạo nghề. “Năng lực
thực hiện” hay “Năng lực hành nghề” trong một số tài liệu tiếng Việt hiện nay
được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh là “Competency”
hoặc tiếng Đức
((Handlungskompetenz) Có nhiều khái niệm khác nhau về NLTH.
NLTH đề cập đến nhóm các kỹ năng, kiến thức được áp dụng để thực
hiện một nhiệm vụ hoặc chức năng, phù hợp với các yêu cầu công việc (Anh)
NLTH còn được hiểu là khả năng thực hiện được các nhiệm vụ hoặc
công việc cụ thể của một nghề theo tiêu chuẩn mong đợi (Úc)
NLTH bao gồm năng lực chuyên môn, năng lực Phương pháp, năng lực
xã hội, năng lực cá nhân và được hình thành trên cơ sở kiến thức, kỹ năng ,
thái độ (Đức)
NLTH được coi như là sự tích hợp của kiến thức – kỹ năng – thái độ
làm thành khả năng thực hiện một công việc sản xuất và được thể hiện trong
thực tiễn sản xuất.
12
NLTH hiểu theo cách này, thể hiện rõ mối quan hệ giữa các yếu tố
nhân cách tạo nên NLTH để cấu trúc chương trình đào tạo theo NLTH cũng
như phương pháp đánh giá kết quả học tập theo tiêu chuẩn của nghề nghiệp.
* NLTH trong đào tạo nghề là khả năng thực hiện được các hoạt động
(nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm
vụ, công việc đó. NLTH là tổ hợp các kỹ năng, kiến thức, thái độ đòi hỏi đối
với một người để thực hiện hoạt động có kết quả ở một công việc hay một
nghề nhất định.
1.3. DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
THỰC HIỆN
1.3.1. Bản chất của quá trình dạy học
* Quá trình dạy học là quá trình nhận thức
Quá trình dạy học là quá trình nhận thức được tổ chức một cách đặc
biệt. Mục đích của dạy học là giúp HS lĩnh hội được những kinh nghiệm xã
hội mà loài người đã tích lũy được qua nhiều thế kỉ. Quá trình nhận thức học
tập có những điểm đáng lưu ý sau.
- Sự phản ánh các hiện tượng thực tiễn một cách tích cực và chọn lọc.
- Sự phản ánh của con người mang tính vượt trước.
- Cơ chế của quá trình nhận thức tuân theo công thức nhận thức luận
nổi tiếng của Lênin: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy
trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí,
nhận thức hiện thực khách quan” [Bút kí triết học].
- Quá trình vận động từ không có kiến thức đến có kiến thức là một quá
trình vận động biện chứng đầy mâu thuẫn.
* Quá trình dạy học là quá trình tâm lí
Trong những năm gần đây, tâm lí học đã có sự chú ý lớn tới “Dạy học
phát triển” và đã đưa ra các kết luận sau đây:
15
đào tạo của các nghề theo yêu cầu của sản xuất. Để làm được điều này, chương
trình đào tạo cần được tiến hành theo phương pháp phân tích nghề để xác định
được các NLTH các công việc của từng nghề theo yêu cầu của thị trường lao
động. Nguyên tắc này cũng nói lên rằng chương trình đào tạo cần được thường
xuyên cải tiến để đáp ứng được yêu cầu của sản xuất luôn phát triển.
Mục tiêu đào tạo của mỗi nghề hay chuẩn đầu ra của chương trình đào
tạo cần được công bố với người học và người sử dụng lao động trước khi tiến
hành thực hiện các khóa đào tạo. Đây là một yêu cầu bức thiết để đào tạo đáp
ứng yêu cầu xã hội [19, tr 19].
b) Các tiêu chí, chuẩn đánh giá và điều kiện thực hiện phải được
công bố công khai trước cho người học
Vấn đề này đòi hỏi người dạy phải công bố rõ ràng, cụ thể mục tiêu của
bài học và các tiêu chí đánh giá kết quả học tập cũng như các điều kiện cần
thiết cho người học trước khi thực hiện quá trình dạy học để người học có
định hướng rõ ràng mục tiêu cần đạt và phấn đấu để đạt được trong quá trình
học tập.
Điều đó có nghĩa là phải cho người học biết cụ thể và chính xác những
năng lực nào họ cần đạt, đạt tới chuẩn nào, trong điều kiện nào và kết thúc mỗi
bài học sẽ được đánh giá như thế nào để họ không bị động mà ngược lại, có thể
phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong quá trình học tập để đạt
kết quả mong muốn. Việc thực hiện nguyên tắc cơ bản này đòi hỏi GV phải đổi
mới phương pháp dạy, đặc biệt là phương pháp đánh giá, không được đánh giá
theo phương pháp truyền thống không theo chuẩn hoặc dựa vào chuẩn tương
đối, so sánh thành tích giữa những người học với nhau. Thay vào đó, phải đánh
giá theo tiêu chí và chuẩn NLTH từng công việc của nghề [19, tr 19].
trong dạy học, dạy học theo nhóm nhỏ và tiến tới cá thể hóa trong dạy học.
17
f) Đánh giá kết quả học tập theo NLTH
Nguyên tắc này đòi hỏi dạy học theo NLTH phải đánh giá kết quả học
tập theo chuẩn NLTH, không thể đánh giá theo phương pháp truyền thống: Lý
thuyết tách rời thực hành và thái độ, không có chuẩn cụ thể, rõ ràng. Nói một
cách khác, dạy học theo NLTH đòi hỏi phải đổi mới cách đánh giá.
1.3.3. Tiến trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực thực
hiện
Tiến trình dạy học định hướng phát triển NLTH có thể coi là một tên
gọi khác hay một mô hình cụ thể hóa của chương trình định hướng kết quả
đầu ra, một công cụ để thực hiện giáo dục định hướng điều khiển đầu ra.
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, mục tiêu dạy học
được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành. Ở mỗi nội dung của môn
học, mỗi nội dung và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình
thành các năng lực cho người học. Để mô tả năng lực người học, người ta
thường dùng các động từ chỉ hành động như: phân biệt, giải thích, phân tích,
vận dụng, xây dựng, …
Việc dạy học định hướng phát triển năng lực đòi hỏi những điều kiện thích
hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện vể tổ chức, quản
lý, nhân lực cũng như những nhận thức của người dạy và người học, …
Dạy học không chỉ đơn thuần là cung cấp cho người học những tri thức
và kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích lũy được, mà phải góp phần tích
cực vào việc hình thành và phát triển nhân cách theo mục tiêu đào tạo. Người
học càng được tham gia tích cực, chủ động vào các hoạt động học tập thì các
phẩm chất và năng lực của cá nhân càng sớm được hình thành, phát triển và
hoàn thiện.
- Mục tiêu năng lực thực hiện:
+ Nhận biết được các kích thước của chi tiết qua bản vẽ.
+ Tính toán chế độ cắt phù hợp với yêu cầu của chi tiết gia công.
19
+ Gá phôi, dao chắc chắn tiếp xúc tốt.
+ Hình thành chi tiết gia công đảm bảo đúng kích thước, độ nhẵn bóng
bề mặt
Bước 2: Chuẩn bị của giáo viên và người học
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho người học đòi hỏi sự
chuẩn bị kĩ càng của cả GV và người học. Trong mỗi bài dạy, GV cần nghiên
cứu nội dung bài học và tham khảo thông tin có liên quan tới nội dung bài học
trong các tài liệu tham khảo. Bên cạnh đó, GV cần khai thác, lựa chọn, cập
nhật các thông tin trên mạng có liên quan đến nội dung bài học. Ngoài ra, GV
cần giao nhiệm vụ cho người học (từ tiết học trước) để họ có một tâm thế tiếp
thu bài học tốt khi đã có sự chuẩn bị ở nhà.
Đặc biệt, GV cần chuẩn bị những phương tiện dạy học phù hợp với nội
dung bài dạy. trước khi giảng dạy cần chuẩn bị chu đáo, làm thử để nắm chắc
các thao tác, qui trình công nghệ. Tích cực tham gia tự làm các thiết bị dạy
học như các mô hình vật thật, các loại đồ gá …
Việc chuẩn bị đầy đủ các phương tiện dạy học giúp người học hiểu rõ
hơn về bản chất của mọi khái niệm trừu tượng, là cơ sở khoa học minh chứng
có sức thuyết phục, là sự vật trực quan sinh động nhất, giúp việc học trở nên
nhẹ nhàng, hiệu quả... Những phương tiện dạy học thường dùng trong dạy học
môn module tiện cơ bản như: Hình vẽ, mô hình (là phương tiện thay thế đối
tượng thực, thông qua đó giúp người học dễ dàng nhận thức được đặc điểm,
bản chất của đối tượng nghiên cứu); vật thật (dụng cụ, đồ dùng, chi tiết máy,
các máy móc, thiết bị kĩ thuật trong dạy thực hành, …), các phương tiện kĩ
hơn phương pháp trực quan, còn các phương pháp trực quan thì lại “tích cực”
hơn các phương pháp dùng lời. Bởi vậy, trong các bài dạy, GV nên sử dụng
các PPDH tích cực như: PPDH trực quan, PPDH nêu vấn đề, PPDH nhóm,….
Có thể khẳng định rằng: Muốn thực hiện dạy học phát triển NLTH cho người
21
học thì không thể chỉ áp dụng một PPDH tích cực cụ thể nào đó mà cần kết
hợp và khai thác những lợi thế, ưu điểm của nhiều PPDH khác nhau.
1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới dạy học theo định hướng phát triển
năng lực thực hiện
a) Chương trình dạy học:
Theo Tery Kernaghan, module là một phần của chương trình đào tạo, tập
trung vào một nhóm kiến thức, kỹ năng và thái độ có những đặc điểm chung [6].
Chương trình đào tạo theo NLTH là dạy hoàn thành từng công việc và
từng nhiệm vụ của nghề. Do vậy yêu cầu tiên quyết là nội dung đào tạo phải
được cấu trúc thành từng module tích hợp giữa lý thuyết và thực hành nghề,
không xây dựng theo các môn học truyền thống bao hàm quá nhiều kiến thức
lý thuyết riêng biệt và tách rời thực hành mà phải được cấu trúc thành module
tích hợp giữa lý thuyết và thực hành.
Chương trình đào tạo cần được thiết kế sao cho kiến thức lý thuyết vừa
đủ và liên quan với thực hành nghề ngay sau đó. Chỉ có như vậy mới có thể
đáp ứng được các mục tiêu của dạy học theo NLTH.
Phần thực hành nghề cần xác định rõ từng bước thực hiện, cách thực
hiện và các chuẩn cần đạt theo yêu cầu của sản xuất. Cuối cùng, khi kết thúc
phần thực hành, cần có khâu kiểm tra đánh giá người học nhằm xác định
NLTH của họ qua đó đúc rút được kinh nghiệm cần thiết và có biện pháp điều
chỉnh kịp thời.
b) Con người:
phương tiện, trang thiết bị dạy học còn là điều kiện về cơ sở vật chất cho HS
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập, rèn luyện kỹ năng
và nhanh thích ứng với các phương tiện trang thiết bị khoa học - công nghệ
hiện đại của thực tế.
Ngày nay, sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ tiên
tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin làm cho con người tạo ra được khá nhiều
23
phương tiện và phần mềm dạy học. Từ những thiết bị đơn chiếc dần từng
bước phát triển đa dạng thành môi trường phương tiện dạy học. Môi trường
phương tiện dạy học hỗ trợ quá trình dạy học ngày càng có chất lượng hơn,
cho phép con người sớm đạt được tiêu chuẩn dạy học và mục tiêu đào tạo. Vì
vậy, việc khai thác, sử dụng phương tiện trang thiết bị dạy học không chỉ là
nhiệm vụ, yêu cầu trong dạy học kỹ thuật chuyên ngành mà nó còn là điều
kiện không thể thiếu được nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
1.4. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH DẠY HỌC MODULE THỰC
HÀNH NGHỀ TIỆN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT
THÁI NGUYÊN
1.4.1. Sơ lược về quá trình dạy học module Tiện cơ bản
- Module Tiện cơ bản là môn học trong chương trình đào tạo cho các
HS chuyên ngành tiện ( Cắt gọt kim loại ). HS được học module sau khi được
học các môn học cơ sở như vẽ kĩ thuật, cơ kĩ thuật, vật liệu cơ khí…Trước
đây HS được học hết tất cả các phần lý thuyết trước, sau đó mới đến các môn
học thực hành để HS rèn luyện các thao tác vật chất và kiểm chứng những nội
dung lí thuyết đã được học từ rất lâu. Do vậy khi học đến phần thực hành thì
HS đã quên rất nhiều kiến thức lí thuyết nên GV lại phải giảng lại. Điều đó
khiến thời lượng dành cho HS thực hành rèn luyện kĩ năng đã bị giảm.
- Đội ngũ GV dạy học: Đội ngũ GV bộ môn Cắt gọt có một số đặc
soạn giáo án trên máy và khuyến khích việc soạn giáo án dạy theo NLTH để
dạy trên lớp.
- Module tiện cơ bản là môn học liên quan nhiều đến thực tiễn và có
cấu trúc 30 tiết lý thuyết và 106 giờ học thực hành nên rất thuận lợi cho việc
dạy học theo NLTH.
- Số lượng HS trong lớp ít cho nên rất thuận tiện cho việc dạy theo
NLTH.
* Khó khăn:
25