MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để tồn tại và phát triển con người phải tham gia vào rất nhiều hoạt động khác
nhau như hoạt động lao động, hoạt động HT, hoạt động vui chơi, giải trí…thông qua
đó nhân cách của con người được bộc lộ và hình thành. Khi tham gia vào bất cứ hoạt
động nào con người cũng nhằm đạt tới một mục đích nhất định. Tuy nhiên, trong quá
trình hoạt động không phải bao giờ cũng thuận lợi mà tất yếu sẽ xuất hiện những khó
khăn, trở ngại. Những khó khăn đó một mặt sẽ gây cản trở và làm ảnh hưởng đến tiến
trình hoạt động, làm giảm hiệu quả của hoạt động, mặt khác nó lại là động lực thúc
đẩy con người cố gắng, tích cực hoạt động vượt qua khó khăn, trở ngại để đạt được
mục đích đã đề ra.
Hoạt động HT là hoạt động đặc biệt của con người. Nó không làm biến đổi
đối tượng mà làm thay đổi chính chủ thể của hoạt động. Đối với SV thì hoạt động
HT là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng cả về mặt nhận thức lý luận khoa học và
kinh nghiệm thực tiễn. SV HT để tiếp thu các tri thức khoa học, hình thành những
kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất nhân cách người chuyên
gia. XH ngày càng phát triển yêu cầu SV phải HT một khối lượng kiến thức rất lớn
trong khi đó phương pháp dạy và học vẫn còn rất nhiều hạn chế và khó khăn như:
Thời gian HT của SV dày đặc, SV phải đến lớp học cả ngày cả tuần, không những
thế nhiều SV còn tham gia học thêm ngoại ngữ và tin học, v.v… Điều đó làm cho
SV cảm thấy rất khó khăn và mệt mỏi để hoàn thành tốt các nhiệm vụ HT và làm
ảnh hưởng tới kết quả HT của SV. Chính vì vậy, việc tìm ra các biện pháp để khắc
phục những KKTL trong hoạt động HT của SV là một việc làm hết sức cần thiết,
góp phần nâng cao kết quả HT cho SV.
Như chúng ta đã biết, trong các trường CĐSP và ĐHSP thì môn TLH có vai
trò quan trọng, giúp SV có những kiến thức cơ bản về những hiện tượng và quy
luật tâm lý, góp phần trực tiếp hình thành quan điểm và bồi dưỡng trình độ nghiệp
vụ cho SV các trường SP. Tuy nhiên, theo SV đây là một môn học khó, trừu tượng
nên khi học môn này SV gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Chính vì vậy, việc tìm
1
2
Đa số SV năm thứ nhất khoa cơ bản trường ĐHSPHN đều gặp phả KKTL
trong HT môn TLH theo TC. Mức độ KKTL không đồng đều giữa SV khối TN và
SV khối XH. Có nhiều nguyên nhân gây ra những KKTL đó, bao gồm nguyên nhân
chủ quan và nguyên nhân khách quan. Nếu tìm ra được các biện pháp tác động phù
hợp, đảm bảo tính khoa học thì sẽ giúp SV hạn chế được những KKTL này.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu, phân tích, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về KKTL
trong HT môn TLH của SV sư phạm, trên cơ sở đó xây dựng cơ sở lý luận cho
việc triển khai nghiên cứu đề tài.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng KKTL trong HT môn TLH theo TC
của SV năm thứ nhất khoa cơ bản trường ĐHSPHN và các nguyên nhân gây nên
những KKTL đó.
5.3. Đề xuất và thử nghiệm các biện pháp tác động nhằm giúp SV năm thứ
nhất khoa cơ bản trường ĐHSPHN hạn chế được các KKTL trong HT môn TLH
theo TC.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về khách thể nghiên cứu:
- Nghiên cứu thực trạng: 384 SV năm thứ nhất khoa cơ bản trường
ĐHSPHN.
- Nghiên cứu TN tác động: 122 SV năm thứ nhất khoa cơ bản trường
ĐHSPHN.
6.2. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng biểu hiện của một số KKTL trong HT môn TLH
theo TC của SV năm thứ nhất khoa cơ bản trường ĐHSPHN.
6.3. Giới hạn về nội dung nghiên cứu:
Chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng những KKTL trong nhận thức,
Chương 1:
Một số vấn đề lý luận về KKTL trong HT môn TLH theo TC của
SV năm thứ nhất khoa cơ bản trường ĐHSPHN.
Chương 2:
Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3:
Thực trạng KKTL trong HT môn TLH theo TC của SV năm
thứ nhất khoa cơ bản trường ĐHSPHN.
4
Kết luận và kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
5
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ
TRONG HỌC TẬP MÔN TÂM LÝ HỌC THEO TÍN CHỈ
CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT KHOA CƠ BẢN TRƯỜNG
ĐHSPHN
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
chúng một cách cụ thể.
* Nghiên cứu KKTL trong hoạt động HT
- Theo Binaka Zazzo và các cộng sự của bà thuộc trung tâm nghiên cứu trẻ
em của Đại học Paris. Trong công trình nghiên cứu về bước chuyển của trẻ em từ
mẫu giáo lên cấp 1, 2 thì KKTL lớn nhất mà trẻ gặp phải làm cản trở đến sự thích
ứng HT của trẻ là: “Sự thay đổi môi trường một cách triệt để, trẻ đang chuyển từ
hoạt động chủ đạo là vui chơi sang hoạt động HT, từ hoạt động ngẫu hứng, tự do,
sang hoạt động nghiêm túc dưới sự chỉ đạo của giáo viên, theo nguyên tắc lớp
học” [27, 19].
- Theo A.V. Petropxki khi bàn tới KKTL trong hoạt động HT tác giả đã chia
KKTL của trẻ em khi đi học lớp 1 làm ba loại:
+ Loại 1: Những khó khăn có liên quan đến đặc điểm của chế độ HT mới.
+ Loại 2: Khó khăn trong việc thiết lập quan hệ giao tiếp mới với thầy cô và bạn bè.
+ Loại 3: Khó khăn trong việc thích nghi với hoạt động mới, lúc đầu trẻ
được chuẩn bị của gia đình, nhà trường, XH nên trẻ có tâm lý vui, thích và sẵn
sàng đi học, về sau giảm dần khát vọng và chán học.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đã nêu ra được một số nguyên nhân dẫn đến khó
khăn, ảnh hưởng của những khó khăn đó đến đời sống của trẻ và đề xuất một số
biện pháp để giải quyết khó khăn cho trẻ. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả mới
chỉ dừng lại ở KKTL trong hoạt động HT của trẻ lớp 1.
- Theo nhà TLH Mauricè debesse, trong công trình nghiên cứu về KKTL
của trẻ khi đi học lớp 1 đã chỉ ra rằng, đứng trước ngưỡng cửa của lớp 1 trẻ gặp rất
nhiều KKTL. Điều này đã ảnh hưởng tới sự thích ứng với hoạt động HT của trẻ,
làm cho trẻ sợ học, không muốn tới trường và kết quả HT không cao.
7
Tóm lại, các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về KKTL
trong hoạt động HT của HS ít nhiều đã chỉ ra được những vấn đề lí luận về bản
* Nghiên cứu KKTL trong hoạt động học tập
- Trong tác phẩm “Nỗi đau của con em chúng ta” bác sĩ Nguyễn Khắc Viện
đã nêu ra những KKTL mà trẻ lớp 1 gặp phải là: Trẻ phải giữ kỉ luật lớp học; trẻ
phải học một chương trình nặng hơn so với mẫu giáo; trẻ ít được bố mẹ vỗ về, âu
yếm hơn trước và luôn chịu sự kiểm tra, đánh giá của bố mẹ.
- Trong tác phẩm: “6 tuổi vào lớp 1” tác giả Nguyễn Thị Nhất cho rằng:
“Trong quá trình lớn lên của trẻ em có những bước ngoặt chuyển từ giai đoạn này
sang giai đoạn khác đòi hỏi trẻ em phải thay đổi phương thức sinh hoạt một cách
triệt để”, đồng thời tác giả cũng nêu lên một số KKTL mà trẻ phải vượt qua như:
Trẻ phải rời bỏ cuộc sống thoải mái, đa dạng, vui nhộn, hoạt động tùy hứng của
mẫu giáo và khép mình vào kỷ luật nghiên khắc của lớp học phổ thông; trẻ gặp
khó khăn trong quan hệ với cô giáo; trẻ bị “vỡ mộng” khi vào học lớp 1 vì sự hân
hoan, hồi hộp chờ đón những điều hấp dẫn được thay bằng những điều khác xa với
tuởng tượng của trẻ [27, 20].
- Theo tác giả Nguyễn Xuân Thức trong bài viết “Các nguyên nhân dẫn đến
KKTL của học sinh khi đi học lớp 1” đã cho thấy có nhiều nguyên nhân gây ra
KKTL cho trẻ đó là:
+ Các nguyên nhân chủ quan: Trẻ chưa hiểu rõ nội quy; trẻ được chuẩn bị
quá kỹ trước khi tới trường; trẻ không được chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học; do
tính cách của trẻ; do trẻ chưa đủ tuổi đến trường; do trẻ mắc một số bệnh bẩm
sinh.
+ Các nguyên nhân khách quan có thể khái quát thành ba nhóm cơ bản sau:
Nhóm nguyên nhân thuộc về gia đình; nhóm nguyên nhân thuộc về nhà trường;
nhóm nguyên nhân thuộc về XH.
Theo tác giả, các nguyên nhân chủ quan là những nguyên nhân gây ra
KKTL nhiều hơn cho học sinh lớp 1. Ngoài ra, tác giả cũng đã đưa ra một số giải
pháp sư phạm để tháo gỡ những KKTL cho trẻ [29, 32].
- Một số tác giả như Nguyễn Xuân Thức, Đào Thị Lan Hương, Đỗ Văn
Bình, Nguyễn Thế Bình, Đặng Thị Lan đã nghiên cứu về KKTL trong hoạt động
9
định bởi cấu trúc và mức độ phát triển của hoạt động HT [23, 88].
10
+ Theo I.B.Intenxon: Hoạt động HT là dạng hoạt động đặc biệt của con
người có mục đích nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và các hình thức
nhất định của hành vi. Nó bao gồm cả ý nghĩa nhận thức và thực tiễn [23, 89].
+ Theo tác giả Bùi Văn Huệ: Hoạt động HT là hoạt động có ý thức nhằm
thay đổi chủ thể hoạt động. Tác giả cho rằng, hoạt động HT thực chất là hoạt động
nhận thức được tổ chức một cách chuyên biệt để chiếm lĩnh các khái niệm khoa
học. Nhà bác học nhận thức thế giới và phát hiện ra cái mới cho loài người. HS
lĩnh hội những cái mà các nhà bác học đã khám phá ra dưới sự tổ chức của GV.
Nhờ vậy HS cũng lặp lại đúng quy luật như quá trình phát minh của các nhà bác
học: HS phát hiện ra cái mới cho chính bản thân mình từ đó mà họ hoàn thiện
nhân cách cho bản thân.
+ Theo tác giả Lê Văn Hồng: Hoạt động HT là hoạt động đặc thù của con
người được điều khiển bởi mục đích tự giác và lĩnh hội những tri thức, kỹ xảo
mới, những phương thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định [6, 106].
Hoạt động học có thể tiến hành thông qua hai con đường: Học ngẫu nhiên
và học có mục đích.
+ Học ngẫu nhiên: Được thực hiện một cách ngẫu nhiên, không có chủ
định đặt ra trước. Người học tiếp thu tri thức, kinh nghiệm, KN, kỹ xảo thông qua
hoạt động sống hàng ngày. Vì vậy, những tri thức, kinh nghiệm thu được thường
vụn vặt, không hệ thống, chủ yếu là những kinh nghiệm mang tính chất cảm tính,
không phản ánh được tính bản chất. Kết quả là mục đích của việc học sẽ không
trùng với mục đích của hoạt động, vì thế cách học này chỉ giúp cho con người ứng
phó với những tình huống, những vấn đề cụ thể của cuộc sống.
+ Học có mục đích: Là hình thức HT cơ bản nhất của con người. Học có
mục đích giúp người học lĩnh hội những tri thức một cách có hệ thống, có tổ chức
và phương pháp khoa học. Học có mục đích diễn ra theo kế hoạch, chương trình
tri thức mà làm thay đổi chính bản thân chủ thể. Sau khi chủ thể chiếm lĩnh được tri
thức, KN, kỹ xảo thì vốn hiểu biết, kinh nghiệm của cá nhân tăng lên tâm lý, nhân
cách hoàn thiện hơn. Mục đích cuối cùng của hoạt động học là làm cho chủ thể tiếp
thu, lĩnh hội được nhiều kinh nghiệm XH – lịch sử, nhờ đó mà nhân cách ngày càng
phát triển và hoàn thiện, đáp ứng được đòi hỏi của XH và thời đại.
12
Như vậy, hoạt động HT là hoạt động đặc thù của con người, được tổ chức chặt
chẽ và có ý thức. Để hoạt động học có hiệu quả thì bản thân người học phải nắm được
bản chất của nó. Người học phải tự giác, tích cực, đồng thời phải nắm được phương
thức lĩnh hội tri thức. Từ đó sử dụng nó để giải quyết các vấn đề của thực tiễn.
1.2.3. Đặc điểm hoạt động HT của sinh viên sư phạm
1.2.3.1. Khái niệm sinh viên
Thuật ngữ “Sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng latinh “studens”, có nghĩa là
người làm việc, HT tích cực, tìm kiếm khai thác tri thức. Nó được để chỉ những
người theo học ở bậc ĐH và CĐ, những người đang HT và rèn luyện để lĩnh hội
một trình độ chuyên môn cao.
Khái niệm được sử dụng rộng rãi và được các nhà nghiên cứu thừa nhận đó
là: SV là đại biểu của một nhóm XH đặc biệt, là những người đang trong quá trình
tích lũy tri thức nghề nghiệp để trở thành những chuyên gia có trình độ chuyên
môn cao, hoạt động lao động trong một lĩnh vực nhất định có ích cho XH.
SVSP là những SV đang HT rèn luyện trong các trường CĐSP và ĐHSP.
Họ có nhiệm vụ HT tích lũy tri thức, trau dồi đạo đức, phát triển nhân cách toàn
diện, để trở thành những thầy giáo trong tương lai.
Có thể khẳng định rằng: SV là đội ngũ tri thức trẻ, là nguồn nhân lực quan
trọng quyết định sự phát triển nền kinh tế và sự phát triển của XH. Họ là những
người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và mong muốn mang hiểu biết của
mình tham gia vào các hoạt động để phát triển XH.
1.2.3.2. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên
thực tế, đồng thời cái tôi lý tưởng không được thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh cụ
thể, còn cái tôi thực tế lại rời xa cuộc sống hiện thực trở nên hõa huyền. Chính vì vậy
làm cho SV năm thứ nhất thiếu lòng tin ở bản thân, làm ảnh hưởng đến các hoạt
động, trong đó có hoạt động HT. Nếu SV tự đánh giá đặc điểm trí tuệ ở mức thấp sẽ
gây ra những khó khăn trong quá trình HT. Nếu SV tự đánh giá một cách đúng đắn và
tích cực sẽ là cơ sở tốt cho hoạt động HT ở ĐH, CĐ.
- Kế hoạch đường đời của SV là bước chuyển căn bản trong nhận thức,
được thể hiện ở việc xác định cho mình một nghề nghiệp xác định. Nó không chỉ
dừng lại ở mơ ước mà là ấn định con đường thực hiện. Lựa chọn nghề nghiệp là
14
vấn đề rất phức tạp, đòi hỏi phải có hứng thú bền vững mới có thể xác định nghề
nghiệp đúng đắn theo khả năng và sở thích của mình.
- Tuổi SV là thời điểm thuận lợi nhất của sự phát triển nhân cách. Đây là
nhân cách của con người tuổi trẻ đang chuẩn bị thực hiện chức năng của người
chuyên gia có trình độ chuyên môn trong một lĩnh vực nào đó. Đây là lứa tuổi mà
các chức năng tâm lý, đặc biệt là sự phát triển các năng lực trí tuệ của con người
diễn ra có hiệu quả nhất. Về vấn đề này B.G. Ananhiev đã viết: “Lứa tuổi SV là
thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm đạo đức và thẩm mĩ, là giai đoạn hình
thành và ổn định tính cách. Đặc biệt là họ có vai trò XH của người lớn” [24, 61].
- Sự trưởng thành về trí tuệ, đạo đức XH được thể hiện ở kỹ năng tổ chức
việc HT, sinh hoạt và các hoạt động khác. Ngay từ năm thứ nhất ở ĐH, CĐ SV có
sự biến đổi mạnh mẽ về động cơ, về sự thay đổi giá trị XH có liên quan đến nghề
nghiệp. Bên cạnh đó niềm tin, xu hướng nghề nghiệp được củng cố, các năng lực
cần thiết được phát triển. Các quá trình, trạng thái tâm lý, vốn hiểu biết, kinh
nghiệm sống được hoàn thiện và dần dần được nghề nghiệp hóa.
- Tình cảm nghĩa vụ, ý thức trách nhiệm, tính độc lập trong nghề nghiệp
được nâng cao và dần ổn định. SV trở nên vững vàng hơn trong lập trường sống,
độc lập, học cách độc lập nghiên cứu khoa học. R.A.Nhizamov khẳng định HT ở
ĐH, CĐ SV phải thực sự là chủ thể tích cực xây dựng phương pháp HT, nghiên
cứu khoa học độc lập, tự chủ dưới sự hướng dẫn của GV. Tính độc lập thể hiện từ
việc giải quyết các nhiệm vụ HT đến việc sưu tầm tài liệu tham khảo, lập kế hoạch
HT phù hợp và thực hiện nó. HT của SV có tính chất nghiên cứu, ngoài giờ lên lớp
SV lên thư viện đọc tài liệu tham khảo, tự bổ sung thông tin. Sở dĩ SV có khả năng
độc lập cao trong hoạt động HT là do kết quả phát triển tương dối hoàn thiện của
các chức năng tâm sinh lý ở lứa tuổi này. Sự trưởng thành về mặt trí lực, tư duy
logic, thế giới quan và nhân sinh quan là cơ sở quan trọng của tính độc lập của SV.
Mặt khác, do tính chất HT, nghiên cứu khoa học buộc SV phải có tính độc lập
trong HT. Hoạt động HT của SV thực sự là lao động trí óc căng thẳng, nó phụ
thuộc vào nội dung, tính chất của các nhiệm vụ. Vì vậy, cần có sự động viên đối
với SV trong quá trình HT và có sự chỉ dẫn cần thiết nhưng không áp đặt đối với
SV.
16
- Tính sáng tạo: Trong thời đại ngày nay, lượng kiến thức mà SV cần lĩnh
hội là rất lớn, đồng thời SV còn tham gia nghiên cứu khoa học, đòi hỏi tính sáng
tạo cao. Tính sáng tạo của SV một mặt xuất phát từ kết quả của sự trưởng thành
lứa tuổi, mặt khác do yêu cầu của bản thân hoạt động HT của SV trong thời đại
mới.
- Tính thực tiễn: Trong HT SV phải biết dự đoán chiều hướng phát triển và
ứng dụng chuyên môn vào thực tiễn. SV cần phải nắm vững hệ thống kiến thức lí
luận, cách thức nghiên cứu khoa học, thực hành, thí nghiệm và phát triển KN ứng
dụng. Tính thực tiễn còn cho thấy sự đáp ứng những đòi hỏi của XH với việc đào
tạo đội ngũ chuyên gia trong các lĩnh vực hoạt động của đời sống XH trong thời
đại mới. Ngày nay, ngoại ngữ và tin học là những yêu cầu mang tính thời đại đối
với SV, với tư cách là phương tiện HT, là “chìa khóa” để mở ra kho tàng tri thức
nhưng nó mở rộng tầm hiểu biết và đào sâu kiến thức chuyên môn đã chọn. Hoạt
động này làm nổi bật đặc điểm về tính độc lập và sáng tạo trong học của SV, bao
gồm hoạt động tự học, hoạt động nghiên cứu khoa học của SV. Hoạt động này cần
có sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy.
Tóm lại, hoạt động HT của SV là loại lao động trí óc căng thẳng. HT của
SV diễn ra trong môi trường chuyên nghiệp, mang tính chất đặc thù của nghề
nghiệp tương lai. HT của SV phải đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ ở
trình độ cao. Trong quá trình HT, SV phải giải quyết các nhiệm vụ HT, tự kiểm tra
và đánh giá các kết quả HT của mình. Nội dung HT bao gồm việc học thông tin,
học KN, học thái độ. HT nhằm mục đích cơ bản là thu thập thông tin xây dựng
phương pháp HT, ghi nhớ có chọn lọc, phát triển tư duy sáng tạo, trí tuệ và áp
dụng thông tin vào thực tế. Có thể nói rằng ở trường ĐH, CĐ mục tiêu HT của SV
là học cách học, làm tiền đề cho HT suốt đời. Hiện nay, trong xu thế thời đại, SV
thực sự HT vì cuộc sống, vì nghề nghiệp tương lai. Do vậy, SV phải biết làm chủ
quá trình HT, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo nhằm đạt tới việc tự
học và HT suốt đời.
1.2.3.4. Hoạt động HT của sinh viên sư phạm
Hoạt động HT của SVSP về cơ bản diễn ra như hoạt động HT của các SV
khác. Song do đặc thù nghề nghiệp nên HT của SVSP có một số đặc trưng khác:
18
- SVSP HT để tích lũy tri thức, hình thành KN, kỹ xảo tương ứng theo chuyên
ngành. Đồng thời tích cực rèn luyện KN nghiệp vụ sư phạm để khi ra trường họ sẽ là
lực lượng tri thức tham gia vào hoạt động giảng dạy, giáo dục thế hệ trẻ.
- Việc HT của SVSP không chỉ đáp ứng nhu cầu chuyên môn, chuyên sâu
mà còn phải hình thành và phát triển nhân cách người giáo viên tương lai, bên
cạnh việc “học chữ” là “học làm thầy” để dẫn dắt thế hệ trẻ trở thành những công
dân có ích. Ngày hôm nay, khi còn là SV họ phải được đào tạo một cách toàn diện
nhằm hoàn thiện nhân cách người thầy giáo.
hoạt động sư phạm, sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại. Vì vậy các trường
sư phạm cần phải dạy “cách học mới cho SVSP, tạo cho họ khả năng tự học”.
Trong xu thế phát triển của thời đại nhiều vấn đề mới được đặt ra cho nền
giáo dục quốc gia nói chung và giáo dục ĐH nói riêng. Theo nhận định của các
chuyên gia trong thế kỷ XXI, với ảnh hưởng quan trọng của công nghệ thông tin,
một mô hình giáo dục ĐH mới sẽ được hình thành và phát triển. Trong đó, việc HT
trên mạng nắm vai trò chính. Vì vậy, vai trò của người thầy cũng sẽ thay đổi từ một
giáo viên trên bục giảng trở thành “người thầy trên mạng”. SVSP phải học cách
chuyển tải, tổ chức cho người học lĩnh hội kiến thức một cách dễ dàng, mạch lạc, dễ
hiểu và hấp dẫn. Học cách sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại. SV không chỉ
học cách dạy chữ mà còn phải biết cách dạy người, thuyết phục lòng người. Đồng
thời, để có thể thực hiện tốt dạy học và giáo dục sau này, mỗi SVSP phải tích cực
HT, rèn luyện khả năng giao tiếp SP, trau dồi vốn ngôn ngữ, khả năng diễn đạt
trước HS, thậm chí là học tư thế ngồi, dáng đứng, nét chữ trở đi.
Có thể nói một cách khái quát rằng, mục tiêu HT của SVSP là học cách
học, làm tiền đề cho việc học suốt đời của bản thân. Đồng thời, làm chuyên gia
dạy về cách học cho HS. Trong xu thế thời đại, SVSP ngày nay phải thực sự làm
chủ quá trình HT, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, nhằm đạt tới việc
“tự học – học suốt đời” đáp ứng những yêu cầu của nghề dạy học trong nền văn minh
trí tuệ với những tiến bộ không ngừng về công nghệ thông tin.
1.3. Khó khăn tâm lý trong học tập
1.3.1. Khó khăn tâm lý
20
- Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng [31, 357], “khó khăn” có nghĩa là
điều trở ngại, làm mất nhiều công sức.
- Theo từ điển láy Tiếng Việt [4, 57], “khó khăn” có nghĩa là điều trở ngại.
- Trong Từ điển Anh – Việt, từ “Difficuty” được dùng để chỉ sự khó khăn, sự
tâm lý gây cản trở cho một hoạt động nào đó và làm cho hoạt động đó kém hiệu
quả.
Trong thực tiễn, bất kỳ hoạt động nào của con người đều có thể gặp KKTL,
nó làm cho hoạt động bị chệch hướng, sai lệch với mục đích đã đề ra, làm cho hoạt
động không thể tiếp tục hoặc không đạt kết quả như mong muốn. Những KKTL
đó xuất hiện do các yếu tố tiêu cực gây nên. Các yếu tố đó là: Những yếu tố bên
ngoài ( hay còn gọi là yếu tố khách quan: là những điều kiện, phương tiện hoạt
động, môi trường…) và yếu tố bên trong (hay còn gọi là yếu tố chủ quan: là
những yếu tố xuất phát từ bản thân nội tại mỗi cá nhân khi tham gia vào hoạt
động, đó là sự thiếu hiểu biết, vốn kinh nghiệm hạn chế).
1.3.2. Khó khăn tâm lý trong học tập
Hoạt động HT là hoạt động chủ đạo của HS, SV. Là hoạt động nhận thức, lao
động trí óc căng thẳng có cường độ cao. Là hoạt động đặc thù của con người, giúp
con người hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách. Vì vậy, trong quá trình HT,
người học gặp rất nhiều KKTL đòi hỏi người học phải huy động tối đa những phẩm
chất và năng lực của bản thân mới có thể khắc phục được những KKTL nhằm tiếp
cận được mục tiêu đã đề ra.
Thực tế cho thấy, dù ở độ tuổi nào thì người học đều gặp KKTL ở một mức
độ nhất định. Sở dĩ như vậy là do các yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan gây ra,
như ảnh hưởng của đời sống, môi trường, cơ sở vật chất, năng lực, vốn kinh
nghiệm sống của cá nhân còn hạn chế … Đặc biệt, khi chuyển đổi cấp học, phải
làm quen với môi trường HT mới thì những KKTL càng tăng lên gấp bội. Những
KKTL đó nếu không được phát hiện và tháo gỡ kịp thời sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới
hoạt động HT của cá nhân, làm cho cá nhân lo lắng, sợ hãi, xấu hổ… Điều này
không những ảnh hưởng tới kết quả HT mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát
triển nhân cách của người học.
22
tập…
24
+ Ngoài lớp, ngoài phòng thí nghiệm, tự học, tự nghiên cứu, các hoạt động
theo nhóm để hỗ trợ thảo luận, thực hành, thực tập [13, 40 - 41].
1.4.4. Sự khác nhau giữa học theo niên chế và học theo tín chỉ
Đào tạo theo niên chế và đào tạo theo TC đều có lịch sử phát triển từ rất lâu,
hai hình thức này đều có chung một mục tiêu là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ
cao, đáp ứng sự phát triển của ngành nghề trong XH. Tuy nhiên, hai hình thức đào tạo
này có một số điểm khác nhau cơ bản như sau:
Tiêu chí
Học theo niên chế
Học theo tín chỉ
- Được tổ chức theo năm học, - Được tổ chức theo học kỳ, một
một năm học có 2 kỳ học. SV năm có thể có 2 hoặc 3 học kỳ. SV
phải hoàn thành nội dung học tích lũy kiến thức theo học phần,
Chương
đã được ấn định theo năm học.
tích lũy số TC theo học kỳ.
trình học - Chương trình học được thiết kế - Cấu trúc môđun thành những học
theo năm học và ít có sự biến phần, lịch trình thực hiện chính xác.
động.
- SV rất khó được xét để học - Cho phép SV đăng ký học vượt số