TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
ĐOÀN THỊ YẾN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
BÀI ÔN TẬP TỔNG KẾT TRONG CHƯƠNG TRÌNH
SINH HỌC 11 - THPT VỚI SỰ HỖ TRỢ
CỦA SƠ ĐỒ TƯ DUY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Phương pháp dạy học Sinh học
Người hướng dẫn khoa học
TH.S ĐỖ THỊ TỐ NHƯ
Hà Nội - 2012
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu cùng sự lỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ
của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên, tôi đã hoàn thành đề tài của mình.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo trong khoa Sinh –
KTNN, tới các bạn sinh viên đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc nhất tới cô giáo Th.S
Đỗ Thị Tố Như, người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành
đề tài này.
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng đây là bước đầu làm quen với công tác
nghiên cứu khoa học nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong
sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo, cùng các bạn đọc đề tài để đề tài của
tôi được hoàn thiện hơn.
Xuân Hòa, ngày 10 tháng 4 năm 2012
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
OTTK
Ôn tập tổng kết
PP
Phương pháp
PPDHSH
Phương pháp dạy học sinh học
THPT
Trung học phổ thông
TV
Thực vật
SGK
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận............................................................................................5
1.1.1. Khái quát về dạy học bài ôn tập tổng kết...............................................5
1.1.2. Khái quát về Sơ đồ tư duy......................................................................7
1.2. Cơ sở thực tiễn.......................................................................................10
1.2.1. Thực trạng dạy và học bài ôn tập tổng kết bộ môn Sinh học trong
trường THPT hiện nay.....................................................................................10
1.2.2. Xu hướng ứng dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học Sinh học hiện nay. . .11
Chương 2: DẠY HỌC BÀI ÔN TẬP, TỔNG KẾT VỚI SỰ HỖ TRỢ
CỦA SƠ ĐỒ TƯ DUY
2.1. Dạy bài ôn tập, tổng kết........................................................................13
2.1.1. Vị trí của bài OTTK..............................................................................13
2.1.2. Mục tiêu của bài OTTK…………………………………………..…13
2.1.3. Quy trình dạy học bài OTTK................................................................13
2.2. Thiết kế sơ đồ tư duy trong dạy học bài OTTK.................................17
2.2.1. Các bước thiết kế SĐTD trong dạy học................................................17
2.2.2. Một số lưu ý khi thiết kế SĐTD...........................................................20
Chương 3: DẠY HỌC BÀI ÔN TẬP, TỔNG KẾT TRONG CHƯƠNG
TRÌNH SINH HỌC 11 VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA SƠ ĐỒ TƯ DUY
3.1. Phân tích nội dung – cấu trúc chương trình sinh học 11...................22
3.2. Tổ chức dạy học bài ôn tập, tổng kết chương trình sinh học 11 với sự
hỗ trợ của Sơ đồ tư duy.................................................................................23
3.2.1. Giáo án bài 22: Ôn tập chương I...........................................................24
3.2.2. Giáo án bài 49: Ôn tập chương II, III, IV.............................................35
3.3. Kết quả đánh giá....................................................................................48
3.3.1. Mục tiêu đánh giá.................................................................................49
3.3.2. Nội dung đánh giá.................................................................................49
3.3.3. Đối tượng đánh giá...............................................................................49
3.3.4. Thời gian đánh giá................................................................................49
3.3.5. Kết quả đánh giá....................................................................................49
chương, mỗi phần học môn Sinh học ở trường THPT cho thấy, có một phần
không nhỏ GV chưa thực sự quan tâm tới các bài OTTK kiến thức cho HS, mà
họ thường chỉ chú ý tới dạy bài mới. Biểu hiện có thể thấy như sau: Phần ôn tập
chỉ đơn thuần yêu cầu HS nhắc lại kiến thức đã học qua các bài trong chương
mà chưa thiết lập được mối quan hệ giữa các mặt kiến thức, những hoạt động
dạy học tích cực ít được tiến hành, đa số GV ít quan tâm tới dạy các bài OTTK,
thường sử dụng tiết OTTK để dạy bổ sung các bài còn thiếu tiết hoặc để kiểm
tra lấy điểm còn thiếu cho HS…
Những biểu hiện đó phần nào làm hạn chế chất lượng dạy học bài OTTK,
cũng như việc hoàn thiện, củng cố kiến thức cho HS sau mỗi chương, mỗi phần
học.
Đồng thời, trong quá trình dạy học bộ môn Sinh Học, các bài ÔTTK có vai
trò hết sức quan trọng. Ôn tập là để củng cố kiến thức vững chắc hơn, giúp
chúng ta nhớ đầy đủ chính xác hơn. Việc củng cố, hoàn thiện kiến thức trong
quá trình OTTK giúp HS bổ sung những nhận thức chưa đúng, qua đó phát hiện
được những hạn chế tiếp thu kiến thức của HS, giúp GV hoàn chỉnh nội dung
của từng chương, từng phần cho HS. Trên cơ sở HS đã ôn tập, củng cố hoàn
thiện kiến thức, GV hướng dẫn HS hệ thống hóa kiến thức bằng cách thiết lập
sơ đồ, bảng biểu, so sánh thể hiện mối quan hệ logic giữa các mặt kiến thức
trong từng chương học, phần học.
Như vậy việc ôn tập củng cố kiến thức qua các bài OTTK sau mỗi chương
mỗi phần là một việc làm thường xuyên, có sự phối hợp của nhiều phương
pháp, phương tiện khác nhau, giúp HS hoàn thiện kiến thức. Một trong số đó là
sử dụng SĐTD vào việc dạy các bài OTTK.
SĐTD được coi là một công cụ tư duy nền tảng, có thể coi nó là một kĩ
thuật hình họa với sự kết hợp của từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc, phù
hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của não bộ giúp con người khai thác
tiềm năng vô hạn của não bộ. Nó được coi là sự lựa chọn cho toàn bộ trí óc
lượng dạy học Sinh học 11.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu quy trình và cách thức tổ chức dạy học bài OTTK.
- Nghiên cứu phương pháp dạy học các bài OTTK trong chương trình Sinh
học 11 - THPT.
- Nghiên cứu việc sử dụng SĐTD trong dạy học bài OTTK trong chương
trình Sinh học 11 - THPT.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Các bài OTTK trong chương trình Sinh học 11 - THPT ban cơ bản, bao
gồm:
- Bài 22 “Ôn tập chương I - Chuyển hóa vật chất và năng lượng”, Bài 48
“Ôn tập chương II, II và IV”.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Tìm hiểu tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài.
5.2. Tìm hiểu thực trạng giảng dạy bài OTTK Sinh học 11 ở trường THPT hiện
nay.
5.3. Phân tích nội dung, xác định mục tiêu cụ thể của từng chương trong chương
trình Sinh học 11 để làm cơ sở cho việc tổ chức các hoạt động dạy học bài
OTTK với sự hỗ trợ của SĐTD.
5.4. Tổ chức dạy học bài OTTK trong chương trình Sinh học 11 với sự hỗ trợ
của SĐTD.
5.5. Xây dựng một số SĐTD tạo hứng thú học tập, phát huy khả năng tư duy
tổng hợp kiến thức cho HS và hỗ trợ GV trong dạy bài OTTK môn Sinh học 11
cơ bản.
5.6. Đánh giá chất lượng dạy học bài OTTK với sự hỗ trợ của SĐTD.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phần hai: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Khái quát về bài ôn tập tổng kết
1.1.1.1. Khái niệm
Bài ôn tập, tổng kết là dạng bài lên lớp hoàn thiện tri thức. Tri thức của
một chương, một phần bao gồm một số chương hoặc của cả phân môn Sinh học,
được hoàn thiện trong kiểu bài lên lớp hoàn thiện tri thức, nhằm mục đích ôn
tập, củng cố và vận dụng kiến thức vào tình huống mới, làm cho kiến thức được
mở rộng, đào sâu thêm, đồng thời phát triển được kĩ năng, kĩ xảo cho HS.
1.1.1.2. Vai trò của bài ôn tập, tổng kết
Trong quá trình dạy học bộ môn Sinh học, các bài OTTK có nhiều vai trò
khác nhau: Ôn tập, củng cố, hệ thống hóa, bù đắp những lỗ hổng kiến thức cho
HS.
Ôn tập là để củng cố kiến thức vững chắc hơn, giúp HS nhớ kiến thức
một cách đầy đủ và chính xác. Việc củng cố, hoàn thiện kiến thức trong quá
trình OTTK, giúp các em bổ sung, chỉnh sửa những nhận thức chưa đúng. Qua
đó phát hiện được nhưng hạn chế tiếp thu kiến thức của HS, giúp GV chỉnh sửa
kiến thức cho HS. Như vậy các bài OTTK còn có vai trò kiểm tra, đánh giá kiến
thức mà HS đã tiếp thu được từ trước ở mức độ cao hơn.
Trên cơ sở HS đã ôn tập, củng cố, hoàn thiện kiến thức, GV hướng dẫn
HS hệ thống hóa kiến thức bằng cách thiết lập sơ đồ, bảng biểu, so sánh…thể
hiện mối quan hệ logic giữa các mặt kiến thức trong từng chương, từng phần
học.
Như vậy, việc ôn tập, củng cố kiến thức qua các bài OTTK sau mỗi
chương, mỗi phần học là một việc làm thường xuyên, có sự phối kết hợp của
nhiều phương pháp, phương tiện khác nhau, giúp HS hoàn thiện kiến thức.
1.1.1.3. Các phương pháp sử dụng khi dạy bài ôn tập, tổng kết
Tất cả các phương pháp trong hệ thống các PPDHSH đều có thể sử dụng
để dạy bài OTTK. Tuy nhiên, mức độ tích cực và hiệu quả của mỗi phương
GV đưa ra hệ thống các bài toán, yêu cầu HS phải vận dụng các kiến thức đã
học để giải đáp qua đó ôn tập, củng cố hoàn thiện kiến thức cho HS.
Trên đây là một số PPDH nên ưu tiên sử dụng trong dạy học các bài
OTTK, còn trong dạy học không có một PP nào là độc tôn dù nó có giá trị sử
dụng cao. Các PPDH phải được sử dụng phối hợp một cách khéo léo nhằm phát
huy tối đa tính tích cực, khả năng tư duy của HS.
1.1.1.4. Những chú ý khi dạy bài ôn tập, tổng kết
- Nếu bài OTTK chủ yếu sử dụng PP dùng lời thì GV nêu hệ thống câu hỏi
phát hiện trình độ tri thức đã có ở HS, hướng sự tái hiện kiến thức vào các vấn
đề trọng tâm. Từ đó, yêu cầu HS gia công các kiến thức, sự kiện để hình thành
các khái niệm, quy luật SH đại cương, các nguyên lí Sinh học. Nếu trong bài
tập về nhà có các câu hỏi định hướng như trên thì đến lớp có thể tổ chức HS
trình bày báo cáo, nêu lời giải và thảo luận tập thể nhằm mở rộng, chính xác
hóa, hoàn thiện lời giải.
- Nếu bài OTTK được tổ chức bằng bài thực hành, rèn luyện các kĩ năng
thí nghiệm quan sát, kĩ năng áp dụng kiến thức vào chăn nuôi, trồng trọt thì đầu
tiên GV kiểm tra sự chuẩn bị của HS, tiếp đó GV hướng dẫn kĩ thuật và tổ chức
công việc. Đặc biệt lưu ý HS những chi tiết khó, những tình huống bất ngờ có
thể xảy ra làm thất bại công việc…Khi HS bắt tay vào công việc theo các bước
đã đặt ra, GV theo dõi uốn nắn lúc cần thiết, đánh giá kết quả, cho điểm. Cuối
cùng là tổng kết, rút kinh nghiệm, yêu cầu HS làm vệ sinh và trả dụng cụ thiết
bị.
- Nếu bài OTTK được thực hiện bằng cách cho HS các bài toán, bài tập thì
ở lớp cho HS thực hiện theo từng cá nhân, sau đó yêu cầu một số trình bày lời
giải trước lớp, các bạn học cùng góp ý, GV uốn nắn để cuối cùng đi đến sự
hoàn thiện lời giải. Những bài tập ở đây thường mang tính chất tổng hợp trong
lời giải, yêu cầu HS đề cập đến nhiều khái niệm, quy luật chủ yếu.
1.1.2. Khái quát về SĐTD
kết nối với nhau. Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một bức tranh tổng thể mô tả
về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng.
CẤU TRÚC CỦA SĐTD
1.1.2.3. Ưu điểm của việc sử dụng SĐTD trong dạy học
- SĐTD gợi hứng thú cho HS một cách tự nhiên, nhờ đó giúp HS tiếp thu
nhiều hơn và tích cực hơn trong lớp.
- SĐTD làm cho bài học cũng như cách trình bày bài học ngẫu hứng, sáng
tạo và lí thú hơn đối với cả GV và HS.
- Nhờ SĐTD mà ghi chú bảng của GV trở nên linh hoạt, tùy biến thay vì
cứ “ bổn cũ soạn lại”. Trong thời đại mà mọi thứ đều thay đổi và phát triển
nhanh chóng, GV cần có khả năng làm mới, đồng thời bổ sung ghi chú bài
giảng một cách dễ dàng, nhanh chóng.
- SĐTD biểu thị nội dung thích hợp dưới hình thức rõ ràng và dễ nhớ nên
HS có khuynh hướng đạt điểm cao hơn trong các kì thi.
- Khác với văn bản trình bày nội dung theo cách tuần tự, SĐTD không
những biểu thị sự kiện mà còn cho thấy mối liên hệ ấy, nhờ đó giúp HS hiểu
sâu hơn về chủ đề.
- Số lượng ghi chú cho bài giảng được giảm đi rất nhiều.
Kiểu ghi chép bằng SĐTD thể hiện bằng hình ảnh, màu sắc, đường nét
được trải đều theo các hướng không có tính tuần tự và có độ thoáng, giúp dễ
dàng phát triển ý tưởng nhanh hơn so với cách ghi chép thông thường theo kiểu
xuống dòng. Điểm mạnh nhất của SĐTD là giúp phát triển ý tưởng và không bỏ
xót ý tưởng. Việc xây dựng được một hình ảnh thể hiện mối liên hệ giữa các
kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát
triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo…SĐTD vừa như
một bức tranh tổng thể mà lại chi tiết, vừa giúp nhìn được khái quát toàn bộ vấn
đề vừa nhín được cái cụ thể trong cái tổng thể đó.
- Nội dung khảo sát:
+ PPDH chủ yếu trong dạy học bài OTTK.
+ Cách thức tổ chức dạy học bài OTTK.
+ Việc xây dựng và sử dụng các phương tiện dạy học trong dạy học bài
OTTK.
+ Các khó khăn khi tổ chức dạy bài OTTK trong chương trình Sinh học
11.
- Đối tượng khảo sát: Chúng tôi đã tiến hành quan sát và lấy ý kiến của
một số GV bộ môn Sinh học tại các trường phổ thông sau:
+ Trường THPT Phả Lại - Hải Dương.
+ Trường THPT Nam Sách – Hải Dương.
+ Trường THPT Lê Quý Đôn – Hải Phòng.
+ Trường THPT Yên Dũng 2 – Bắc Giang.
+ Trường THPT Yên Dũng 3 – Bắc Giang.
- Phương pháp khảo sát: Quan sát kết hợp với phỏng vấn.
- Thời gian khảo sát: Từ 20/10 đến 30/11/2011.
- Kết quả khảo sát: Sau một thời gian quan sát kết hợp với lấy ý kiến,
chúng tôi đã thu được các kết quả sau:
+ Về PPDH chủ yếu: Đa số GV thường chỉ sử dụng PP dùng lời, mà cụ
thể là sử dụng PP vấn đáp - tái hiện, phần ôn tập chỉ đơn thuần yêu cầu học
sinh nhắc lại kiến thức đã học qua các bài trong chương mà chưa thiết lập được
mối quan hệ giữa các mặt kiến thức, những hoạt động dạy học tích cức ít được
tiến hành hoặc có chỉ là hình thức. GV có đưa câu hỏi vận dụng thức tế, trắc
nghiệm khách quan, các sơ đồ hóa kiến thức, trò chơi ô chữ nhưng chưa phổ
biến và được tiến hành hời hợt.
+ Về cách thức tổ chức dạy học bài OTTK: Việc tổ chức dạy học bài
OTTK ít được quan tâm, đa số GV lên lớp chỉ yêu cầu HS nhắc lại kiến thức đã
được học ở từng bài trong chương. GV chỉ tổ chức cho HS hoạt động cá nhân là
cả thầy và trò trong hoạt động dạy học và đây được coi là một trong những nội
dung quan trọng của phong trào thi đua “Trường học thân thiện, HS tích cực”
mà Bộ GD & ĐT đang đẩy mạnh triển khai.
Chương 2. DẠY HỌC BÀI ÔN TẬP, TỔNG KẾT VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA
SƠ ĐỒ TƯ DUY
2.1. Dạy học bài OTTK
2.1.1. Vị trí của bài OTTK
Các bài OTTK thường được bố trí ở cuối chương, cuối một học kì trước khi
HS bước vào kiểm tra học kì, có vai trò tổng kết, ôn tập củng cố lại toàn bộ kiến
thức của cả chương, cả học kì. Do vậy, nội dung kiến thức của các bài OTTK
thường mang tính tái hiện là chính, khối lượng kiến thức thường lớn nhưng đều
là những kiến thức HS đã biết. Trong quá trình tổ chức dạy học bài OTTK, GV
cần chú trọng xây dựng hệ thống câu hỏi mang tính tái hiện lại toàn bộ kiến
thức cho HS, đặc biệt là các câu hỏi có tính khái quát cao, hệ thống lại các mạch
kiến thức trong chương, thể hiện được logic giữa các mạch kiến thức đó.
2.1.2. Mục tiêu của bài OTTK
Các bài OTTK có mục tiêu quan trọng nhất là:
- Hệ thống hóa được kiến thức của cả chương, cả phần học.
- Củng cố và khắc sâu được kiến thức của cả chương, cả phần học.
- Xác định được mối liên hệ giữa các mạch kiến thức của chương.
2.1.3. Quy trình dạy học bài OTTK
Để tổ chức được một bài OTTK đạt hiệu quả cao, cần có sự phối hợp của
GV và HS một cách tích cực, đặc biệt phải có sự chuẩn bị chu đáo ở nhà trước
khi lên lớp. Vì vậy có thể chia việc tổ chức dạy bài OTTK thành 2 hoạt động
chính đó là hoạt động ở nhà và hoạt động trên lớp. Ở cả 2 hoạt động này đều cần
GV phân tích nội dung của chương theo
logic hệ thống, dùng các sơ đồ, bảng biểu
để hệ thống kiến thức của chương, từ đó
xác định vấn đề cần ôn tập.
Để ôn tập chương có hiệu quả hơn, GV
nên phân tích nội dung các bài để chọn ra
nội dung liên quan đến vấn đề chính cần hệ
thống, khái quát.
GV giao nhiệm vụ cho HS làm ở nhà
trước khi lên lớp dạy bài OTTK: GV đưa ra
các câu hỏi, các sơ đồ, bảng biểu… yêu cầu
HS hoàn thành ở nhà.
Những mục tiêu của chương đã được xác
định ban đầu khi soạn bài một chương, khi
dạy từng bài. GV cần hệ thống mục tiêu bài
OTTK nhất quán với mục tiêu đã xác định
trong từng bài.
Ở bài OTTK việc xác định mục tiêu phải
dùng những động từ diễn đạt yêu cầu hành
động mà HS phải thực hiện bằng những
thao tác tư duy, hệ thống.
GV thu thập tư liệu từ các nguồn khác
nhau liên quan đến bài học, tư liệu có thể là
các đoạn băng hình, các ảnh động…có thể
là bảng biểu, các sơ đồ…mà GV tự thiết
kế. Tuy nhiên, nguồn tư liệu chính vẫn là
thông tin từ SGK, sách bài tập.
GV cần sắp xếp tư liệu theo hệ thống thể
hiện theo cấu trúc, chức năng hoặc cả cấu
trúc và chức năng, theo mối quan hệ giữa
GV về tài liệu bổ
sung, HS tiến hành
thu thập tư liệu từ
nhiều nguồn khác
nhau dựa trên khả
năng của HS.
Bước 4
Bước 5
Đây là bước quan trọng nhất, hoạt động
của GV là chủ đạo.
GV xây dựng các câu hỏi, bài tập phải
định hướng HS thu thập, xử lí thông tin, tư
liệu theo một định hướng nhận thức nhất
định. Kết quả của việc xử lí thông tin là HS
phải hệ thống hóa, khái quát hóa nội dung
chương theo logic, phản ánh mối liên hệ
giữa các mạch kiến thức trong chương.
Câu hỏi, bài tập phải được sắp xếp một
cách chặt chẽ phù hợp với nội dung kiến
thức của chương và mục đích dạy học.
Xây dựng câu hỏi cần phù hợp với trình
độ tư duy của HS, lựa chọn các câu hỏi vừa
sức có tính khái quát cao.
Câu hỏi và bài tập nên được biên soạn
thành các phiếu học tập để HS tự học ở nhà
trước khi lên lớp.
Bước 3: Hệ thống hóa và mở rộng kiến thức.
Bước 4: Thảo luận những vấn đề khó nhất để tổng kết và rút ra những kết
luận khái quát.
Các bước trên cần được tiến hành lần lượt theo đúng nguyên tác tổ chức
hoạt động trên lớp và đều có sự tham gia của cả GV và HS, trong đó GV chỉ
đóng vai trò tổ chức và hướng đẫn HS tự học bằng cách đưa ra hệ thống câu hỏi
và bài tập và hướng dẫn HS tự tìm câu trả lời. Còn HS đóng vai trò là chủ thể
hoạt động, tự thân vận động, sử dụng các kiến thức đã biết để hoàn thành hệ
thống câu hỏi bài tập GV giao cho. Tuy nhiên do đây là bài OTTK, nên HS cần
có sự phản hồi với GV ở những thành phần kiến thức khó bằng những câu hỏi
được chuẩn bị sẵn yêu cầu GV trả lời. Có thể cụ thể hóa hoạt động của GV và
HS như sau:
Các bước
Hoạt động của GV
GV có thể hệ thống lại kiến thức của
cả chương, hoặc để HS tự hệ thống dự
vào các câu trả lời, các lời giải của HS.
Hoạt động của
HS
HS nảy sinh
nhu cầu cần phải
trả lời nhưng chưa
thể trả lời ngay
được.
HS dựa vào
kiến thức đã học
Bước 2: Ôn
GV dựa trên hệ thống câu hỏi, bài tập
lại những đã xây dựng đưa ra cho HS hoàn thành.
nội
dung Có thể đưới dạng các phiếu học tập, yêu
chính của cầu HS thảo luận nhóm hoàn thành.
cả chương
Bước 3: Hệ
thống hóa
và mở rộng
kiến thức
Bước
4:
Thảo luận
những vấn
đề khó nhất
để tổng kết
và rút ra
những kết
luận khái
quát
thích, không phải HS nào cũng giải quyết
được các bài tập dạng này. GV nên tổ
chức thảo luận giúp HS giải đáp các thắc
mắc và hệ thống hóa kiến thức của cả
chương.
“Quang hợp”, “Hô hấp”, “Cảm ứng”…) hoặc là một hình ảnh, hình vẽ mà ta
cần phát triển.
- Ví dụ: thiết lập SĐTD cho chương II. Cảm ứng SH 11, ban cơ bản
Bắt đầu bằng cụm từ trung tâm “Cảm ứng ở thực vật”.
- Nên dùng hình ảnh, hình vẽ ở trung tâm sẽ giúp ta tập trung vào chủ đề
và làm cho ta hưng phấn hơn.
- Nên bố trí thông tin quanh chủ đề trung tâm, hình ảnh trung tâm.
• Bước 2: Vẽ nhánh cấp 1
- Các nhánh cấp 1 chính là nội dung chính của bài học hay chủ đề đó (hay
tên các mục của SGK), chẳng hạn như với chủ đề “Cảm ứng ở thực vật” có các
nhánh sau: Khái niệm, tác nhân, hướng động, ứng động, đặc điểm, vai trò.
-Vẽ các nhánh cấp một từ hình ảnh, chủ đề trung tâm bằng các đường kẻ,
đường cong với màu sắc khác nhau. Nhánh màu nào thì nên vẽ chữ cùng màu
đó để dễ nhận biết.
•
Bước 3: vẽ nhánh cấp 2, 3,…và hoàn thiện SĐTD
- Các nhánh con cấp 2, 3,…chính là các nhánh con của nhánh con trước đó
(hay nói cách rõ hơn nhánh con cấp 2,3,..là ý triển khai của nhánh trước đó).
- Ví dụ nhánh cấp 1 “ Tác nhân “ của chủ đề : Cảm ứng ở thực vật” có các
nhánh con sau: ánh sáng, nhiệt độ, nước, trọng lực, cơ học, áp suất…
- Các nhánh cấp 2, 3,… nên có kích thước nhỏ hơn nhánh trước nó để chỉ
rõ tính phân cấp trong SĐTD, các nhánh nên sử dụng đường cong vì đường
cong dễ thu hút sự chú ý của mắt hơn và làm cho mắt cảm thấy dễ chịu hơn
nhiều so với nhìn vào đường thẳng.