LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện tiểu luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của
các đoàn thể và cá nhân. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn và kính trọng tới tất cả các
tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp tôi trong quá trình học tập và nghiên
cứu. Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Vi Thái Lang người
đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện tiểu luận. Tôi
xin trân trọng cảm ơn Thư viện, phòng sau đại học, tập thể K16 TGT, các đơn
vị liên quan của trường ĐHSP Hà Nội 2 những người đã trang bị cho tôi
những kiến thức quý báu để giúp tôi hoàn thiện bài tiểu luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên,
chia sẻ, giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thiện
tiểu luận này.
Hà Nội, tháng 1 năm 2013
TÁC GIẢ
VŨ QUANG HUY
Vũ Quang Huy
K16 - TGT
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong tiểu luận
này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam
đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện tiểu luận này đã được cảm ơn và
các thông tin trích dẫn trong tiểu luận này đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 1 năm 2013
TÁC GIẢ
VŨ QUANG HUY
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................
Vũ Quang Huy
K16 - TGT
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức ra đời và tồn tại đến nay
đã hơn 2500 năm. Trong suốt thời gian tồn tại, Nho giáo đã có ảnh hưởng ở
nhiều nước phương Đông, trong đó có Việt Nam. Nội dung đạo đức chủ yếu
của Nho giáo như tam cương (đạo đức xã hội gồm ba mối quan hệ cơ bản là
vua-tôi, cha-con, chồng-vợ), ngũ thường (gồm năm chuẩn mực đạo đức cá
nhân bất di bất dịch là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Đó là những tiền đề để thực
hiện thuyết chính danh, làm cho xã hội được ổn định, trật tự. Sự ảnh hưởng
này, được thể hiện trên nhiều phương diện, đặc biệt là trong lĩnh vực đạo đức
trước đây cũng như hiện nay. Vì vậy tôi chọn vấn đề "Những tư tưởng chủ
yếu của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam trong lịch sử và hiện nay"
làm đề tài tiểu luận của mình.
Hoàn thành tiểu luận này, tôi hi vọng có thể góp một phần nhỏ của
mình trong việc làm rõ những ảnh hưởng của Nho giáo đến Việt Nam từ đó
giúp mọi người có một cái nhìn sâu sắc hơn về Nho giáo.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu những tư tưởng chủ yếu của Nho giáo, các ảnh hưởng tích
cực và tiêu cực của nó đến xã hội Việt Nam trong lịch sử và hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Tìm hiểu về các quan điểm, tư tưởng của Nho giáo về các mặt của
1.1Vài nét về tiến trình phát triển của Nho giáo
Lịch sử Nho giáo dài hơn hai nghìn năm. Trong thời gian đó, ở phương
Bắc, xã hội phong kiến chuyển biến, lịch sử chính trị phát triển, phong tục tập
quán thay đổi. Nho giáo cũng được bổ sung nhiều cái mới vào nội dung của
nó. Nho giáo càng phát triển lại càng phức tạp hơn. Nói đến Nho giáo thì việc
đầu tiên không thể không nhắc tới: đó là Khổng Tử. Người ta bình luận khen
tặng Khổng Tử ra sao đều không thể gọi là quá lời, trước đây hơn 2000 năm,
đại sử học gia Tư Mã Thiên khi đi thăm Khúc Phụ quê hương của Khổng Tử
từng cảm khái viết: “Khổng Tử áo vải, truyền hơn 10 đời, được các học trò coi
là tổng sư, từ thiên tử, vương hầu đến thứ dân đều coi ông là bậc chí thánh”.
Từ đời Hán đến đời Thanh, Khổng học chủ yếu dùng hình thức kinh
truyện để lưu truyền. Đường Thái Tông sau khi hoàn thành toàn diện thống
nhất quốc gia, liền cho kinh học gia Khổng Dĩnh Đạt chú giải, hiệu đính lại
năm kinh Nho gia là Dịch, Thi, Thư, Tà tuyên, Lễ ký thành bộ Ngũ kinh
chính nghĩa gần như tổng kết toàn diện kinh học từ đời Hán đến đó. Ngũ kinh
chính nghĩa trở thành sách giáo khoa dùng cho thi cử đời Đường. Khổng học
càng được giai cấp thống trị tín nhiệm, Đường Thái Tông nói rất rõ “Nay trẫm
yêu thích nhất là đạo của Nghiêu Thuấn và đạo của Chu Không coi như chim
thêm cánh, như cá gặp nước, không thể không có được”. Từ đó, Khổng Tử
với đế vương, với chính phủ các triều đại đều có quan hệ như Đường Thái
Tông hình dung.
Khi lịch sử phức tạp của Trung Quốc tiến vào thời kỳ phát đạt - thời kỳ
nhà Tống, vị hoàng đế khai quốc là Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn lập tức
chủ trì nghi lễ long trọng tế tự Khổng Tử để biểu dương lòng thiếu đễ, vua
còn thân chủ trì khoa thi tiến sĩ mà nội dung hoàn toàn theo Nho học. Đối với
Nho học mới bột hưng ở thời Tống, chúng ta thường gọi đó là Lý học.
Vũ Quang Huy
việc theo dõi, học hỏi Nho giáo của ba triều đại này. Thời Nguyễn, Nho học
kém cỏi, chỉ vẹt lại Trình, Chu, một phần vì người ta quan niệm rằng nho học
đến Trình, Chu là hết mức rồi, phần khác vì sự thống trị của nhà Nguyễn là
một bước thụt lùi trên nhiều mặt. Đến đời Thanh thì chia thành nhiều phái:
Vũ Quang Huy
K16 - TGT
5
Hán học, Kinh học, Tống học và Tân học, không phải cái nào cũng ảnh hưởng
đến Việt Nam.
1.2 Những tư tưởng chủ yếu của Nho giáo.
Nho giáo là một trường phái do Khổng Tử, tên thật là Khâu, hay còn
gọi là Trọng Ni, người nước Lỗ (551 - 479 trước Công nguyên, thời Xuân
Thu - Chiến quốc) sáng lập. Khổng Tử là người mở đường vĩ đại của lịch sử
tư tưởng Trung Quốc cổ đại. ông là nhà triết học, nhà chính trị và là nhà giáo
dục nổi tiếng ở Trung quốc cổ đại. Ông đã hệ thống những tri thức tư tưởng
đời trước và quan điểm của ông thành học thuyết đạo đức chính trị riêng, gọi
là Nho giáo. Học thuyết của ông được hai nhà tư tưởng là Mạnh Tử và Tuân
Tử hoàn thiện và phát triển. Mạnh Tử theo hướng duy tâm, Tuân Tử theo
hướng duy vật. Trong lịch sử sau này dòng Khổng Mạnh có ảnh hưởng lâu
dài nhất. Từ nhà Hán trở đi, Nho giáo được nhiều nhà tư tưởng phát triển và
sử dụng theo môi trường xã hội của nó.Tư tưởng trung tâm của Nho giáo là
những vấn đề về chính trị, đạo đức của con người và xã hội.
1.2.1 Quan điểm về bản chất con người.
Nho giáo đặt vấn đề đi tìm một bản tính có sẵn và bất biến của con
người. Đức Khổng Tử và Mạnh Tử đều quan niệm bản tính con người ta sinh
ra vốn thiện. Bản tính "Thiện" ở đây là tập hợp các giá trị chính trị, đạo đức
cứ người nào cũng đều có thể đạt được địa vị "người quân tử". Tuân Tử đề
cao khả năng và vai trò của con người. Ông khẳng định trời không thể quyết
định được vận mệnh của con người. Ông cho rằng con người không thể chờ
đợi tự nhiên ban phát một cách bị động mà phải vận dụng tài trí, khả năng của
mình, dựa vào quy luật của tự nhiên mà sáng tạo ra những của cải, sản vật để
phục vụ cho đời sống con người.Như vậy, Nho giáo thể hiện là một học
thuyết có tính nhân văn rất cao, nhìn thấy nét đẹp của con người và rất tin
tưởng vào con người, tin tưởng vào khả năng giáo dục con người.
1.2.2. Quan điểm về xã hội học
Nho giáo đứng trên quan điểm duy tâm để giải quyết những vấn đề xã
hội bởi vì khi giải quyết những vấn đề xã hội. Nho giáo khái quát những quan
hệ chính trị - đạo đức ấy vào ba mối quan hệ rường cột, gọi là tam cương, bao
gồm:
- Quan hệ vua - tôi.
- Quan hệ cha - con.
- Quan hệ chồng - vợ.
Quan hệ thứ nhất thuộc quan hệ quốc gia, còn hai quan hệ sau thuộc
quan hệ gia đình. Điều này nói lên rằng trong quan niệm về xã hội, Nho giáo
Vũ Quang Huy
K16 - TGT
7
đặc biệt quan tâm tới những quan hệ nền tảng của xã hội là quan hệ gia đình.
Quan hệ gia đình ở đây mang tính chất tông tộc, dòng họ. Xã hội trị hay loạn
trước hết thể hiện ở chỗ có giữ vững được ba quan hệ ấy hay không.Xã hội là
tam cương - tam cương là quốc gia.Mỗi cương thay đổi xã hội loạn.
1.2.3 Quan điểm về giáo dục
8
- Nguyên tắc 2: Thực hiện "chính danh" trong quản lý xã hội."Chính
danh" nghĩa là mỗi người cần phải nhận thức và hành động theo đúng cương
vị, địa vị của mình: vua phải ra đạo vua, tôi phải ra đạo tôi, cha phải ra đạo
cha, con phải ra đạo con, chồng phải ra đạo chồng, vợ phải ra đạo vợ... Nếu
như mọi người không chính danh thì xã hội ắt trở nên loạn lạc.
Không thể có một xã hội trị bình mà nguyên tắc chính danh bị vi
phạm.Trong Nho giáo, Khổng Tử đặc biệt đề cao giữa danh và thực. Thực do
học, tài và phận quy định.
- Nguyên tắc 3: Thực hiện Văn trị - Lễ trị - Nhân trị.
Đây là nguyên tắc có tính chất đường lối căn bản của Nho giáo.Văn trị:
Đề cao trị bằng hiểu biết. Tạo ra vẻ đẹp của một nền chính trị để mọi người tự
giác tuân theo. Lễ trị: Dùng tổ chức, thiết chế xã hội để trị quốc. Đề cao nghi
lễ giao tiếp trong trị quốc.Nhân trị: Trị quốc bằng lòng nhân ái, mở rộng ân
trạch của hoàng cung tới bốn phương.Khổng Tử cho rằng trị quốc là việc rất
khó, nhưng cũng rất dễ làm nếu đức Minh quân biết sử dụng ba loại người:
Cả quyết can đảm, Minh đản (trí thức) và Nghệ tinh. Nhà vua muốn trị vì đất
nước và muốn có đức nhân phải biết dùng người và thực hiện ba điều:
+ Kính sự: Chăm lo đến việc công.
+ Như tín: Giữ lòng tin với dân.
+ Tiết dụng: Tiết kiệm tiêu dùng.
Ngược lại, dân và bề tôi đối với vua phải như đối với cha mẹ mình,
phải tỏ lòng trung của mình đối với vua. Tiếp tục thuyết " Nhân trị" của
Khổng Tử, Mạnh Tử đề ra tư tưởng " Nhân chính". Theo Mạnh Tử, việc chăm
dân, trị nước là vì nhân nghĩa, chứ không phải vì lợi và Mạnh Tử chủ trương
một chế độ "bảo dân", trong đó người trị vì phải lo cái lo cho dân, vui cái vui
của dân, tạo cho dân có sản nghiệp riêng và cuộc sống bình yên, no đủ, như
thế dân không bao giờ bỏ vua. Đồng thời ông cũng khuyên các bậc vua chúa
phải giữ mình khiêm cung, tiết kiệm, gia huệ cho dân, thu thuế của dân có
Phật giáo và trở thành quốc giáo. Nó được phát triển trong sự ảnh hưởng của
truyền thống dân tộc Việt nam và Phật giáo. ảnh hưởng của Nho giáo đối với
nước ta có cả mặt tích cực và tiêu cực
2.1Vài nét về quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam
Tiếp thu một học thuyết từ bên ngoài để làm lý luận hướng dẫn tư duy
và hành động cho dân tộc mình là một chân lý phổ biến, là một sự thực khách
quan của các thời đại, của các dân tộc.
Thực tế này có căn cứ vững chắc trong sự phát triển. Đó là sự phát triển
không đồng đều của các dân tộc qua không gian và thời gian. ở cùng một thời
đại, ta thường thâý ở một vùng này, có một dân tộc hoặc một vài dân tộc khác
Vũ Quang Huy
K16 - TGT
10
cao hơn, nhanh hơn, mạnh hơn các dân tộc khác ở xung quanh. Sự thực này ta
có thể tìm thấy ở Châu á, Châu Phi, Châu Âu, Châu Mỹ, ở thời xưa cũng như
thời nay. Những dân tộcc ở bất cứ đâu, bất cứ thời nào muốn sống, muốn
nâng cao mức sống của mình không thể không học tập những dân tộc tiên
tiến. Ta không hề thấy một dân tộc nào cứ chịu lạc hậu, chịu áp bức bóc lột
nghèo nàn để chờ sự sáng tạo của riêng mình không thèm học tập những dân
tộc tiến bộ hơn mình. Điều này đúng với khoa học tự nhiên và kỹ thuật cũng
như vói khoa học xã hội. Vì thế chúng ta tiếp thu tư tưởng văn hoá Trung
Quốc là một điều tất yếu.
Trong ý thức hệ phong kiến mà người Hán đưa vào nước ta từ thời kỳ
Bắc thuộc, Nho giáo lâu bền nhất và có ảnh hưởng sâu sắc nhất. Phật giáo dần
dần rút lui vào chùa chiền, lão giáo cũng dần biến thành một thứ mê tín dị
thiên” “Phụng thiên”. Phần “Chiếu dời đô” của nhà Lý tuy đoạn còn lại với
chúng ta rất ngắn, cũng đượm mùi Nho giáo. Cái gương “nhà Thương, nhà
Chu” cũng được nêu lên, cái gương “kính vâng mạng trời” cũng được nhấn
mạnh. Các triều đại sau, Trần, Lê, Nguyễn thờ đạo Nho như thế nào thì sử
sách đã nêu rõ.
Vũ Quang Huy
K16 - TGT
12
2.2Những ảnh hưởng của Nho giáo trong lịch sử Việt Nam
2.2.1 Ảnh hưởng trong chế độ phong kiến
Nho giáo đem lại một bước tiến khá căn bản trong lĩnh vực văn hoá
tinh thần của xã hội phong kiến nước ta từ thế kỷ XV, trước hết nó làm cho
nền giáo dục phát triển hết sức mạnh mẽ nhất là dưới triều Lê Thánh Tông.
Nền giáo dục ấy cùng với chế độ thi cử đã đào tạo ra một đội ngũ tri thức
đông đảo chưa từng thâý trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Do đó
khoa học và văn học nghệ thuật phát triển.
Hơn nữa sự thịnh trị của Nho giáo từ thế kỷ XV cũng là một hiện tượng
góp phần thúc đẩy lịch sử tư tưởng nước ta tiến lên một bước mới. Là một học
thuyết tích cực nhập thể, nó cổ vũ và khuyến khích mọi người đi sâu vào tìm
hiểu những quan hệ xã hội, những vấn đề của thực tiễn chính trị, pháp luật và
đạo đức. Do đó, nhận thức lý luận của dân tộc ta về các vấn đề ấy cũng được
nâng cao hơn. Dựa vào lịch sử của Nho giáo, nhà vua và các nho sĩ giải thích
các vấn đề ấy có lập luận và có lý lẽ đầy đủ hơn.
Nhưng Nho giáo Việt Nam dù có lý do để tồn tại và phát triển thì cũng
vẫn gắn liền với giai cấp phong kiến địa chủ trong nước và là công cụ thống
nhập tầng lớp Nho sĩ này xa rời sinh hoạt kinh tế và lĩnh vực sản xuất xã hội,
nó chỉ biết đề cao đạo tư thân và đạo tự nước chứ không hề đếm xỉa đến các
tri thức về khoa học tự nhiên cũng như về các ngành sản xuất và lưu thông.
Tính chất tiêu cực ấy của Nho giáo càng về sau càng gây tác hại không nhỏ
trong việc phát triển lực lượng sản xuất của xã hội.
Khi đã chiếm được địa vị thống trị trên vũ đài tư tưởng, Nho giáo Việt
Nam không tiếp tục đi sâu vào khám phá những vấn đề bản chất của đời sống
và của vũ trụ, vì mối quan hệ giữa tinh thần và thể xác. Nó chỉ chú trọng đến
những quan hệ chính trị và đạo đức thực tế. Cho nên khi xã hội phong kiến rối
loạn, vấn đề số phận và yêu cầu giải phóng con người được đặt ra thì Nho
giáo trở thành bất lực. Nó không giải đáp được vấn đề ấy vì nó đã sớm bỏ con
đường phát triển tư duy trừu tượng.
Hơn nữa, một khi Nho giáo chiếm vị trí độc tôn thì lễ chế của nó đặc
biệt phát triển mạnh. Khi đó nó bắt đầu đè nặng lên con người và bóp nghẹt
nếp sống giản dị, những quan hệ xã hội trong sáng, những tình cảm tự nhiên
và chân thực của suy sụp cùng với xã hội phong kiến thì nó trở nên phản
động, cổ hủ và lạc hậu.
2.2.2 Ảnh hưởng của Nho giáo trong thời kỳ cách mạng dân tộc Việt Nam
Vũ Quang Huy
K16 - TGT
14
Nho giáo được Việt Nam hóa, trí thức Nho giáo đã có những đóng góp
đáng kể vào việc củng cố những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nâng nó lên
thành những tư tưởng ổn định thúc đẩy sự phát triển của đất nước, tạo nên
một sức mạnh to lớn để suốt một ngàn năm giữ vững độc lập và chiến thắng
- Nho giáo luôn quay về với quá khứ, đời này không bằng đời xưa,
người ít tuổi không bằng người nhiều tuổi. Cách mạng luôn nhìn về phía
trước, đặt niền tin vào thanh niên và tiền đồ dân tộc.
- Đảo ngược lại học thuyết của Nho giáo, nhằm mục tiêu trái hẳn với
mục tiêu của Nho giáo, Hồ Chí Minh không xóa bỏ toàn bộ nội dung của Nho
giáo mà giữ lại những nhân tố hợp lý vốn phục vụ cho chế độ cũ thành những
công cụ chống lại chế độ cũ và xây dựng chế độ mới. Với tinh thần nói trên
mà trong quá trình lãnh đạo Cách mạng tháng tám, Hồ Chí Minh đã sử dụng
rất nhiều câu chữ của Nho giáo, nhiều kinh nghiệm giáo dục và tu dưỡng của
Nho giáo, nhiều biện pháp động viên tinh thần và ý chí của Nho giáo để cổ vũ
nhân dân đứng lên chiến đấu giành lại độc lập tự do với một khí phách kiên
cường, tinh thần mưu trí và sáng tạo.
2.3 Ảnh hưởng của Nho giáo trong tư tưởng Việt Nam.
Những nhu cầu xã hội giúp cho Nho giáo chiếm được địa vị độc tôn
trong thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam.
Nho giáo Việt Nam chiếm được vị trí độc tôn từ thế kỷ 15 và thịnh đạt
nhất vào thời Lê Thánh Tông thì đó không phải là một hiện tượng ngẫu
nhiên. Bởi vì nó có liên hệ với những nhu cầu xã hội nước ta lúc đương thời.
Những nhu cầu này không chỉ tồn tại ở thế kỷ 15 mà đã sớm xuất hiện từ
trước ngay khi Nho giáo còn đang trên đà phát triển.
Trong những nhu cầu đó đáng kể trước hết là nhu cầu xây dựng và tổ
chức bộ máy nhà nước phong kiến trung ương tập quyền lớn mạnh và nhu cầu
củng cố trật tự đã ổn định của xã hội phong kiến.
Ngay từ sau chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại ở thế kỷ X, việc xây dựng
một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đã tỏ ra cần thiết cho công
cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Tuy nhiên dưới các triều đại Ngô,
Đinh, Tiền Lê việc xây dựng một nhà nước chủ thế mới chỉ làm được những
bước đầu tiên và chưa thực sự được đẩy mạnh, phải đợi đến thế kỷ XI với sự
xác lập của vương triều Lý thì nhà nước phong kiến tập quyền mới được xây
định về mặt lý luận. Vả lại vào cuối triều Lý và nhất là khi nhà Trần suy
vong, mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và đa số nhân dân đã lộ rõ, mầm phản
kháng của nhân dân chống lại cái trật tự khắc nghiệt của chế độ phong kiến đã
trở thành một sự nổi bật hơn cả những cuộc hỗn chiến giữa các tập đoàn
thống trị. Trong hoàn cảnh ấy giai cấp phong kiến Việt Nam muốn tăng
cường bộ máy Nhà nước và duy trì trật tự xã hội thì không thể không tìm đến
Vũ Quang Huy
K16 - TGT
17
cái đạo trị quốc bình thiên hạ, cái lý thuyết chính danh định phận và lễ trị của
Nho giáo.
Quá trình phát triển của chế độ trung ương tập quyền Việt Nam gắn liền
với sự củng cố quyền sở hữu của Nhà nước và sự bành trướng của sở hữu tư
nhân về ruộng đất. Hầu hết ruộng đất dù là ruộng công của làng xã hay ruộng
của địa chủ đều được sử dụng trong khuôn khổ sản xuất nhờ lấy gia đình làm
đơn vị. Trong mỗi gia đình không những cơ quan hôn nhân, huyết thống mà
còn có cả quan hệ sở hữu, phân phối sản phẩm, phân công lao động cho đến
những quan hệ tinh thần. Tất cả những quan hệ ấy chứng tỏ vai trò của người
gia trưởng và tôn ti trật tự của gia đình có một ý nghĩa rất lớn. Đó chính là cơ
sở để Nho giáo dễ thâm nhập vào cuộc sống bởi vì Nho giáo với các khái
niệm hiếu, đễ, tiết, hạnh đã góp phần củng cố uy quyền của người gia trưởng
và tôn ti trật tự trong gia đình.
Cuối cùng phải kể đến nhu cầu phát triển văn hoá và giáo dục nước ta
khi chế độ phong kiến tập quyền đã bắt đầu, việc bổ sung quan lại bằng hai
con đường “nhiệm tử” và “thủ sĩ” không đủ mà cần phải bổ sung một phương
người, coi trọng con người là yếu tố quyết định. Giáo dục Nho giáo góp phần
nâng cao văn hóa con người đặc biệt về văn hóa, sử học, triết học. Với
phương châm “học nhi ưu tắc sĩ”, học để có thể tìm ra một nghề nghiệp mới
và nâng cao vị trí xã hội của bản thân là động lực hiếu học trong nhân dân.
Hiếu học là đặc điểm của Nho giáo. Hiếu học đã trở thành truyền thống văn
hóa Á Đông trong đó có Việt Nam.
- Nho giáo hướng quản đạo quần chúng nhân dân vào việc học hành, tu
dưỡng đạo đức theo Ngũ Thường “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín” làm cho xã hội
ngày càng phát triển văn minh hơn.
- Nho giáo góp phần xây dựng mối quan hệ xã hội rộng rãi hơn, bền
chặt hơn, có tôn tri trật tư… vượt quá phạm vi cục bộ là các làng xã, thôn, ấp
hướng tới tầm mức quốc gia, ngoài ra nó góp phần xây dựng mối quan hệ gia
đình bền chặt hơn, có tôn ty hơn… nhờ tuân theo Ngũ Luân “Vua-tôi, chacon, chồng-vợ, anh-em, bạn-bè”.
- Nho giáo vốn đặt mối quan hệ vua tôi ở vị trí cao nhất trong năm quan
hệ giữa người với người. Các Nho sĩ Việt Nam cũng nhấn mạnh mối quan hệ
này, xây dựng tinh thần trung quân, ái quốc nhưng không mù quáng trung
quân mà vẫn đặt ái quốc lên hàng đầu. Họ đòi hỏi nhà vua trước hết phải
trung thành với tổ quốc và trung hậu với nhân dân.
- Nhân nghĩa trong Khổng giáo là tình cảm sâu sắc, nghĩa vụ thiêng
liêng của bề tôi đối với nhà vua, của con đối với cha, của vợ đối với chồng,
Vũ Quang Huy
K16 - TGT
19
nhưng đối với Nguyễn Trãi và các trí thức Việt Nam thì điều cốt yếu của nhân
nghĩa là phải đem lại cho nhân dân cuộc sống thanh bình, và đội quân chính
K16 - TGT
20
Nguyễn Trãi trong "Bình Ngô đại cáo" đã viết:
"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân"
Và
"Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn
Đem chí nhân để thay cường bạo"
Đảng ta thực hiện đường lối lấy dân làm gốc với khẩu hiệu: "Dân giàu,
nước mạnh" và "Chúng ta không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng".Bác Hồ
khi kế thừa các tư tưởng triết học Nho giáo đã tinh lọc, loại bỏ những tư
tưởng không phù hợp với thời đại và hoàn cảnh của Việt nam lúc bấy giờ.
Chẳng hạn Khổng Tử cho rằng: "Thứ dân bất nghị" tức là dân thường
không có quyền bàn việc nước, còn Bác Hồ đề cao dân chủ. Khổng Tử coi
thường vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội thì Bác Hồ chủ trương
nam nữ bình quyền.
2.3.2 Tiêu cực
- Không như Nho giáo Trung Hoa, tuy không coi trọng thương nghiệp
nhưng cũng không phản đối. Nho giáo Việt Nam quá coi trọng nông nghiệp
mà bài xích thương nghiệp, quá chú trọng đến tự sản, tự tiêu mà quên đi sự
trao đổi mua bán, kềm hãm tính năng động, sáng tạo dẫn đến quan liêu, bảo
thủ trong cả kinh tế lẫn chính trị. Trong những giai đoạn đầu của chế độ
phong kiến, nó tạo sự ổn định, phát triển nhưng sau đó chính nó lại tạo ra sức
ỳ quá lớn khiến đất nước không thể phát triển.
- Nho giáo quá bảo thủ không tiếp thu những cái mới ưu việt hơn dẫn
đến bị cái mới ưu việt hơn tiêu diệt.
- Nho giáo đưa con người quá hướng nội, chuyên chú suy xét trong tâm
mà không hướng dẫn con người hướng ra bên ngoài, thực hành những điều
- Trên lĩnh vực chính trị - đạo đức: Ngày nay áp dụng những tư tưởng
của Nho giáo, kế thừa nhữnh mặt tích cực của nó để đạt mục tiêu ổn định kinh
tế, xã hội; đặc biệt chú trọng Nho giáo cổ đại (Khổng Tử) chứ không phải
Nho giáo sau này (chỉ nhấn mạnh quan hệ một chiều). Đảm bảo nhìn nhận
vấn đề một cách hợp lý, duy trì vấn đề phê phán đúng lúc, đặt vấn đề dân chủ
trong việc áp dụng những tinh hoa tích cực. Trong kinh doanh phải biết trọng
chữ tín, lấy chữ tín làm đầu, trong đó có một vấn đề rất quan trọng là phải
quan tâm đúng mức đến chất lượng sản phẩm.
Hồ chí Minh, nhà tư tưởng văn hóa của Thế giới, con người vĩ đại của
dân tộc Việt Nam đã tiếp thu truyền thống văn hóa dân tộc thể hiện trong tư
tưởng và nhiều câu chuyện nho giáo của Người. Nhưng Người đã vượt qua
những hạn chế của Nho giáo ra đi tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc.
Người đa sáng lập và giáo dục Đảng ta với phương châm : “lấy dân làm gốc”
làm tôn chỉ lãnh đạo nhân dân ta trong cuộc dựng nước và giữ nước. Người
Vũ Quang Huy
K16 - TGT
22
cũng coi đạo đức là gốc chủ trương chọn lựa người tài để đảm đương việc
nước. Qua 2 cuộc kháng chiến người đã nhắc nhở rất nhiều câu chữ của Nho
giáo để giáo dục cán bộ nhân dân về phẩm chất tư cách đạo đức, về lòng nhân
đạo của con người Việt Nam. Người mượn câu nói của Mạnh Tư để nêu lên
khí phách của người cách mạng: “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó
không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục”. Đây cũng chính là câu
nói của Mạnh Tử trong Thiên Đằng Văn Công – Ha: “Phú quí bất năng dâm,
bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”
Sau hai cuộc kháng chiến Nhân dân Việt Nam giành lại được độc lập và