DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Diễn giải
GDCD
Giáo dục công dân
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
LLSX
Lực lượng sản xuất
QLGT
Quy luật giá trị
SL
Số lượng
SGK
đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển theo hướng
hiện đại. Hướng tới mục tiêu này cần huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn
lực, trong đó, nguồn nhân lực là quan trọng hơn cả. Phát triển nguồn nhân lực có
chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
cần ưu tiên phát triển giáo dục.
Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo không phải chỉ đổi
mới mục tiêu, nội dung chương trình và sách giáo khoa mà còn phải đổi mới
phương pháp dạy học. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học được xác
định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 / 1993), Nghị quyết Trung
ương 2 khóa VIII (12 / 1996), Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương
khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (10 / 2013). Theo
Luật Giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, Điều 5 đã ghi:
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy
sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng
thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.
Tạo ra những con người lao động mới có tư duy sáng tạo cần có một
phương pháp dạy học mới, khơi dậy và phát huy được tư duy sáng tạo cho người
học. Các nhà khoa học đều cho rằng: mọi người đều có tiềm năng sáng tạo,
nhưng mức độ sáng tạo rất khác nhau và có thể bồi dưỡng trí sáng tạo được.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam
khẳng định: “Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan
trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH… đổi mới nội dung, phương pháp dạy và
1
học… phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên,
đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề…” [14; 108, 109].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục chỉ đạo đổi mới
toàn diện giáo dục và đào tạo: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và
cả các môn học, không hạn chế phạm vi ứng dụng. Do đó, yêu cầu cấp thiết
được đặt ra trong giáo dục phổ thông là đổi mới phương pháp dạy học, trong
đó đổi mới phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân là không thể thiếu.
Môn Giáo dục công dân trong chương trình giáo dục phổ thông nằm
trong hệ thống các môn khoa học xã hội, là môn học bắt buộc đưa vào giảng
dạy cho học sinh trung học phổ thông. Đây là môn học có nhiều nội dung: vấn
đề hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học; vấn đề đạo đức; vấn
đề kinh tế; vấn đề chính trị - xã hội; vấn đề pháp luật. Đặc thù môn học đang
nghiên cứu, ta thấy nội dung môn học có mối quan hệ mật thiết với môi
trường xã hội và thực tiễn. Hoạt động dạy học có hiệu quả hơn, giáo viên cần
phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh, đạt mục tiêu bài học, đáp
ứng yêu cầu học tập và thị trường lao động trong xã hội hiện đại.
Chính vì vậy, để giúp cho việc dạy học đạt được mục tiêu môn học tác
giả đã chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ khoa học là: “Dạy học
phần (Công dân với kinh tế) theo định hướng phát triển năng lực tư duy
sáng tạo cho học sinh Trường Trung học phổ thông Từ Sơn, Bắc Ninh”.
2. Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề tư duy sáng tạo là một vấn đề thu hút được sự quan tâm của rất
nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Sau đây là một số công trình nghiên
cứu liên quan đến đề tài.
Các công trình nghiên cứu về tư duy sáng tạo, phát triển tư duy sáng
tạo ở nước ngoài:
3
Nghiên cứu về nguồn gốc của tư duy, tác giả X.L.Rubinstein chỉ rõ: Tư
duy luôn bắt nguồn từ tình huống có vấn đề, khi mà các phương pháp logic cũ
để giải quyết vấn đề tỏ ra không đủ hoặc là gặp trở ngại, kết quả đạt được
chưa thỏa mãn yêu cầu. Tư duy của con người ít nhiều đều có tính sáng tạo.
nghiệm khách quan để đo mức độ phát triển TDST của cá nhân.
Kết quả nghiên cứu của J.P.Guildford đã chỉ ra một số yếu tố liên quan
đến giải quyết vấn đề sáng tạo, bao gồm: (1) Tính nhạy cảm vấn đề - năng lực
nhận ra vấn đề; (2) Sự thành thạo – số ý tưởng; (3) Sự mềm dẻo – thay đổi
cách tiếp cận; (4) Sự độc đáo – tính hiếm, không bình thường.
Nghiên cứu về tầm quan trọng của sự ham hiểu biết như yếu tố quyết
định nảy sinh TDST, M.Csikszentrmihalyi cho rằng: Bước đầu tiên tới cuộc
sống sáng tạo là nuôi dưỡng sự ham hiểu biết và hứng thú, là sự phân bổ chú
ý tới bản chất của sự kiện, đồ vật.
Bàn về vai trò của giáo dục, nhà giáo Vũ Kim Thanh, trong “Bài giảng
tâm lí học sáng tạo”, đã nêu 5 biện pháp nhằm phát huy khả năng sáng tạo
của người học:
- Giáo viên phải tôn trọng những câu hỏi khác thường của người học;
- Tôn trọng những ý tưởng sáng tạo và sự tưởng tượng của người học;
- Tỏ ra cho người học thấy ý kiến của họ có giá trị;
- Thỉnh thoảng để người học luyện tập mà không lo ngại bị đánh giá;
- Khi đánh giá cần tạo mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả
[39; 24].
Tác giả X.G.Luconhin và V.V.Xerebriannicov trong “Phương pháp
giảng dạy các môn khoa học xã hội” đề xuất hệ thống phương pháp phát triển
tư duy sáng tạo cho người học: (1) Giảng viên đặt ra tình huống có vấn đề rồi
bằng phương pháp loại tỉ, phương pháp chứng minh những con đường giải
quyết vấn đề khác nhau nhằm đẩy mạnh hoạt động tư duy của học viên và
5
giúp họ tìm ra cách giải quyết vấn đề; (2) Vạch rõ quy trình kĩ thuật của sự
tìm tòi khoa học, của quá trình TDST đã đưa đến những kết luận và khái quát
mới, không bao giờ được trình bày kết luận đã có sẵn; (3) Đặt vấn đề khéo léo
nhằm kích thích sự suy nghĩ, tìm tòi của học viên hướng vào giải quyết vấn đề
người học. Trong quá trình dạy học khuyến khích sáng tạo quan trọng hơn là
tìm giải pháp cuối cùng [49; 74].
Tìm hiểu về “Tình huống có vấn đề và hiệu năng sáng tạo trong hoạt
động của con người”, tác giả Nguyễn Văn Huyên cho rằng: “Sẵn sàng chấp
nhận mọi tình huống, luôn xây dựng những tình huống cao và vượt tình
huống là nguyên tắc tích cực nhất để phát huy tính sáng tạo, vươn tới những
tri thức mới, giải quyết những nhiệm vụ xã hội, đồng thời con người tự nâng
cao bản thân, tự hoàn thiện mình”. [22; 45].
Các nghiên cứu đã chỉ ra nguồn gốc, bản chất của tư duy sáng tạo, các
thành tố tâm lí cơ bản cấu thành tư duy sáng tạo… Nhưng vấn đề phát triển
năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh trong trường trung học phổ thông thì
chưa được đề cập nhiều, đến nay chưa có một công trình nghiên nào nghiên
cứu về phát triển nâng lực tư duy sáng tạo cho học sinh Trường Trung học
phổ thông Từ Sơn, Bắc Ninh thông qua dạy phần Công dân với kinh tế môn
Giáo dục công dân lớp 11 chưa ai đề cập đến. Vì thế, đề tài tác giả chọn làm
luận văn không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu làm sáng tỏ sơ sở lí luận và thực tiễn của việc nâng cao
năng lực sáng tạo cho học sinh. Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp phát
triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh Trường Trung học phổ thông Từ
Sơn, Bắc Ninh, thông qua dạy phần Công dân với kinh tế môn Giáo dục công
dân lớp 11.
7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề phát triển năng lực tư duy sáng tạo
cho học sinh Trường Trung học phổ thông Từ Sơn, Bắc Ninh thông qua dạy
học phần Công dân với kinh tế môn Giáo dục công dân lớp 11.
- Phạm vi nghiên cứu: Ứng dụng dạy phần Công dân với kinh tế trong
pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh và hệ thống…
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp khác như: điều tra xã
hội học, thực nghiệm sư phạm, thống kê toán học…
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
kết cấu luận văn gồm có 3 chương, 9 tiết.
9
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI KINH TẾ”
THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH
1.1. Cơ sở lí luận của việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
1.1.1. Một số vấn đề cơ bản về tư duy
1.1.1.1. Khái niệm về tư duy
Hiện thực xung quanh có rất nhiều điều mà con người chưa biết. Nhiệm
vụ của cuộc sống và hoạt động thực tiễn luôn đòi hỏi con người phải hiểu
thấu những điều chưa biết đó ngày một sâu sắc, đúng đắn và chính xác hơn,
phải vạch ra được bản chất, quy luật tác động của chúng. Quá trình nhận thức
đó gọi là tư duy.
Tư duy là gì? Đây là khái niệm thu hút nhiều sự quan tâm của nhiều nhà
khoa học nghiên cứu. Triết học nghiên cứu tư duy dưới góc độ lí luận nhận thức.
Lôgic học nghiên cứu tư duy ở các quy tắc tư duy đúng. Xã hội học nghiên cứu
tư duy ở sự phát triển của quá trình nhận thức trong các chế độ xã hội khác nhau.
Sinh lí học nghiên cứu cơ chế hoạt động thần kinh cao cấp với tư cách là nền
tảng vật chất ở quá trình tư duy ở con người. Điều khiển học nghiên cứu tư duy
để có “trí tuệ nhân tạo”. Tâm lí học nghiên cứu diễn biến của quá trình tư duy,
mối quan hệ qua lại của tư duy với các khía cạnh khác của nhận thức. Ngày nay,
người ta còn nói tới tư duy của người máy.
nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng
những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý”.
Trong tâm lí học, một trong những nghiên cứu tương đối đầy đủ về tư
duy đã được trình bày trong các công trình của X. L. Rubinstein: “Tư duy –
đó là sự khôi phục trong ý nghĩ của chủ thể về khách thể với mức độ đầy đủ
hơn, toàn diện hơn so với tư liệu cảm tính xuất hiện do tác động của khách
thể” [35; 67].
11
Các tác giả Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Trần Trọng Thủy,
Nguyễn Quang Uẩn trong sách Tâm Lí học đã định nghĩa: “Tư duy là quá
trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ có
tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan” [19; 34].
Trong cuốn Rèn luyện tư duy trong dạy học toán, tác giả Trần Thúc
Trình định nghĩa: Tư duy là một quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc
tính bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng mà
trước đó chủ thể chưa biết.
Trong cuốn Tâm lí học, các tác giả Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần
Trọng Thủy định nghĩa: “Tư duy là một quá trình phản ánh những thuộc tính
bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính chất quy luật của sự
vật [19; 24].
Từ sự phân tích những quan niệm về tư duy như trên, có thể hiểu định
nghĩa tư duy: Tư duy là quá trình phản ánh tâm lí hiện thực khách quan một cách
gián tiếp, là sự phản ánh những thuộc tính chung, bản chất, tìm ra những mối
liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà ta chưa biết.
1.1.1.2. Đặc điểm của tư duy
Là một mức độ mới của nhận thức lí tính, khác xa về chất so với nhận
thức cảm tính, tư duy do con người tiến hành với tư cách là một chủ thể có
những đặc điểm cơ bản sau:
công việc trong hiện tại và tương lai.
- Tư duy gắn liền với ngôn ngữ
Tư duy có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ. Tư duy không thể tồn tại
bên ngoài ngôn ngữ, mà phải dùng ngôn ngữ làm phương tiện.
Nếu không có ngôn ngữ thì bản thân quá trình tư duy không thể diễn ra,
đồng thời, các sản phẩm của tư duy không tồn tại với bản thân chủ thể và với
người khác.
13
- Tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính
Tư duy phải dựa trên những tài liệu cảm tính, trên kinh nghiệm, trên cơ
sở trực quan sinh động. Nhận thức cảm tính là một khâu của mối liên hệ trực
tiếp giữa tư duy với hiện thực, là cơ sở của những khái quát kinh nghiệm dưới
dạng các khái niệm quy luật. Ngược lại, tư duy và sản phẩm của nó cũng ảnh
hưởng đến các quá trình nhận thức cảm tính.
Những đặc điểm trên đây có ý nghĩa rất to lớn đối với công tác dạy học
và giáo dục. Cụ thể như:
Phải coi trọng phát triển tư duy cho học sinh. Nếu không có khả năng
tư duy thì học sinh không thể hiểu biết, không thể cải tạo tự nhiên, xã hội và
bản thân được.
Muốn thúc đẩy học sinh tư duy thì phải đưa học sinh vào tình huống có
vấn đề. Tính có vấn đề trong dạy học được thực hiện tốt nhất bằng kiểu dạy
học nêu vấn đề vì phương pháp này thúc đẩy học sinh suy nghĩ, kích thích
tính tích cực nhận thức của học sinh.
Phát triển tư duy phải tiến hành song song và thông qua truyền thụ tri
thức (dạy học). Mọi tri thức đều mang tính khái quát; không tư duy thì không
thể tiếp thu và vận dụng được tri thức.
Phát triển tư duy phải gắn với trau dồi ngôn ngữ cho học sinh. Không
nắm được ngôn ngữ thì học sinh không có phương tiện để tư duy tốt. Đây là
Hoàn cảnh có vấn đề là một điều kiện quan trọng của tư duy. Tư duy
chỉ có thể nảy sinh khi con người nhận thức được hoàn cảnh có vấn đề (tức là
xác định nhiệm vụ của tư duy) và biểu đạt được nó.
Hoàn cảnh có vấn đề chứa đựng những mâu thuẫn khác nhau (giữa cái
đã biết với cái chưa biết, giữa cái đã có với cái chưa có…). Con người càng
nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực nào đó, càng dễ dàng tìm ra và nhìn đầy đủ
những mâu thuẫn đó, tức là càng xác định những vấn đề đòi hỏi họ giải quyết.
Chính vấn đề được xác định này quyết định toàn bộ việc cải biến sau đó
những dữ kiện ban đầu hình thành nhiệm vụ và việc biểu đạt vấn đề dưới
15
dạng nhiệm vụ sẽ quyết định toàn bộ các khâu sau đó của quá trình tư duy,
quyết định chiến lược tư duy. Đây là giai đoạn đầu tiên và quan trọng nhất
của quá trình tư duy.
- Huy động các tri thức, kinh nghiệm
Khâu này làm xuất hiện ở trong đầu những tri thức, kinh nghiệm,
những liên tưởng nhất định có liên quan đến vấn đề đã được xác định và biểu
đạt. Việc làm xuất hiện những tri thức, kinh nghiệm, những liên tưởng này
tùy thuộc hoàn toàn vào nhiệm vụ đã xác định (đúng hướng hay lạc hướng là
do nhiệm vụ đặt ra có chính xác hay không).
- Sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết
Các tri thức, kinh nghiệm và liên tưởng xuất hiện đầu tiên còn mang
tính chất rộng rãi, bao trùm, chưa khu biệt nên cần được sàng lọc cho phù hợp
với nhiệm vụ đề ra. Trên cơ sở sàng lọc này sẽ hình thành giả thuyết, tức là
cách giải quyết có thể có đối với nhiệm vụ của tư duy. Chính sự đa dạng và
độ biến động của các giả thuyết cho phép xem xét cùng một sự vật, hiện
tượng từ nhiều hướng khác nhau trong các hệ thống liên hệ, quan hệ khác
nhau để tìm ra cách giải quyết đúng đắn nhất và tiết kiệm nhất.
- Kiểm tra giả thuyết
chỉnh thể. Phân tích và tổng hợp có quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo
thành sự thống nhất không tách rời được: sự phân tích được tiến hành theo
hướng tổng hợp, còn sự tổng hợp được thực hiện theo kết quả của phân tích.
- So sánh
So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác
nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau
giữa các đối tượng nhận thức. Thao tác này liên quan chặt chẽ với thao tác
17
phân tích – tổng hợp và rất quan trọng ở giai đoạn đầu nhận thức thế giới
xung quanh.
- Trừu tượng hóa và khái quát hóa
Trừu tượng hóa là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những
thuộc tính, những liên hệ, quan hệ thứ yếu, không cần thiết và chỉ giữ lại
những yếu tố cần thiết cho tư duy. Khái quát hóa là quá trình dùng trí óc để
hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những
thuộc tính, những liên hệ, quan hệ chung nhất định. Những thuộc tính chung
này bao gồm hai loại: những thuộc tính chung giống nhau và những thuộc
tính chung bản chất. Muốn vạch ra được những dấu hiệu bản chất của đối
tượng thì phải có sự phân tích – tổng hợp sâu sắc sự vật, hiện tượng định khái
quát. Trừu tượng hóa và khái quát hóa có quan hệ qua lại với nhau như quan
hệ giữa phân tích và tổng hợp, nhưng ở mức độ cao hơn.
Khi xem xét tất cả các thao tác tư duy, cần chú ý những điểm sau:
Thứ nhất, các thao tác tư duy đều có quan hệ mật thiết với nhau, thống
nhất theo một hướng nhất định, do nhiệm vụ của tư duy quy định.
Thứ hai, trong thực tế tư duy, các thao tác đó đan chéo nhau chứ không
theo trình tự nêu trên.
Thứ ba, tùy theo nhiệm vụ, điều kiện tư duy, không nhất thiết trong
tâm lí thì mang những hình thức của các cấu trúc mới, những quy trình hoặc
sáng chế mới hoặc tiếp tục tồn tại. Có thể thấy sáng tạo thường liên quan với
tư duy tích cực, chủ động, độc lập, tự tin. Người có trí sáng tạo không chịu
suy nghĩ theo lề thói chung, không bị ràng buộc bởi những quy tắc hành động
cứng nhắc đã học được, ít chịu ảnh hưởng của người khác. Nếu được rèn
luyện thì sáng tạo sẽ phát triển không ngừng.
Như vậy, có thể hiểu sáng tạo là hoạt động của con người nhằm biến
đổi giới tự nhiên, xã hội phù hợp với mục đích và nhu cầu của con người trên
cơ sở các quy luật khách quan của thực tiễn. Sáng tạo là hoạt động đặc trưng
bởi tính không lặp lại, tính độc đáo và tính duy nhất. Sáng tạo là một loại hoạt
động mà kết quả của nó là sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính cách tân,
có ý nghĩa xã hội và có giá trị. Sáng tạo là khả năng nảy sinh trong lao động
19
của con người nhằm tạo nên từ vật liệu do hiện thực cung cấp, một thực tại
mới thỏa mãn được các nhu cầu đa dạng của xã hội.
Theo các nhà tâm lí học, con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi nảy
sinh nhu cầu tư duy, tức là khi đứng trước khó khăn về nhận thức cần được
khắc phục, một tình huống gợi vấn đề. “Tư duy sáng tạo luôn luôn bắt đầu
bằng một tình huống gợi vấn đề”.
Nghiên cứu tư duy sáng tạo theo góc độ thông tin – tâm lí, tác giả
Phan Dũng quan niệm: Tư duy sáng tạo là quá trình biến đổi thông tin thành
tri thức bằng các hiện tượng tâm lí.
Kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Hải Yến về mối quan hệ giữa tư duy
phê phán, tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề cho thấy: Tư duy sáng tạo hay
tư duy khám phá là loại tư duy mở, phi lôgic, có quan hệ chặt chẽ với tư duy
phê phán hay tư duy lập luận lôgic trong tìm kiếm giải pháp giải quyết vấn đề
sáng tạo. Các kĩ năng của tư duy sáng tạo được thể hiện ở bốn mặt: trôi chảy,
linh hoạt, độc đáo và chi tiết [49; 34].
linh hoạt các hoạt động phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, cụ thể
hóa và các phương pháp suy luận như: quy nạp, suy diễn tương tự, linh hoạt
chuyển từ giải pháp này sang giải pháp khác, điều chỉnh kịp thời hướng suy
nghĩ nếu gặp trở ngại.
Suy nghĩ không dập khuôn, không áp dụng một cách máy móc những
kinh nghiệm, kiến thức kĩ năng đã có vào hoàn cảnh mới, điều kiện mới trong
đó có những yếu tố đã thay đổi, có khả năng thoát khỏi ảnh hưởng kìm hãm
của những kinh nghiệm, những phương pháp, những cách nghĩ đã có từ trước.
- Tính nhuần nhuyễn
Đó là năng lực tạo ra một cách linh hoạt sự tổng hợp giữa yếu tố riêng
lẻ của tình huống hoàn cảnh, đưa ra giả thuyết mới và ý tưởng mới.
21
Tính nhuần nhuyễn được đặc trưng bởi khả năng tạo ra một số lượng
nhất định các ý tưởng. Số ý tưởng tạo ra càng nhiều thì càng có nhiều khả
năng xuất hiện ý tưởng độc đáo. Trong trường hợp này, có thể nói số lượng
làm nảy sinh chất lượng. Các đặc trưng của tính nhuần nhuyễn là:
Tính đa dạng của các cách xử lí tình huống. Trong trường hợp phải giải
quyết vấn đề, người có tư duy nhuần nhuyễn nhanh chóng tìm ra và đề xuất
được nhiều phương án khác nhau và từ đó có thể tìm được phương án tối ưu.
Khả năng xem xét đối tượng ở nhiều khía cạnh khác nhau, có một cái
nhìn sinh động từ nhiều phía đối với các sự vật và hiện tượng chứ không phải
với cái nhìn bất biến, cứng nhắc, phiến diện.
- Tính độc đáo
Các đặc trưng của tính độc đáo:
Khả năng tìm ra những liên tưởng và những kết hợp mới.
Khả năng tìm ra những mối liên hệ trong những sự kiện bên ngoài
tưởng như không có liên hệ với nhau.
- Năng lực chuyên môn: Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên
môn cũng như khả năng đánh giá các kết quả chuyên môn một cách độc lập,
có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Trong đó, bao gồm cả khả
năng tư duy lôgic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khả năng nhận biết
mối quan hệ hệ thống và quá trình. Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp
là năng lực nội dung chuyên môn, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực
phương pháp chuyên môn.
- Năng lực phương pháp: Là khả năng đối với những hành động có kế
hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề.
Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và năng lực
phương pháp chuyên môn.
23