Phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam dựa trên
mô hình kim cương của Micheal Porter – Nhóm 7
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 10 tháng 3 năm 1876 được coi là mốc son đánh dấu sự ra đời của
điện thoại. Cha đẻ của chiếc điện thoại đầu tiên là Alexandre Graham Bell.
Chiếc máy thô sơ có thể truyền được giọng nói này đã mở ra một kỷ nguyên
phát triển mới trong lịch sử thông tin liên lạc, thay thế cho điện tín. Gần 1 thể kỷ
sau, vào năm 1973, chiếc điện thoại di động đầu tiên, mang tên Motorola Dyna,
phát minh bởi nhà sáng chế Martin Cooper mới chính thức ra đời. Motorola
Dyna Tac mang hình dáng gần giống điện thoại di động ngày nay mặc dù vẫn
còn khá cồng kềnh (nặng khoảng 1 kg) và không phổ biến. Từ đó đến nay, chiếc
điện thoại di động phát triển không ngừng phát triển theo hướng nhỏ gọn hơn rất
nhiều tổ tiên của nó và ngày càng được tích hợp nhiều chức năng hơn chứ không
còn đơn thuần là nghe và gọi. Rất nhanh chóng, thiết bị này đã trở thành một
công cụ phục vụ đắc lực cho cuộc sống và tác động mạnh mẽ vào thói quen sống
của mọi người, đồng thời mở ra ngành công nghiệp sản xuất điện thoại di động
mang đến sự thay đổi lớn trong nền kinh tế các nước.
Hiện nay Việt Nam cũng đã bắt đầu bước chân vào ngành công nghiệp
mới đầy tiềm năng này và có nhiều dự đoán cho rằng chúng ta sẽ trở thành
“Người khổng lồ” sản xuất điện thoại di động. Đây có thực sự là tương lai của
ngành sản xuất điện thoại của Việt Nam? Và dựa vào những căn cứ nào để nói
rằng chúng ta có thể vượt qua rất nhiều đối thủ lớn mạnh khác trên thị trường để
trở thành “Người khổng lồ”?
Với những kiến thức thu được từ môn “Chính sách thương mại quốc tế”,
chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích lợi thế cạnh tranh của
1
2. Vài nét về mô hình kim cương của Michael Porter
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia do Michael Porter đưa ra vào
những năm 1990. Mục đích của lý thuyết này là giải thích tại sao mọt số quốc
gia lại có được vị trí dẫn đầu trong việc sản xuất một số sản phẩm, hay nói
cách khác đi tại sao lại có những quốc gia có lợi thế cạnh tranh về một số sản
phẩm. lý thuyết này được xây dựng dựa trên cơ sở lập luận rằng khả năng
cạnh tranh của một ngành công nghiệp được thể hện tập trung ở khả năng
sáng tạo và đổi mới của ngành đó. Điều này được khái quát cho một thực thể
lớn hơn – một quốc gia. Lý thuyết của Michael Porter dã kết hợp được các
cách giải thích khác nhau trong các lý thuyết thương mại trước đó và đồng
thời đưa ra một khái niệm khá quan trọng là lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Khối kim cương của M.Porter
Theo lý thuyết này, lợi thế cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên
kết của 4 yếu tố:
3
Phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam dựa trên
mô hình kim cương của Micheal Porter – Nhóm 7
Nhóm 1: Điều kiện các yếu tố sản xuất
Nhóm 2: Điều kiện về cầu
Nhóm 3: Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan
Nhóm 4: Môi trường cạnh tranh của ngành
Mối liên kết của 4 yếu tố này tạo nên mô hình kim cương. Các nhóm yếu
tố này tác động qua lại và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và hình thành nên
khả năng cạnh tranh của quốc gia. Ngoài ra còn có 2 yếu tố khác rất quan
mô hình kim cương của Micheal Porter – Nhóm 7
Porter, những đặc điểm của nhu cầu thị trường trong nước đặc biệt quan
trọng trong việc định hình các thuộc tính của sản phẩm và trong việc tại ra
sức ép cho sự sáng tạo đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm. Porter lập
luận rằng các công ty của một nước giành được lợi thế cạnh tranh nếu những
người tiêu dùng trong nước của họ có được sự sành sỏi và đòi hỏi cao. Những
người tiêu dùng như vậy sẽ tạo ra sức ép lên các công ty trong nước phải đáp
ứng những tiêu chuẩn cao về chất lượng sản phẩm cũng như phải sản xuất ra
những sản phẩm có mẫu mã mới. Điều này sẽ làm tăng mức độ cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp trong nước, khiến cho các doanh nghiệp trong nước
ngày càng mạnh hơn và tiên tiến hơn.
Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan (Related and
supporting industries)
Các ngành sản xuất hỗ trợ là những ngành sản xuất cung ứng đầu vào
cho chuỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Trong khi đó, các
ngành sản xuất liên quan là những ngành mà doanh nghiệp có thể phối hợp
hoặc chia sẻ các hoạt động thuộc chuỗi hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc
những ngành mà sản phẩm của chúng mang tính chất bổ trợ việc chia sẻ hoạt
động, thường diễn ra ở các khâu phát triển kỹ thuật, sản xuất, phân phối, tiếp
thị hoặc dịch vụ. Lợi thế cạnh tranh của các ngành hỗ trợ và liên quan sẽ tạo
ra lợi thế tiềm tàng cho các doanh nghiệp như cung cấp trong thời gian ngắn
và với chi phí thấp; duy trì mối quan hệ hợp tác liên tục; các nhà cung ứng
giúp doanh nghiệp nhận thức và tiếp cận phương pháp và cơ hội mới để áp
dụng công nghệ mới. Ngược lại, doanh nghiệp ở khâu sau tác động, kiểm
chứng, góp ý các nỗ lực cải tiến của nhà cung ứng, trao đổi và nghiên cứu để
tìm ra các giải pháp nhanh hơn và hiệu quả hơn. Hơn nữa, ngành hỗ trợ là
đề ra tạo ra cơ hội giúp các công ty mới có thể có điều kiện tạo ra sự bất ngờ
cho phép chuyển dịch vị thế của mình cũng như các công ty đã có uy tín tiếp
tục nâng cao và khẳng định vị thế của mình không những trong nước mà còn
trên thị trường quốc tế.
Cơ hội (Chance)
Những cơ hội đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh
như sự thay đổi bất ngờ về công nghệ; thay đổi về chi phí đầu vào; thay đổi tỷ
giá hối đoái; thay đổi về nhu cầu tiêu dùng hàng hóa đó trên thị trường; ….
Các cơ hội rất quan trọng vì chúng tạo ra sự thay đổi bất ngờ cho phép dịch
chuyển vị thế cạnh tranh. Chúng có thể xóa đi lợi thế của các công ty thành
lập trước đó và tạo ra tiềm năng để các công ty mới có thể khai thác để có
được lợi thế đáp ứng những điều kiện mới và khác biệt.
6
Phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam dựa trên
mô hình kim cương của Micheal Porter – Nhóm 7
7
Phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam dựa trên
mô hình kim cương của Micheal Porter – Nhóm 7
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA
NGÀNH SẢN XUẤT ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG VIỆT NAM
Phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam dựa trên
mô hình kim cương của Micheal Porter – Nhóm 7
_
Đội ngũ công nhân lao động tự do
Như chúng ta đã biết ở Việt Nam có đội ngũ công nhân lao động tự do
rất cao. Họ có thể đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng như : làm theo
giờ, theo ca, với tay nghề cao. Bên cạnh đó một số công nhân chưa đáp ứng
được tay nghề có thể được đào tạo them dưới hình thức kèm cặp , người tay
nghề cao kèm cho người thấp.
Với đội ngũ công nhân trên thì họ có thể đảm nhận vai trò gia công lắp
ráp thiết bị máy móc, phân phối trên thị trường.
Tóm lại ta có thể thấy, nguồn nhân lực ở VN vô cùng lớn, đáp ứng được
nhu cầu trong các ngành sản xuất công nghiệp hiện đại như : sản xuất điện
thoại mà chúng ta đang nói đến ở đây.
2.2 Điều kiện và tài nguyên
Khi chọn địa điểm đầu tư, nhà sản xuất hay những công ty đa quốc gia
sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai,chính trị) cho phép họ phát
huy các lợi thế đặc thù nói trên. Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế
lớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá
nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng... ta dễ dàng nhận ra
lợi ích của việc này!
Dễ dàng nhận thấy, một trong những điểm mạnh của Việt Nam là chính
trị ổn định. Các nhà đầu tư nước ngoài luôn mong muốn tìm kiếm một nơi đặt
nhà máy sản xuất của mình tương đối an toàn, nhằm tránh những tổn thất
không mong muốn do bất ổn chính trị gây ra.
của Nhà nước và vốn đầu tư khác của Nhà nước. Trong tình hình kinh tế hiện
nay, lượng vốn trong nước của chúng ta không còn nhiều do phải huy động và
đầu tư vào những khoản viện trợ và các dự án bỏ dở. Vốn FDI: đầu tư phương
tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết
lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức này làm
tăng khối lượng đầu vào.
Dễ nhận thấy, vốn trong nước của chúng ta hiện nay không đủ để đầu
tư phát triển ngành sản xuất ĐTDĐ. Do đó, phần lớn việc phát triển ngành
công nghiệp sản xuất này phụ thuộc chủ yếu vào vốn và công nghệ từ bên
ngoài; mà điển hình là từ tập đoàn SamSung. (Ngoài ra, việc bỏ ra chi phí tìm
kiếm tài nguyên và thị trường ở Việt Nam tương đối hợp lí. Điều này sẽ được
phân tích làm rõ cụ thể ở các phần sau).
Mỗi năm, Samsung Việt Nam sẽ cung ứng ra thị trường toàn cầu
khoảng 250 triệu điện thoại di động. Và lúc ấy, Việt Nam thực sự trở thành
10
Phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam dựa trên
mô hình kim cương của Micheal Porter – Nhóm 7
trung tâm sản xuất điện thoại của thế giới. Đó là sự chuyển đổi quan trọng
của dòng vốn FDI. Nếu Tập đoàn Samsung vẫn giữ sản lượng điện thoại bán
ra một năm hiện nay khoảng 400 triệu sản phẩm, có nghĩa, chỉ riêng ở Việt
Nam đã sản xuất khoảng 60% sản lượng điện thoại của nhà sản xuất điện
thoại lớn nhất thế giới. Và lúc ấy, Việt Nam thực sự trở thành trung tâm sản
xuất điện thoại của thế giới, điều này chưa bao giờ chúng ta có được. Tuy
nhiên, cơ hội lần đầu tiên được nhìn nhận không phải chỉ ở khoản vốn lớn,
hay ở khả năng thúc đẩy xuất khẩu, giải quyết việc làm trong các dự án FDI,
mà là ở những dự án có khả năng tác động tích cực tới quá trình tái cấu trúc
2.4 Cơ sở hạ tầng ở VN
Cơ sở hạ tầng có thể được hiểu là hệ thống giao thông vận tải - đường
bộ, đường sông, đường biển, đường sắt, đường hàng không, đường ống; Hệ
12
Phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam dựa trên
mô hình kim cương của Micheal Porter – Nhóm 7
thống liên lạc viễn thông, hệ thống cung cấp năng lượng, nước, v.v… Hệ thống
cơ sở hạ tầng hiện đại có một tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển
của mọi nền kinh tế, vì nó đảm bảo vận tải nhanh chóng với chi phí thấp, đảm
bảo các quan hệ liên lạc thông suốt kịp thời, cung cấp đủ điện nước cho toàn
bộ hoạt động của nền kinh tế đất nước… Chính vì tầm quan trọng như vậy,
nên các quốcgia phát triển đã ngay từ đầu ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng
hiện đại trong một thời gian ngắn 20-30 năm, tạo ra những tiền đề cho sự bứt
phá phát triển. từ thực tế, chúng ta có thể rút ra một số điểm mạnh của cơ sở
hạ tầng ở VN như sau:
_ Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng phải được xem trọng trước hết: công
tác quy hoạch ở VN được giải quyết khá nhanh, tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho chủ đầu tư đến thuê mặt bằng đạt tại VN. Cũng chính vì vậy mà
một số tập đoàn đt lớn trên thế giới đã đặt trụ sở lắp ráp tại VN trong
thời gian gần đây.
_ Xây dựng cơ sở hạ tầng phải ưu tiên tập trung trước hết ở hai tuyến
phát triển kinh tế trọng điểm quan trọng nhất như là : Sài Gòn, Hà
Nội…. hoặc những vùng có đất đai rộng rãi phong phú, nhân lực dồi dào
như: Thái Nguyên, Vũng Áng ( Kỳ Anh)…..
Có thể thấy với sự hội nhập mở cửa, Việt Nam đã có được sự phát triển
lớn mạnh về 1 trong những ngành nhiều tiềm năng như CNTT mà trong đó có
ngành sản xuất điện thoại di động. Việt Nam đã và đang cố gắng cập nhật
công nghệ để không chỉ lắp ráp mà còn sản xuất được điện thoại di động. Để
làm được điều đó thì cần nhiều yếu tố nhưng lợi thế lớn của chúng ta là một
lượng cầu dồi dào, phong phú từ trong nước. Dân số Việt Nam tính đến
1/4/2011 là 87.610.947 người, tới tháng 11/2013 Việt Nam đã cán mốc 90
triệu người. Theo số liệu năm 2011 thì cơ cấu dân số Việt Nam thuộc nhóm
“cơ cấu dân số trẻ”
Tháp dân số Việt Nam
theo độ tuổi và giới tính,
năm 2011
(theo nguồn Điều tra biến
động dân số-kế hoạch
hóa gia đình 4/2011,
Tổng cục Thống kê)
Chính vì cơ cấu dân số trẻ như vậy Việt Nam có xu hướng nhanh nắm
bắt, nhanh cập nhật và thích ứng với sự phát triển chóng mặt của công nghệ
14
Phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam dựa trên
mô hình kim cương của Micheal Porter – Nhóm 7
thông tin ngày nay. Đó cũng là một trong những lợi thế của chúng ta trong sự
phát triển các ngành công nghệ thông tin nói chung và ngành sản xuất điện
thoại nói riêng.
Điện thoại di động ngày nay đã không còn xa lạ gì với người dân Việt
người gia hay trẻ em cũng đều ít nhiều đã sở hữu 1 chiếc điện thoại di động
đơn giản phục vụ nhu cầu liên lạc. Hơn nữa, với 2 độ tuổi này thì nhu cầu liên
lạc là thực sự quan trọng bởi nhiều trường hợp có thể xảy ra như đi lạc…. Về
nghề nghiệp thì những người công nhân, buôn bán, những người có mức thu
nhập không cao cũng có thể có được chiếc điện thoại với giá thành hợp lý và
đáp ứng đủ nhu cầu. Hay thậm chí về các vùng miền, không chỉ thành phố mà
cả nông thôn, vùng miền núi cũng đã cập nhật sự tiện lợi và ưu việt của điện
thoại di động. Chính vì thế mà lượng người tiêu dùng tăng lên rất nhiều, thể
hiện tiềm năng lớn cho Việt Nam.
Vì “phủ sóng” một lượng người tiêu dùng rộng rãi trên nhiều vùng
miền, độ tuổi, nghề nghiệp nên điện thoại di động nếu sản xuất ra cũng cần có
sự nhanh nhạy trong đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng. Hiện nay trên thị
trường chúng ta có rất nhiều các đời máy với nhiều mẫu mã, tính năng khác
nhau và mỗi loại lại thu hút nhóm khách hàng khác nhau. Sự đa dạng về đối
tượng sử dụng dẫn đến sự cần thiết về đa dạng sản phẩm. Đây vừa là điều có
lợi, vừa là khó khăn đối với Việt Nam khi sản xuất. Lợi vì nếu sản xuất được
đa dạng sản phẩm tốt thì chúng ta sẽ có sự ủng hộ lớn từ thị trường trong
nước. Khó khăn vì với nội lực của Việt Nam, mới bắt đầu tham gia sản xuất
thì cũng không dễ để sản xuất được đa dạng sản phẩm ngay được. Điều này
có thể được coi là lợi thế trong tương lai xa.
3.2Cầu ngoài nước:
Lượng tiêu thụ điện thoại di động trên thế giới rất lớn và vẫn luôn giữ được
“nhiệt” đặc biệt là dòng điện thoại thông minh. Dự tính của IDC tới năm 2017,
dòng điện thoại thông minh sẽ vẫn phát triển nhanh và tăng dần lượng tiêu
thụ.
16
Trên thế giới, có thể nói lượng tiêu thụ điện thoại di động là vô cùng lớn
bởi sự phát triển nhanh của các nước, nhu cầu của họ cũng nhiều hơn chỉ
nghe và gọi, điện thoại đối với họ được sử dụng gần như hết công suất như để
làm định vị, nghe gọi điều khiển và tham gia các cuộc họp, trao đổi thông tin
công việc nhanh gọn…. Chính vì vậy mà dòng điện thoại thông minh rất được
ưa chuộng. Hiện tại thì Samsung và Nokia cũng là những thương hiệu đang
thống trị thị trường điện thoại di động, được nhiều nơi trên thế giới ưa thích.
Theo như hình 2 thì hệ điều hành Android, IOS và Windows sẽ còn tiếp tục
được ủng hộ thậm chí IDC còn cho biết rằng nhiều khả năng tới năm 2016
Windows sẽ phát triển nhanh hơn Android. Đó đều là những hệ điều hành mà
Samsung và Nokia sử dụng. Thêm vào đó, có sự cạnh tranh vô cùng lớn từ
nhiều hang khác trên thế giới, 2 hãng trên luôn nỗ lực đổi mới để cho ra
những sản phẩm ngày càng ưu việt hơn, sẽ được lòng nhiều thị trường hơn
nữa.
Sở dĩ chúng ta quan tâm nhiều tới thị hiếu người tiêu dùng nước ngoài
đối với hai hãng trên bởi trước hết, đó là hai hãng đã đặt nhà máy sản xuất
tại Việt Nam. Tháng 3.2014, Samsung sẽ khai trương nhà máy sản xuất điện
thoại di động lớn nhất trên thế giới tại tỉnh Thái Nguyên - miền Bắc Việt Nam.
Samsung đã đầu tư vào đây 2 tỉ USD và hy vọng cơ sở này sẽ sản xuất tới 120
triệu điện thoại mỗi năm. Trước đó, Samsung đã xây dựng một nhà máy
khổng lồ ở tỉnh Bắc Ninh. Tham vọng của tập đoàn là vào năm 2015, khoảng
40% tổng số điện thoại di động Samsung sẽ được sản xuất tại Việt Nam. Một
số nhà phân tích cho rằng, trong một tương lai gần, tỉ lệ này có thể lên tới
60%, thậm chí 70%. Từ năm ngoái, các nhà máy điện tử xuất khẩu nhiều hơn
các cơ sở gia công hàng dệt-may. Theo số liệu của hải quan Việt Nam, trong
sáu tháng đầu năm 2013, xuất khẩu điện thoại di động của Samsung đã tăng
gấp đôi, tính theo tỉ lệ cả nămvà đạt mức 10 tỉ USD. Tuy nhiên, việc Việt Nam
sẽ trở thành người khổng lồ trong lĩnh vực điện thoại di động không chỉ nhờ
18
Như vậy, khái niệm về công nghiệp hỗ trợ chỉ có tính ương đối, tùy
thuộc vào cấu trúc của sản xuất, the nghĩ ộng có thể hiểu là tất cả các ngành
công nghiệp sản xuất đầu vào. Công nghiệp phụ trợ (supporting industries) là
khái niệm chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc
sản xuất các thành phẩm chính. Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng,
19
Phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam dựa trên
mô hình kim cương của Micheal Porter – Nhóm 7
sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm, v.v., và cũng có thể bao gồm cả
những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế.
* Tầm quan trọng của các ngành hỗ trợ và liên quan.
Việt Nam là một thị trường giàu tiềm năng trong việc sản xuất cung
ứng và phân phối điện thoại di động. Các doanh nghiệp trong nước đã đầu tư
những khoản tiền lên đến hàng tỷ USD vào lĩnh vực này. Tính đến tháng
15/10/2012, theo số liệu của Tổng cục Hải quan cho thấy Việt Nam đã chi 3,7
tỷ USD cho việc nhập khẩu các mặt hàng điện thoại di động và linh kiện.
Không chỉ có các công ty trong nước, các hãng điện thoại lớn trên thế giới
cũng thi nhau đầu tư FDI và xây dựng các nhà máy sản xuất tại các tỉnh của
nước ta. Ta có thể kể ra một số nhà máy như: Samsung ở Thái Nguyên, Nokia
ở Bắc Ninh,… Ngoài ra còn có các tập đoàn Intel, Foxconn, LG, Nidec cũng đã
tăng cường đầu tư vào Việt Nam.
Các công ty, tập đoàn lớn của nước ngoài đã thiết lập nhiều nhà máy
chế tạo và lắp ráp tại Việt Nam. Điều đó chứng tỏ họ kỳ vọng vào việc cắt
giảm chi phí vận chuyển và rủi ro, vì thế nó sẽ tạo cơ hội lớn cho các nhà cung
cấp phụ tùng trong nước phát triển sản xuất. Vì vậy mà, ngành công nghiệp
hỗ trợ của Việt Nam ngày càng phát triển và có vai trò quan trọng trong việc
thuộc phần lớn vào nhà cung cấp nước ngoài. Đặc biệt, Việt Nam hiện chưa có
một cơ sở sản xuất công nghiệp nào tham gia vào việc sản xuất vật liệu điện
tử.
Tính chung trong 11 tháng đầu năm 2012, trị giá nhập khẩu máy tính,
sản phẩm điện tử và linh kiện vào Việt Nam lên tới gần 11,9 tỷ USD, tăng
71,8% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 6,98
tỷ USD, tăng 69% so với cùng kỳ năm ngoái.
Biểu đồ kim ngạch nhập khẩu máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện theo tháng
21
Phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam dựa trên
mô hình kim cương của Micheal Porter – Nhóm 7
năm 2010-2011 và 11 tháng năm 2012 (Nguồn: Tổng cục Hải quan)
Cũng trong 11 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu điện thoại và linh
kiện đạt tới 4,48 tỷ USD, tăng 84,7% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi kim
ngạch xuất khẩu đạt 11,34 tỷ USD, tăng gấp đôi cùng kỳ năm 2011. Tuy nhiên,
phần lớn xuất khẩu vẫn nhờ vào các doanh nghiệp có vốn FDI.
Đặc biệt, đối với ngành sản xuất điện thoại di động, các ngành hỗ trợ và
liên quan ta có thể chia thành ra 2 nhóm chính: nhóm ngành hỗ trợ sản xuất
và nhóm ngành hỗ trợ cung ứng, phân phối. Ở nước ta hiện nay, các nhóm
ngành hỗ trợ này đang phát triển và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu trong
nước. Bây giờ, ta sẽ đi vào chi tiết sự phát triển của 2 nhóm ngành này.
Phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam dựa trên
mô hình kim cương của Micheal Porter – Nhóm 7
vừa và nhỏ nội địa của Việt Nam với các yêu cầu của các hãng sản
_
xuất toàn cầu.
Thực tế, khi Việt Nam gia nhập WTO, hàng rào thuế quan giảm
xuống và các chi tiết cùng linh kiện theo đó cũng được giảm thuế.
Chi phí trở nên rẻ hơn, do đó các nhà đầu tư lắp ráp thường đi tìm
mua các chi tiết linh kiện từ bên ngoài vào.
Đây là vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành
sản xuất điện thoại di động. Ông Trương Đình Tuyển (nguyên bộ trưởng Bộ
Công thương) nhận định: “Với tình trạng phải nhập khẩu linh kiện, phụ tùng
cho sản xuất công nghiệp như hiện nay thì nguy cơ các DN lắp ráp và sản xuất
sản phẩm cuối cùng có thể rút khỏi Việt Nam do không tìm được nguồn cung
cấp linh kiện, phụ tùng tại chỗ, nhất là khi sức ép về chi phí tiền lương tăng
lên. Cho nên, cần phải nhanh chóng phát triển công nghiệp phụ trợ”.
Việc phụ thuộc quá nhiều vào linh kiện nhập khẩu sẽ làm tăng chi phí
đầu vào do tiền chuyên chở, kho vận, bảo hiểm, chưa kể rủi ro về thời gian
nhận hàng làm ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất, làm giảm sức cạnh tranh.
Hơn nữa, công nghiệp phụ trợ kém phát triển còn làm cho môi trường đầu tư
trở nên kém hấp dẫn, hạn chế việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) từ
những nhà sản xuất lắp ráp, nhất là trong nhóm ngành máy móc, thiết bị tỷ lệ
chi phí cho linh, phụ kiện của nhóm ngành này thường chiếm tới ~70% trong
giá thành sản phẩm (cao hơn nhiều so với chi phí lao động vẫn được coi là
còn khá rẻ ở Việt Nam).
dẫn, giảm giá bán để cạnh tranh thị phần và thu hút người tiêu dùng. Sự cạnh
tranh không chỉ diễn ra ở mảng khách hàng mà còn diễn ra trong mảng phân
phối chính hãng các dòng điện thoại. Người tiêu dùng ở Việt Nam luôn có tâm
lý mua điện thoại di động rất thận trọng với danh tiếng của các nhà phân
phối, luôn muốn mua điện thoại chính hãng. Người tiêu dùng có thể chấp
nhận trả với giá cao hơn để mua các điện thoại chính hãng ở các nhà phân
phối có uy tín.
Ta có thể kể ra một số nhà phân phối chính hãng ở Việt Nam của một số
thương hiệu điện thoại nổi tiếng. Nokia chọn 3 nhà phân phối dỉ địa phương
là FPT (phân phối lại cho các nhà bán lẻ: Thế Giới Di động, Viễn Thông A,
Phước Lập Mobile); PetroSetco (phân phối lại cho Mai Nguyên, Nguyễn Kim...)
và Lucky (phụ trách phân phối khu vực miền Tây). Chuỗi cung ứng của
24
Phân tích lợi thế cạnh tranh của ngành sản xuất điện thoại di động ở Việt Nam dựa trên
mô hình kim cương của Micheal Porter – Nhóm 7
Samsung thì lại bao gồm Nguyễn Kim, Thế Giới Di Động, Phước Lập Mobile,
Mai Nguyên, Viễn Thông A và Khương Việt (nhà phân phối lẻ địa phương,
chịu trách nhiệm phân phối cho các đại lý nhỏ hơn). Trong khi Samsung đang
tiến đến việc “nội địa hóa” kênh phân phối, thì RIM, nhà sản xuất điện thoại
smartphone mang thương hiệu BlackBerry, lại đi theo hướng ngược lại với
việc chọn Brightstar trở thành nhà phân phối ủy quyền chính thức của
BlackBerry tại Việt Nam hồi tháng 10/2011. Còn đối với Iphone, Phân phối
chính hãng, nhà mạng và hàng xách tay. Ngoài kênh bán hàng trực tiếp đến
người tiêu dùng với hình thức kèm sim và các gói cước điện thoại tại hệ thống
cửa hàng của hai nhà mạng Vinaphone và Viettel, FPT Distribution đã được
Apple lựa chọn là đối tác phân phối điện thoại iPhone qua hệ thống các đại lí