Luận văn thạc sĩ báo chí học cách thức sản xuất chương trình truyền hình thực tế của các đài phát thanh truyền hình ở miền tây nam bộ - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRƯƠNG THỊ THANH THẢO

CÁCH THỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH
TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ TẠI CÁC ĐÀI PHÁT THANH
TRUYỀN HÌNH Ở MIỀN TÂY NAM BỘ
(Khảo sát Đài PTTH Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp)
Ngành

: Báo chí học

Mã số

: 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐINH THỊ THUÝ HẰNG

CẦN THƠ - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu, thông tin và kết quả được nêu

44

2.1. Vài nét giới thiệu về các Đài Phát thanh truyền hình và chương
trình truyền hình thực tế tại miền Tây Nam bộ
2.2. Khảo sát việc thực hiện sản xuất chương trình truyền hình thực

44

tế tại các Đài Phát thanh truyền hình miền Tây Nam Bộ
2.3. Đánh giá về cách thức sản xuất chương trình truyền hình thực tế

50

tại các Đài Phát thanh truyền hình miền Tây Nam bộ

76

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN
HÌNH THỰC TẾ TẠI CÁC ĐÀI PHÁT THANH TRUYỀN
HÌNH KHU VỰC MIỀN TÂY NAM BỘ

93

3.1. Kinh nghiệm sản xuất chương trình truyền hình thực tế ở Đài
truyền hình Việt Nam
3.2. Một số giải pháp nâng cao năng lực sản xuất và nâng cao chương

93

trình truyền hình thực tế tại các Đài Phát thanh truyền hình miền


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
26

Biểu đồ 1.1:
Biểu đồ 2.1:

Top 10 show truyền hình thực tế thành công nhất 2014
Cách thức sản xuất chương trình truyền hình thực tế

52

Biều đồ 2.2:

tại đài PTTH Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp
Chương trình truyền hình thực tế trên đài PTTH Tiền

Biểu đồ 2.3:
Biểu đồ 2.4:
Biểu đồ 2.5:
Biểu đồ 2.6:

Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp
Lí do chương trình truyền hình thực tế hấp dẫn công chúng
Ưu điểm của chương trình truyền hình thực tế
Công chúng thích xem loại chương trình thực tế nào
Hình thức đánh giá hiệu quả chương trình truyền

53

Truyền hình thực tế là một phạm trù còn mới mẽ tại Việt Nam. Hiện tại
khi nhắc đến truyền hình thực tế, công chúng nghĩ đến các chương trình giải
trí game show nhiều hơn là các chương trình mang tính trải nghiệm. Một số
đài truyền hình đã xây dựng các chương trình truyền hình thực tế mang tính
chính luận trải nghiệm có nội dung liên quan đến các lĩnh vực chính trị, xã
hội, du lịch, khám phá…
Thời gian qua các đài truyền hình quốc gia và địa phương cũng đã tổ
chức sản xuất các chương trình truyền hình thực tế chính luận mang tính
trải nghiệm như thế. Truyền hình thực tế là một xu thế, bởi nó mang tính
chân thực và hình thức thể hiện sinh động. Cần có cái nhìn đúng về quan
điểm truyền hình thực tế, một phương thức sản xuất chương trình truyền
hình thực tế, nhất là quá trình chuyên nghiệp hóa truyền hình ở Việt Nam
những năm qua chứng minh năng lực tự hoàn thiện của đội ngũ làm truyền
hình trong nước.
Hiện tại các đài phát thanh truyền hình (PTTH) ở miền Tây Nam bộ
cũng có khá nhiều chương trình được gọi là truyền hình thực tế. Nhưng như
thế nào về chương trình truyền hình thực tế và cách thức sản xuất chương
trình truyền hình thực tế một cách chuyên nghiệp ra sao đang đặt ra rất nhiều


2
câu hỏi và ý kiến khác nhau. Một chương trình truyền hình thực tế được chăm
chút, đầu tư kỹ lưỡng, khai thác và thể hiện tốt sẽ có sức hấp dẫn, lôi cuốn
công chúng không thua kém bất kỳ chương trình giải trí mang tính giáo dục
nào. Đồng thời, chương trình truyền hình thực tế thể hiện hài hòa giữa nội
dung và hình thức sẽ phát huy tốt vai trò định hướng dư luận xã hội, khơi dậy
tính nhân văn và giúp khán giả hướng thiện trong cuộc sống. Tuy nhiên, hiện
nay chưa có nhiều nghiên cứu về truyền hình hiện đại và chương trình truyền
hình thực tế cũng như cách thức sản xuất truyền hình thực tế. Do vậy, nhiều
đài chưa được tiếp cận với lý thuyết cũng như phương thức sản xuất các

chúng, thành phương tiện nghỉ ngơi, giải trí có sức hấp dẫn lớn đối với các tầng
lớp nhân dân”. Tài liệu này sẽ là cơ sở lí luận về báo chí nói chung và truyền
hình nói riêng để tác giả làm nền tảng phân tích thể loại báo chí truyền hình.
- Cơ sở lí luận báo chí truyền thông của tác giả Dương Xuân Sơn (chủ
biên), nhà xuất bản văn hoá thông tin 1995, ở trang 52,53, tác giả bàn về tác
phẩm truyền hình “Tác phẩm (bài báo, chương trình phát thanh hay truyền
hình) do nhà báo chuẩn bị sẵn và được in trên báo hay phát trên đài phát
thanh, vô tuyến truyền hình mới chỉ có thể xem xét về chất lượng của thông
tin tiềm năng đối với công chúng vì chưa biết chúng có được tiếp nhận hay
không… Khi tìm hiểu công chúng ta thấy thỉnh thoảng lại xảy ra tình trạng là
không phải các bản tin, các buổi phát thanh và truyến hình đều được họ thừa
nhận. Điều đó nhắc nhỡ những người làm công tác báo chí phải quan tâm đến
hiệu quả của chương trình. Việc đảm sự ổn định trong mối quan hệ lẫn nhau
giữa nhà báo và công chúng được thể hiện trong chương trình là hết sức cần
thiết, đảm bảo cho thông tin tiềm năng dễ dàng trở thành thông tin hiện thực”.
Tài liệu này giúp tác giả nghiên cứu để dẫn dắt sự cần thiết phải nâng chất
lượng truyền hình từ nhu cầu của công chúng.
Bàn về vấn đề kỹ năng tác nghiệp của nhà báo có các tác phẩm:
- Truyền thông lí thuyết và kỹ năng cơ bản, Nguyễn Văn Dững chủ biên.
Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật năm 2012, ở trang 200, khi đề cập đến


4
thế mạnh của truyền hình tác giả cho rằng“Truyền hình có thế mạnh đặc biệt
mà các kênh truyền thông khác không có được”. Còn ở trang 201, 203, 204
khi bàn về qui trình sản xuất ấn phẩm báo in phát thanh truyền hình tác giả
nhấn mạnh: “Đối với truyền hình khi khai thác tài liệu cần xây dựng kịch bản
(kịch bản sơ bộ và kịch bản chi tiết) sau đó tiến hành làm tiền kỳ, tức ghi hình
ghi âm phỏng vấn. Kiểm tra phân loại tư liệu và viết hoặc làm hậu kỳ - dựng
phim, dựng băng để hoàn chỉnh tác phẩm chuẩn bị lên trang lên chương trình.

đều phải tôn trọng sự thật. Tuy nhiên, với ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh trên
truyền hình, người ta cũng có nhiều cách để truyền đạt thông tin xác thực và
hiệu quả. Chẳng hạn việc sử dụng hình ảnh đồ họa giúp khán giả nhận được
thông tin khái quát hơn về một sự kiện nào đó. Bên cạnh đó, nếu hình ảnh là
thông tin cụ thể thì lời bình sẽ giải thích rõ hơn về hình ảnh đó, nó đảm bảo
cho người xem hiểu rõ bản chất của sự kiện và những gì đang diễn ra trên
màn hình. Tính logic của thông tin: Mỗi cảnh quay của tin tức, phóng sự…
trên truyền hình được tính bằng giây. Như vậy hình ảnh trên truyền hình
không phải là tất cả sự kiện được ghi hình liên tục mà là sự ghép nối rất nhiều
cảnh quay ở những thời điểm khác nhau. Do đó tác phẩm báo chí truyền hình
phải đảm bảo sự logic thông tin. Để có sự logic thông tin tác phẩm báo chí
được xây dựng trên nguyên tắc về ngôn ngữ hình ảnh, về tiếng động, về lời
bình… và sự hoàn thiện của tác phẩm dựa trên các tiêu chí thể loại. Đảm bảo
yếu tố kỹ thuật: tác phẩm báo chí truyền hình được sản xuất theo những tiêu
chuẩn kỹ thụât từ ghi hình, dựng hình, đến truyền dẫn phát sóng … Do đó đòi
hỏi các khâu phải tuân thủ kỹ thuật để tín hiệu hình ảnh đến với người xem
trung thực nhất”. Tài liệu này là cơ sở lí luận để đề cập phân tích quá trình lao
động sáng tạo trong tác phẩm báo chí truyền hình thực tế. Dù là phương thức
sản xuất mới những cũng phải dựa trên đặc điểm thể loại báo chí nói chung và
qui trình sản xuất của tác phẩm báo chí truyền hình nói riêng.
Ngoài ra ở phần nghiên cứu kỹ năng nghiệp vụ còn bàn nhiều vấn đề từ
các công trình của các tác giả như:


6
- PGS.TS. Nguyễn Văn Dững, PGS.TS. Hoàng Anh, TS. Nguyễn Ngọc
Oanh (dịch).
- 10 bí quyết kỹ năng nghề báo, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội, 2002;
- Trần Đức Tài (dịch), Con mắt biên tập, Nhà xuất bản Tổng hợp TP.
HCM, năm 2011;

Trên cơ sở tài liệu và trích dẫn vừa nêu sẽ giúp tác giả có lập luận dựa
trên sự khác biệt ít nhiều của các phương thức sản xuất truyền hình hiện đại
ngày nay để phân biệt các dạng chương trình không phải thể loại báo chí mà
là phương thức sản xuất mới như truyền hình thực tế. Việc nghiên cứu
phương thức sản xuất mới này sẽ xới lên được những vấn đề những ý kiến cần
thiết cho nghiên cứu truyền hình thực tế từ thực tiễn.
- Báo chí thế giới, xu hướng phát triển của PGS Tiến sĩ Đinh Thị Thúy
Hằng, Nhà xuất bản thông tấn, năm 2008. Trong nghiên cứu tài liệu này sẽ có
cái nhìn khái quát về thực tiễn phát triển báo chí hiện nay trên thế giới, các
nước Châu Á trong đó có thực tiển phát triển của truyền hình như thế nào. Ở
Trang 136, 137 đề cập đến sự phát triển của truyền hình số, tác giả cho rằng:
“Công chúng ngày càng có nhiều sự lựa chọn và tiếp cận là cho họ trở nên
khó tính hơn, chọn lọc hơn khiến các cơ quan thông tấn báo chí ngày càng
phải đối mặt với thách thức bị mất thị phần và do đó mất nguồn thu quảng
cáo. Trước tình hình đó các cơ quan báo chí phải tính đến việc sản xuất nội
dung phù hợp với thị trường, tức là các nội dung theo thị hiếu của người tiêu
thụ sản phẩm và các nhà quảng cáo. Mối liên hệ giửa 3 nhân tố: Nội dung,
người tiêu thụ, và quảng cáo trở nên chặt chẻ hơn bao giờ hết. Người tiêu thụ
thì mong muốn có nội dung hay, còn các nhà sản xuất nội dung thì mong
muốn đưa ra những gì có thể thu hút người tiêu thụ. Bên cạnh đó nhà quảng
cáo lại tìm kiếm những nội dung hay hấp dẫn để đưa quảng cáo vào nhằm gây
ấn tượng với người tiêu dùng với hy vọng học sẽ mua sản phẩm sau khi xem
quảng cáo. Chính cái logic thị trường đang làm cho nội dung của báo chí ngày
càng bị thương mại hoá”.


8
Từ cở sở này để khẳng định xu thế phát triển cần có để tạo ra tác phẩm
báo chí truyền hình chất lượng thu hút công chúng tăng doanh thu của đài
PTTH. Qua đó cũng có những giải pháp để duy trì và phát triển của đài PTTH

nghiên cứu thấu đáo nào về thực trạng, từ đó tìm nguyên nhân và giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng cách thức sản xuất chương trình truyền hình thực
tế. Đặc biệt là tại đài PTTH Tiền Giang chưa có một nghiên cứu nào liên quan
đến phương thức sản xuất truyền hình thực tế, dù vài năm gần đây, đài đã và
đang có những chương trình đuợc Ban giám đốc và phòng nghiệp vụ xác định
đây là phương thức sản xuất theo truyền hình thực tế.
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này, còn tham khảo những
giáo trình về cơ sở lý luận báo chí ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền, các
văn bản của Đảng, Nhà nước về lãnh đạo và quản lý báo chí trong giai đoạn
mới, những bài nghiên cứu, bài phản ánh của các chuyên gia các nhà báo liên
quan đến truyền hình thực tế. Trên tinh thần kế thừa thành tựu của những
nghiên cứu trước và quá trình khảo sát thực tế được coi là nguồn dữ liệu quan
trọng và sống động để hình thành nội dung luận văn này. Qua đó có thêm một
kênh thông tin để nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn tại đài PTTH Tiền
Giang và các đài PTTH khu vực Tây Nam Bộ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở tổng hợp và phân tích những lý luận và thực tiễn sản xuất
chương trình truyền hình thực tế, tác giả sẽ khảo sát và đánh giá cách thức sản
xuất chương trình truyền hình thực tế của đài PT-TH tỉnh Tiền Giang, đài
PTTH Vĩnh Long, đài PTTH Đồng Tháp. Từ đó, tác giả sẽ đề ra những giải
pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng sản xuất chương trình truyền hình
thực tiễn cho các đài địa phương.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về phương thức sản xuất chương trình
thực tế trong những vấn đề của báo chí hiện đại cũng như xu hướng phát triển


10

11
Tây Nam bộ. Những vấn đề của báo chí hiện đại. Xu hướng phát triển của
truyền hình hiện đại.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số phương pháp thu
thập thông tin sau đây.
- Phân tích tư liệu: Đề tài sử dụng thông tin thu thập được từ các chương
trình truyền hình thực tế tại đài PTTH các tỉnh miền Tây Nam bộ trong năm
2014, 2015 qua đó phân tích để làm nổi bật những ưu điểm về cách tiếp cận
vấn đề, hình thức thể hiện... đồng thời chỉ ra những hạn chế để từ đó đề xuất
các giải pháp để nâng cao hiệu quả của cách thức sản xuất chương trình
truyền hình thực tế tại đài PTTH các tỉnh miền Tây Nam Bộ.
- Phương pháp khảo sát công chúng: khảo sát 300 công chúng với
phương pháp phát phiếu điều tra công chúng (mỗi tỉnh từ 50-100 phiếu, gồm
50% công chúng nông thôn và 50% công chúng thành thị). Cụ thể chọn mẫu
khảo sát ở nông thôn và thành thị là thanh thiếu niên từ 18 đến 35 tuổi, phụ nữ
từ 40 đến 60 tuổi, nam giới trung niên từ 40 đến 60 tuổi.
- Phương pháp khảo sát chuyên gia: Khảo sát mỗi đài PTTH 50 phiếu.
Cụ thể chọn mẫu là Ban Giám đốc, lãnh đạo các phòng ban, lãnh đạo các đài
truyền thanh truyền hình, các phóng viên về việc thu thập thông tin viết bài và
việc áp dụng cách thức sản xuất chương trình truyền hình thực tế trên sóng
đài PTTH các tỉnh miền Tây Nam bộ.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp và gửi câu hỏi
phỏng vấn mở để các chuyên gia chuyên gia nghiên cứu báo chí truyền hình
và Ban giám đốc các đài truyền hình: Đài truyền hình Việt Nam, các công ty
truyền thông, các đài PTTH khu vực Miền Tây Nam bộ có ý kiến chia sẽ quan
điểm về truyền hình thực tế, cách làm chương trình, nhận định về xu hướng
phát triển truyền hình thực tế tại Việt Nam (phỏng vấn sâu 20 chuyên gia).
- Phương pháp thảo luận nhóm: Thảo luận nhóm nhỏ với các ê kíp tham
gia sản xuất chương trình truyền hình thực tế tại các đài PTTH truyền hình

xuất chương trình truyền hình bằng phương thức sản xuất chương trình truyền


13
hình thực tế tại các đài PTTH miền Tây Nam bộ, từ đó đưa ra những giải
pháp để phát huy những mặt ưu điểm của chương trình.
- Luận chứng cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đề xuất các giải pháp để
khắc phục những mặt hạn chế; đồng thời nâng cao hiệu quả qua đó làm nổi
bật vai trò của phương thức sản xuất chương trình truyền hình thực tế trong xu
hướng phát triển của truyền hình hiện đại giữ vai trò quan trọng trong xây dựng
thương hiệu nâng cao tính cạnh tranh của các đài PTTH miền Tây Nam bộ.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của truyền hình thực tế
Chương 2: Thực trạng chương trình truyền hình thực tế của các đài
truyền hình ở các tỉnh miền Tây Nam bộ.
Chương 3: Một số giải pháp cho chương trình truyền hình thực tế tại các
đài PTTH khu vực miền Tây Nam bộ.


14
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ
1.1. Vài nét về lịch sử phát triển của truyền hình thực tế
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Truyền hình
Hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng (Mass Communication
hay Mass Media) gồm có báo in, báo phát thanh, báo truyền hình. Hiện nay
thì phải kể thêm báo điện tử phát trên mạng Internet. Sản phẩm thông tin của

nghìn kênh truyền hình đan xen trong không gian xung quanh ta.
Như trên có phân tích về từ Tele: xa, từ vision: nhìn. Ghép lại là: nhìn từ
xa. Truyền hình ra đời đánh dấu mốc quan trọng khi mong muốn nhìn từ xa
của con người trở thành hiện thực.
Theo quan điểm của nhóm tác giả: TS Hà Huy Phượng, Ths Đinh Ngọc
Sơn, Ths Vũ Thuý Bình, Ths Lê Thanh Xuân, Ths Đỗ Phan Ái trong quyển:
Một số nội dung cơ bản về nghiệp vụ báo chí, xuất bản Nxb thông tấn năm
2013, trang 175, có phân tích thêm về khái niệm trên truyền hình.
Trên phương diện kỹ thuật thì truyền hình là quá trình biến đổi từ
năng lượng ánh sáng tác động qua ống kính máy thu hình thành
năng lượng điện, nguồn tín hiệu điện từ được phát sóng truyền đến
máy thu hình và lại biến đổi thành năng lượng ánh sáng tác động
vào thị giác, người xem nhận đuợc hình ảnh thông qua màn hình.
Về mặt nội dung truyền hình là loại truyền thông mà thông điệp
đuợc truyền trong không gian tích hợp cả hình ảnh và âm thanh tạo
cho người xem cảm giác sống động của hiện thực cuộc sống.
Còn trong cuốn Sản xuất chương trình truyền hình của TS.Trần Bảo
Khánh chương trình truyền hình được định nghĩa như sau: “là kết quả hoạt
động, là sản phẩm của tập thể bao gồm các bộ phận kỷ thuật - tài chính- nội
dung [32, tr.31].


16
Từ những khái niệm và lí luận về truyền hình, tôi rút ra cách hiểu về
truyền hình như sau: Truyền hình hay còn được gọi là báo hình, là một loại
phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại, phát triển mạnh mẽ trên quy mô
toàn cầu. Truyền hình là loại hình báo chí truyền tải nội dung chủ yếu bằng
hình ảnh sống động và các phương tiện biểu đạt khác như lời, chữ, ảnh, âm
thanh... Truyền hình chính là ngành công nghiệp nội dung được phát triển trên
cơ sở các tiến bộ về công nghệ, thiết bị thu, phát, truyền dẫn, trường quay.

loại chương trình truyền hình mà đó là một cách thức thể hiện chương trình
với mục tiêu hướng tới tính chân thực, như người xem đang chứng kiến các
diễn biến nội dung được chuyển tải đến cho công chúng một cách sinh động.
Do đó “truyền hình thực tế” là cách gọi chung như tin truyền hình thực tế,
phóng sự truyền hình thực tế, Game shows truyền hình thực tế…
Như ở trên trong phần trình bày tình hình nghiên cứu đề tài, tác giả của
luận văn có đề cập đến luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu truyền hình thực tế ở
Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hằng có phân tích về thuật ngữ “thực tế”:
tiếng Anh gọi là Reality, có nghĩa là có thực, chân thực, xác thực…
Thạc sỹ Nguyễn Thị Hằng có khẳng định thêm quan điểm: “Real TV là
chương trình truyền hình mang phong cách thực tế, không phụ thuộc vào các
kịch bản viết sẳn, cố định, hạn chế tối đa sự sắp đặt và diển suất, tập trung khắc
hoạ tính chân thực, cảm tưởng, tâm sự của sự việc thật, con ngưòi thật” [22,
tr.83]. Tác giả không bác bỏ luận điểm này của thạc sỹ Nguyễn Thị Hằng, nhưng
trong thực tiễn hoạt động báo chí truyền hình, nhất là đảm bảo tính chuyên
nghiệp và hiệu quả của chương trình thì chúng ta không thể chấp nhận phụ thuộc
vào các diển biến tự nhiên khách quan, nhưng trên thực tế sản xuất chương trình
truyền hình thực tế lại đòi hỏi tính sắp đặt cao nhất, kịch bản hoàn thiện một
cách chi tiết nhất và đạo diễn phải có những tính toán chính xác nhất.
Cần phải khẳng định rằng tác giả Nguyễn Thị Hằng đã đúng khi nói
truyền hình thực tế thì thời sự là mang tính thực tế cao nhất. Vì khi đi thu thập


18
thông tin để viết tin bài cho chương trình thời sự truyền hình phải dựa và
những gì đang diễn ra. Và khi đưa thông tin lên truyền hình thì phải đảm bảo
tuyệt đối tính thực tế, tính chân thực khách quan. PGS.TS Đinh Thị Thuý
Hằng và bà Nguyễn Thị Thanh Tiếng- Phó Giám đốc đài PTTH thành phố
Cần Thơ đã có đồng quan điểm cho rằng: “Sản phẩm truyền hình khi đưa lên
sóng luôn là một sản phẩm đã qua xử lý, lựa chọn hình ảnh và chương trình

Như vậy có rất nhiều quan điểm khác nhau về truyền hình thực tế. Tác
giả xin đúc kết lại và đưa ra một số quan điểm về truyền hình thực tế như sau:
Thứ nhất: Truyền hình thực tế là phương thức làm chương trình truyền
hình sử dụng camera ghi lại những tình huống, hoàn cảnh và sự kiện thật, ít
sắp đặt trước trong kịch bản. Nhân vật chính trong các chương trình truyền
hình thực tế thường là những người bình thường, chọn ngẫu nhiên hoặc
những khán giả tự giác tham gia, những khán giả được lựa chọn theo những
tiêu chí nào đó cho phù hợp với mục đích của từng chương trình. Mỗi chương
trình truyền hình thực tế có cách tiếp cận nhân vật, lên kế hoạch kịch bản và
tổ chức ê kíp sản xuất phù hợp với điều kiện của mình.
Thứ hai: Truyền hình thực tế là phương thức làm truyền hình người thật
việc thật, camera ghi lại diễn biến câu chuyện. Những nhân vật (người tham gia)
không bị chi phối bởi thao tác ghi hình, thậm chí không biết mình đang bị ghi
hình. Đó có thể là những con người trong một cuộc thi thể thao, sắc đẹp, giọng
hát; trong các trò chơi kiến thức, năng khiếu hay vận động; trong các chuyến
phiêu lưu, khám phá thế giới hay trong những cuộc phỏng vấn nảy lửa, hoặc chỉ
đơn thuần là vô tình rơi vào những tình huống dỡ khóc dỡ cười…
Thứ ba: Cần thay đổi quan niệm về truyền hình thực tế hiện nay ở Việt
Nam. Truyền hình thực tế có thể có ở tất cả ở các thể loại truyền hình, chứ
không thể chỉ nói đến truyền hình thực tế là chỉ nói đến chương trình giải trí,
game shows mà chương trình truyền hình thực tế có ở hầu hết các chương
trình truyền hình mang tính chính luận (thời sự, phim tài liệu, ký sự…) các
chương trình du lịch, khám phá mang tính trải nghiệm.


20
Thứ tư: Thực tế là những gì đang diễn ra, đang tồn tại một cách tự nhiên
và có thật. Điều này rất phù họp với các đặc trưng của báo chí. Trong truyền
hình, tính thực tế đã có đôi chút biến đổi. Truyền hình thực tế cũng được hiểu
là những cái đang diễn ra một cách tự nhiên, nhưng nó luôn được chỉnh sửa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status