Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập hóa học lớp 10 trung học phổ thông trong dạy học hóa học bằng tiếng anh - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHẠM NGỌC TUẤN

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
HÓA HỌC LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRONG DẠY HỌC HOÁ HỌC BẰNG TIẾNG ANH

Chuyênngành: LíluậnvàPhươngphápdạyhọcbộmônhóahọc
Mãsố: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngườihướngdẫnkhoahọc:
PGS.TS. CAO CỰ GIÁC

TP. HỒ CHÍ MINH - 2014

1


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Thầy giáo PGS.TS. Cao Cự Giác - Trưởng Bộ môn Lí luận và phương pháp
dạy học hóa học, khoa Hóa trường Đại học Vinh, đã gia đề tài, tận tình hướng dẫn và
tạo mọi điểu kiện thuận lợi nhất cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
- Thầy giáo PGS.TS. Võ Quang Mai và cô giáo TS. Nguyễn Thị Bích Hiền đã
dành nhiều thời gian đọc và viết nhận xét cho luận văn.
- Phòng đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Hóa học cùng các thầy giáo,
cô giáo thuộc Bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học hóa học khoa Hóa học trường
Đại học Vinh đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành luận văn
này.

thể là môn hoá học Trung học phổ thông.....................................................................15
1.2.3. Đánh giá thực trạng và kết quả bước đầu trong việc triển khai đề án của Bộ GD
& ĐT về dạy học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở các trường THPT......16
1.2.4. Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai dạy học các môn
khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh ở các trường THPT................................................18
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC LỚP
10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẰNG TIẾNG ANH...........................................22
2.1. Cơ sở thiết kế bài tập hóa học bằng tiếng Anh.................................................22
2.1.1. Dựa vào cấu trúc chương trình SGK Việt Nam hiện hành.................................22
3


2.1.2. Dựa vào cấu trúc chương trình SGK của các nước biên soạn bằng tiếng Anh. .25
2.2. Nguyên tắc thiết kế bài tập hóa học bằng tiếng Anh........................................26
2.2.1. Đảm bảo bao quát chương trình hóa học lớp 10 THPT.....................................26
2.2.2. Diễn đạt chính xác ngôn ngữ hóa học bằng tiếng Anh......................................28
2.3. Quy trình thiết kế bài tập hóa học bằng tiếng Anh..........................................29
2.3.1. Xây dựng hệ thống từ vựng, thuật ngữ hóa học bằng tiếng Anh........................29
2.3.2. Phân loại các dạng bài tập và lựa chọn nội dung phù hợp................................29
2.3.3. Chuyển đổi ngôn ngữ Việt – Anh .......................................................................32
2.4. Xây dựng hệ thống bài tập hóa học lớp 10 THPT bằng tiếng Anh..................33
2.4.1. Nguyên tử........................................................................................................... 33
A. TỪ VỰNG..................................................................................................................33
B. MẪU CÂU.................................................................................................................37
C. THIẾT KẾ BÀI TẬP VÀ LỜI GIẢI..........................................................................38
2.4.2. Bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học và Định luật tuần hoàn........................52
A. TỪ VỰNG..................................................................................................................52
B. MẪU CÂU.................................................................................................................53
C. THIẾT KẾ BÀI TẬP VÀ LỜI GIẢI..........................................................................55
2.4.3. Liên kết hoá học.................................................................................................68

3.4. Tiến hành thực nghiệm......................................................................................209
3.5. Kết quả thực nghiệm.........................................................................................212
3.6. Phân tích và đánh giá kết quả...........................................................................213
KẾT LUẬN...............................................................................................................216
1. Kết luận......................................................................................................................216
2. Kiến nghị....................................................................................................................216
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................218
PHỤ LỤC.................................................................................................................. 220
Phụ lục 1: Các mẫu phiếu điều tra .........................................................................220
Phụ lục 2: Các bài kiểm tra bằng tiếng anh về nội dung trong tiết dạy................232

5


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Chúng ta đang sống trên một đất nước có nền kinh tế phát triển nhanh chóng.
Bên cạnh đó, Giáo dục cũng đang phát triển, từng bước thay đổi để phù hợp hơn với xu
thế hội nhập, đáp ứng được nhu cầu của xã hội về đào tạo nguồn nhân lực. Trong giai
đoạn công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước cùng với đường lối đổi mới và chính
sách mở cửa để thu hút nguồn lực, đẩy mạnh hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước thì
ngoại ngữ đóng vai trò hết sức quan trọng, trong đó đặc biệt quan trọng là tiếng Anh.
Bất kỳ hội nghị Quốc tế nào thì ngôn ngữ chính sử dụng khi làm việc cũng là tiếng
Anh. Hiện nay ở Việt Nam, Bộ giáo dục và đào tạo cũng như người dân có sự quan tâm
đặc biệt đến ngôn ngữ này, rất nhiều đề án cũng như chương trình thí điểm được thiết
lập để nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Việc gia
nhập WTO càng khẳng định rõ hơn vai trò của tiếng Anh, nó là cầu nối cho việc giao
lưu văn hoá, học hỏi, trao đổi thông tin, thiết lập các mối quan hệ trong nhiều lĩnh vực
giữa Việt Nam và nhiều nước trên thế giới.

bằng tiếng Anh, trong đó có bộ môn Hoá học thì khả năng ngoại ngữ của học sinh được
nâng cao rõ rệt,học sinh hoàn toàn có thể tiếp cận các tài liệu bằng tiếng Anh ở cùng
trình độ. Tuy nhiên,việc triển khai Đề án cũng còn rất nhiều khó khăn. Một trong số
nguyên nhân quan trọng nhất là các trường vẫn chưa có sự thống nhất về giáo trình nên
chưa có chuẩn chương trình mà chủ yếu tài liệu do tự mỗi trường biên soạn hoặc dựa
vào một số tài liệu nước ngoài. Điều đó dẫn đến sự không thống nhất về chuẩn kiến
thức cần đạt được ở học sinh theo chương trình sách giáo khoa tiếng Việt của Bộ Giáo
dục và Đào tạo ban hành. Chính vì thế, chúng tôi chọn đề tài: “Thiết kế và sử dụng hệ
thống bài tập lớp 10 trung học phổ thông bằng tiếng Anh” nhằm biên soạn tài liệu bài
tập hoá học lớp 10 dựa trên sách giáo khoa chuẩn hiện nay để hỗ trợ tư liệutham khảo
cho giáo viên dạy bộ môn Hoá học bằng tiếng Anh trong quá trình giảng dạy.
2. Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm mục đích phát triển ngôn ngữ tiếng Anh học thuật trong giảng dạy
và học tập, cụ thể là dựa vào chương trình sách giáo khoa hoá học lớp 10 để biên soạn
tài liệu giúp giáo viên có thêm nguồn tư liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy,
đồng thời giúp học sinh có thêm tài liệu học tập, dễ dàng theo dõi bài giảng trên lớp và
luyện tập thêm tại nhà. Qua đó làm phong phú hơn vốn kiến thức về ngôn ngữ học
thuật, cụ thể là môn hoá lớp 10 cho các em học sinh.
7


3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu kiến thức cơ bản chương trình hoá học 10 Trung học phổ thông bằng tiếng
-

Anh.
Điều tra thực trạng về việc triển khai đề án dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh ở các

-

tiếng Anh, phát triển tư duy cho học sinh và nâng cao chất lượng giảng dạy và học bộ
môn hoá học.
7. Đóng góp mới của đề tài
- Cung cấp hệ thống bài tập hoá học lớp 10 được thiết kế trên cơ sở kết quả thăm dò ý
-

kiến giáo viên, học sinh.
Cung cấp những giá trị cụ thể về mức độ thành công của việc đưa hệ thống bài tập hoá
học bằng tiếng Anh vào thực tiễn giảng dạy hoá học lớp 10 trường phổ thông.

8


9


Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1Mục đích và ý nghĩa dạy học hóa học phổ thông bằng tiếng Anh
1.1.1 Rèn luyện, nâng cao kĩ năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh trong học tập
Tiếng Anh chuyên ngành là hệ thống từ ngữ chuyên dụng của một ngành trong
khi tiếng Anh Học thuật là thể loại tiếng Anh sử dụng trong giới học viện (ở đây được
hiểu là bậc giáo dục cao đẳng, đại học tại các nước nói tiếng Anh) với phương pháp sử
dụng câu cú, ngữ pháp, từ vựng hoàn toàn khác biệt.Đây cũng là thể loại tiếng Anh đòi
hỏi người học phải có một nền ngữ pháp vững và vốn từ vựng phong phú để theo kịp
chương trình học trên lớp.
Tiếng Anh học thuật yêu cầu cao hơn và phức tạp hơn so với tiếng Anh thông
dụng. Một người sử dụng thành thạo tiếng Anh thông dụng như ngôn ngữ thứ hai cũng
không có nghĩa là sẽ thành thạo ở tiếng Anh học thuật. Tiếng Anh Học thuật sử dụng
các dạng văn bản khác nhau như bài luận, báo cáo, bài viết nghiên cứu, hoặc các bài

hợp tác làm việc theo nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình… đặc biệt là giao
tiếp trong tiếng Anh mà cụ thể là tiếng Anh học thuật trong một số các ngành tự nhiên.
Đây chính là rào cản cơ hội trong tuyển dụng công việc khi ra trường của sinh viên”.
Rèn luyện, nâng cao kỹ năng sử dụng tiếng Anh học thuật từ khi còn ngồi trên
ghế nhà trường sẽ giúp học sinh, sinh viên có được nền tảng vững chắc để có thể tự tin
trong giao tiếp, đặc biệt về học thuật cũng như xoá đi rào cản về ngôn ngữ khi học tập
ở các nước bạn. Sự tự tin về ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ học thuật cũng là chiếc
chìa khóa giúp bạn vượt qua trở ngại để hòa nhập với cộng đồng sở tại và thành công
trên giảng đường Quốc tế.
1.1.3 Hội nhập và phát triển cùng với nền giáo dục ở các nước trên thế giới.
Trong đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế” của Bộ Giáo dục và Đào tạo có nêu rõ: Nước ta đang trong
quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự phát triển nhanh chóng của khoa học
và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa
các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới. Thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia
hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực và về khoa học và công nghệ. Xu thế chung
của thế giới khi bước vào thế kỷ XXI là các nước tiến hành đổi mới mạnh mẽ hay cải
11


cách giáo dục. Bên cạnh đó, khi cánh cửa hội nhập WTO đang dần rộng mở, việc hợp
tác và đầu tư luôn là tâm điểm hàng đầu của mọi ngành nghề và chất lượng chất xám
trong lực lượng lao động được đề cao thì đó là lúc cuộc chạy đua của tri thức và trí tuệ
bắt đầu. Vậy đâu là phương tiện chính để tham gia cuộc đua và giành thắng lợi? Có rất
nhiều phương tiện, tuy nhiên phương tiện cơ bản để tiếp cận và giành chiến thắng đó là
tiếng Anh, đặc biệt là tiếng Anh học thuật đối với các môn tự nhiên, các ngành kỹ thuật

Có một thực tế là phần lớn thanh niên, học sinh hiện nay còn yếu ngoại ngữ.
Trong khi đó, đây lại là nhân tố có vai trò rất lớn trong việc quyết định hội nhập quốc

học phổ thông chuyên giai đoạn

2008 – 2020”

2010 – 2020”

(Số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008)
(Số 959/QĐ-TTg ngày 24/6/2010)
MỤC TIÊU CHUNG
Đổi mới toàn diện việc dạy và
Xây dựng và phát triển các trường
học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục trung học phổ thông chuyên thành một hệ
quốc dân, triển khai chương trình dạy và thống cơ sở giáo dục trung học có chất lượng
học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình giáo dục cao, đạt chuẩn quốc gia, có trang
độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt thiết bị dạy học đồng bộ, hiện đại đảm bảo
được một bước tiến rõ rệt về trình độ, thực hiện nhiệm vụ phát hiện những học sinh
năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn có tư chất thông minh, đạt kết quả xuất sắc
nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực trong học tập để bồi dưỡng thành những người
ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên có lòng yêu đất nước, tinh thần tự hào, tự tôn
Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng dân tộc; có ý thức tự lực; có nền tảng kiến
và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử thức vững vàng; có phương pháp tự học, tự
dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học nghiên cứu và sáng tạo; có sức khỏe tốt để tạo
tập, làm việc trong môi trường hội nhập, nguồn tiếp tục đào tạo thành nhân tài, đáp ứng
đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ công
trở thành thế mạnh của người dân Việt nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế.
Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.

Các trường trung học phổ thông chuyên
là hình mẫu của các trường trung học phổ

cường môn ngoại ngữ đối với giáo dục trong các trường trung học phổ thông chuyên.
đại học (cả các cơ sở đào tạo chuyên Đến 2015, có 100% cán bộ quản lý, giáo viên
ngữ và không chuyên ngữ) cho khoảng giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, sử dụng thông
10% số lượng sinh viên cao đẳng, đại thạo tin học và thiết bị dạy học hiện đại; 20%
học vào năm học 2010 – 2011; 60% vào cán bộ quản lý, giáo viên sử dụng được
năm học 2015 – 2016 và 100% vào năm ngoại ngữ trong giảng dạy, giao tiếp.
2019 – 2020;

- Tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo

- Đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ dục trong các trường trung học phổ thông
trong chương trình giáo dục thường chuyên theo hướng tiếp cận với trình độ tiên
xuyên với nội dung, chương trình đào tiến của thế giới. Đến năm 2015, có ít
tạo phù hợp với các cấp học, trình độ nhất30% học sinh đạt bậc 3 về ngoại ngữ;
đào tạo, góp phần tích cực vào công tác đến năm 2020, có ít nhất 50% học sinh đạt
bồi dưỡng, nâng cao trình độ ngoại ngữ bậc 3 về ngoại ngữ theo tiêu chí do Hiệp hội
cho nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ, các tổ chức khảo thí ngoại ngữ châu Âu ban
viên chức; thực hiện đa dạng hóa các hành
hình thức học tập, đáp ứng nhu cầu - Tăng cường khả năng hợp tác giữa các
người học.

trường trung học phổ thông chuyên với các cơ

- Phấn đấu có 5% số cán bộ, công chức, sở giáo dục có uy tín ở nước ngoài nhằm trao
viên chức trong các cơ quan nhà nước đổi kinh nghiệm về tuyển chọn, bồi dưỡng và
14


có trình độ ngoại ngữ bậc 3 trở lên vào phát triển năng khiếu học sinh; đồng thời thu
năm 2015 và đạt 30% vào năm 2020.

phù hợp mỗi cấp, lớp học.

Anh cho giáo viên dạy các môn toán, vật lí,

- Khuyến khích các cơ sở giáo dục chủ hóa học, sinh học, tin học, để từng bước thực
động xây dựng, thực hiện các chương hiện dạy học các môn học này bằng tiếng Anh
trình song ngữ, bồi dưỡng nâng cao trong trong các trường trung học phổ thông chuyên;
các cơ sở của mình.

- Đổi mới chương trình, tài liệu dạy học:

- Xây dựng và triển khai các chương

+ Chương trình giáo dục trong trường

trình dạy và học bằng ngoại ngữ cho trung học phổ thông chuyên xây dựng theo
15


một số môn như: Toán và một số môn hướng hiện đại, tiếp cận với trình độ tiên tiến
phù hợp ở các trường trung học phổ khu vực và thế giới …
thông.

+ Biên soạn khung tài liệu chuyên sâu

- Xây dựng và triển khai chương trình giảng dạy các môn chuyên; tài liệu hướng dẫn
dạy bằng ngoại ngữ một số môn cơ bản, phát triển chương trình các môn chuyên; tài
cơ sở, chuyên ngành và tự chọn ở một số liệu phục vụ cho việc thực hiện giảng dạy
ngành trọng điểm trong chương trình đại bằng tiếng Anh các môn toán, vật lí, hóa
học ở năm cuối bậc đại học.

1.2.2 Điều tra thực trạng về dạy và học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh,
cụ thể là môn hoá học Trung học phổ thông
a. Mục đích điều tra
16


- Làm rõ thực trạng về dạy và học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh, cụ thể là
môn hoá học tại các trường Trung học phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh
- Phân tích và đánh giá đúng nguyên nhân của thực trạng trên, từ đó đề xuất một số
biện pháp về chuyên môn để cải thiện việc dạy và học các môn khoa học tự nhiên bằng
tiếng Anh, cụ thể là môn hoá học.
b. Phương pháp điều tra
- Phương pháp điều tra: điều tra bằng phiếu khảo sát lấy ý kiến của học sinh và một số
giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy (phụ lục đính kèm)
- Phương pháp phỏng vấn sâu: tiến hành phỏng vấn cán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên
môn và một số giáo viên trực tiếp giảng dạy.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: nghiên cứu giáo án và dự giờ một số
tiết học hoá học được giảng dạy bằng tiếng Anh.
c. Phạm vi và đối tượng điều tra
- Phạm vi điều tra: trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai và trường THPT Lương Thế
Vinh ở Thành phố Hồ Chí Minh
- Đối tượng điều tra: cán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên, học sinh và phụ
huynh học sinh.
d. Nội dung điều tra
- Khảo ý kiến của giáo viên về việc giảng dạy bộ môn hoá học Trung học phổ thông
bằng tiếng Anh và hiệu quả của bộ môn này trong những năm gần đây
- Khảo sát ý kiến của học sinh về nhu cầu cũng như hiệu quả của việc học môn hoá học
bằng tiếng Anh trong nhà trường.
- Khảo sát ý kiến của phụ huynh học sinh có con em đang theo học chương trình hoá
học bằng tiếng Anh tại trường về nhu cầu và sự yêu thích của con em họ đối với việc

sinh theo học. Thế nhưng, do phải tự mày mò tìm hướng đi nên nhiều trường THPT
cảm thấy đuối sức.
Mặc dù được mệnh danh là “cái nôi” đào tạo ngoại ngữ cho học sinh THPT khu
vực phía Nam nhưng phải đến đầu năm học 2011-2012, Trường THPT chuyên Trần
Đại Nghĩa (quận 1 – TP. Hồ Chí Minh) mới dám triển khai thí điểm chương trình giảng
dạy hai môn Toán, Lý bằng tiếng Anh.
Nhìn chung học sinh ở bậc Trung học cơ sở theo học môn toán và các môn khoa
học bằng tiếng Anh có phần đông hơn và các em hào hứng hơn. Theo một số hiệu
trưởng, ở bậc học này, học sinh chưa bị áp lực học tập và cảm thấy thích thú với việc
18


làm quen với các môn học bằng tiếng Anh. Hơn nữa, nhiều học sinh ở những trường
chuyên, trường điểm còn có động lực học môn toán bằng tiếng Anh để tham dự kỳ thi
môn toán châu Á - Thái Bình Dương (APMOS) được tổ chức hàng năm. Tuy nhiên, ở
bậc học cao hơn – Trung học phổ thông, nhiều học sinh chưa xác định rõ mục tiêu của
chương trình này sẽ được gì nên còn đắn đo.
Sau khi thí điểm dạy các môn toán, khoa học tự nhiên ở 5 trường, năm học 2012
- 2013, Sở GD-ĐT TP HCM mở rộng thêm 5 trường khác, nâng tổng số lên 10 trường
triển khai chương trình này. Việc ngành giáo dục Thành phố đặt mục tiêu nâng cao
năng lực sử dụng tiếng Anh, giúp học sinh tự nghiên cứu, tham khảo thêm tài liệu các
môn khoa học tự nhiên - toán, lý, hóa trên internet là cần thiết, phù hợp với xu thế hội
nhập, tiếp cận chuẩn giáo dục tiên tiến trên thế giới. Tuy nhiên, sau 1 năm thí điểm,
chương trình mang lại kết quả không như mong đợi và đa phần các hiệu trưởng đều có
tâm trạng ngổn ngang, thậm chí cảm thấy “hụt hơi” nếu tiếp tục đi tiếp vì nhiều lý do.
Lúc đầu học sinh lớp 10 (năm học 2013 - 2014) đăng ký học tương đối đông
nhưng đến cuối năm học rơi rụng dần. Như trường THPT Lương Thế Vinh, khối lớp 10
có 40 em theo học nhưng đến lớp 11 này chỉ còn 30 em đăng ký học tiếp. Tương tự,
Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai có trên 30 em lớp 10 theo học nhưng đến lớp 11
chỉ còn lại 13 em và đầu năm 2014 – 2015chưa biết có bao nhiêu học sinh mới vào lớp

số 503/749 học sinh vào đại học có 70.78% (356 em) tiếp tục theo các chương trình
Pháp ngữ, trong đó 12.52% học trong các trường đại học Pháp ngữ, 30.42% học trong
các khoa tiếng Pháp, 27.83% du học tại các nước nói tiếng Pháp. Như vậy có thể thấy
chương trình “Dạy học tăng cường tiếng Pháp và bằng tiếng Pháp” đã tạo điều kiện
thuận lợi cho học sinh trong việc tiếp tục học các chương trình Pháp ngữ ở bậc đại học.
Gần đây chương trình này gặp khó khăn vì cơ hội sử dụng tiếng Pháp ở Việt Nam ngày
càng hạn chế.
Mặc dù các nhà lãnh đạo, quản lý giáo dục, các giáo viên và phụ huynh học sinh
hoàn toàn nhận thức được lợi ích của việc có năng lực tiếng Anh tốt, một bộ phận học
sinh không cho là như vậy. Họ nghĩ rằng tiếng Anh cũng như một môn học trong
chương trình và chỉ cần học để đạt điểm cao hay để không bị trượt. Thái độ này có tác
động tiêu cực đến việc dạy học nói chung, dạy song ngữ nói riêng. Tuy vậy nhiều học
sinh cũng nhận thức được tầm quan trọng của việc học tiếng Anh như để đi du học, để
có nhiều cơ hội tốt trong tương lai. Chính vì vậy nhiều phụ huynh sẵn sàng chi trả
20


những khoản tiền lớn để con em mình được học trong môi trường song ngữ và thậm
chí hoàn toàn bằng tiếng Anh tại Việt Nam.
Có ý kiến cho rằng: “Nhiều trường đang làm lãng phí thời gian của học sinh khi
dạy các môn học bằng tiếng Anh. Cố dạy các môn học phổ thông bằng ngoại ngữ, học
sinh vừa kém tiếng mẹ đẻ, vừa kém kiến thức, thậm chí kém cả… ngoại ngữ.” [4] Theo
đó, khi đạt đến 550 điểm TOEFL, các em có thể sang nước ngoài học bất kỳ môn gì mà
các em muốn bằng tiếng Anh. Đó là trình độ mà cả thế giới này yêu cầu, từ cả người
dạy lẫn người học, để tổ chức dạy học bằng tiếng Anh. Tuy nhiên ý kiến này chưa đề
cập đến những nỗ lực của người học (dù đã có vốn tiếng Anh tương đối tốt) trong việc
thích nghi với các môn học ở nước ngoài. Đa số học sinh vẫn phải trải qua các khóa
học dự bị (Foundation Courses) kéo dài từ 6 tháng tới 1 năm, kể cả các em học sinh thi
đỗ học bổng Aus-Aid trước đây. Đây là thời gian mà các em phải học lại một số môn
học bằng tiếng Anh. Ngoài ra, nếu học trong nước thì hiện tượng một số người đạt

hầu hết các trường đều cho rằng chủ trương là cần thiết, tiến bộ, song hiện nay còn quá
thiếu các quy định cụ thể về thời lượng giảng dạy, chuẩn giáo trình, trình độ giáo viên,
chính sách đãi ngộ... Ngoài ra, thang bậc đánh giá không rõ ràng cũng là một trong
những nguyên nhân khiến đề án mới dừng ở tính chất hô hào, kêu gọi là chính chứ
chưa thể triển khai như một môn học thực thụ. Điều này vô hình chung đã tạo nên áp
lực, khiến ngay cả những người tổ chức cũng hoài nghi về tính hiệu quả của chương
trình.
Giáo trình giảng dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh ở Việt Nam hiện nay
chưa có, một số trường phải cử người sang học tập kinh nghiệm ở trường bạn, về biên
soạn lại giáo trình cho phù hợp rồi mang lên Sở GD-ĐT nhờ các chuyên viên thẩm
định, phê duyệt mới dám đưa vào sử dụng. Mỗi trường một kiểu và dạy theo đủ loại
giáo trình của Úc, Canada hoặc Cambridge. Tuy giáo trình của ĐH Cambridge được
xem chuẩn nhất nhưng chi phí mua lại quá cao nên nhiều trường không kham nổi. Về
giáo viên, các trường đều bị động, phải tự đào tạo, tự bồi dưỡng hoặc tìm nguồn thuê,
hợp đồng từ bên ngoài là chính. Trừ một số ít trường có điều kiện, đưa giáo viên đi
nước ngoài đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn việc dạy môn toán, lý, hóa bằng tiếng Anh.
Lo xong giáo trình, nhân lực giảng dạy lại trở thành vấn đề nan giải thứ hai.
Giáo viên có tuổi không lo về chuyên môn nhưng năng lực tiếng Anh không đảm bảo,
người giỏi về ngoại ngữ lại non tay nghề.
22


Giáo trình, giáo viên đã có, phân bổ giờ dạy thế nào cho phù hợp bởi hiện nay
chưa có quy định riêng thời lượng giảng dạy tiếng Anh các môn khoa học, trong khi đó
thời khóa biểu của học sinh đã kín khiến một lần nữa những người tổ chức phải đau
đầu và không phải học sinh nào cũng có nguyện vọng và đủ trình độ theo học các môn
tự nhiên bằng ngoại ngữ.
Tiểu kết chương 1.
Trong chương 1 chúng tôi đã đề cập đến các vấn đề cơ sở lý luận của đề tài
nghiên cứu như:

bazơ. muối điển hình).
b) Các chất có ý nghĩa thực hiện to lớn (như phân bón, thuốc trừ sâu, dầu mỏ v.v ..)
c) Các chất có vai trò quan trọng trong thiên nhiên (các hợp chất của silic và canxi,
chất béo, protit, hiđrocacbon v v..).
d) Các chất giúp học sinh có những biểu tượng về các quá trình công nghệ và sản
xuất hoá học (chất xúc tác, cao su và tơ tổng hợp, chất dẻo, kim cương nhân tạo,
aminoaxit tổng hợp v v..).
Phạm vi các chất trên đây là có hạn, nhưng cho phép dựa trên ví dụ của những chất
đại diện điển hình làm sáng tỏ được những quy luật về thành phần, cấu tạo, tính chất
chung cho mỗi loại chất, chỉ rõ được mặt ứng dụng của Hoá học.
Số lượng các nguyên tố hoá học đưa vào nghiên cứu ở chương trình và sách giáo
khoa Hoá học trường Phổ thông là rất có hạn. Trước hết đó là những nguyên tố của các
chu kì nhỏ. Đó là những nguyên tố mà D.I. Menđêleep gọi là những nguyên tố đặc
trưng.Ngoài khối lượng nhẹ ra, những nguyên tố đặc trưng còn thể hiện những tính
chất của chúng khá rõ và tiêu biểu. Những kiến thức này sẽ giúp ích rất nhiều cho việc
hiểu biết tính chất của các nguyên tố đứng trong cùng một nhóm với chúng.
Trong số các nguyên tố đặc trưng, những nguyên tố có tầm quan trọng thực tiễn
hơn cả oxi, hiđro, cacbon, nitơ, natri, magie, nhôm, sắt, silic, photpho, lưu huỳnh và
clo. Đó là những nguyên tố cần được nghiên cức tỉ mỉ. Những nguyên tố có ý nghĩa
thực tiễn kém hơn là heli, liti, berili, bo, flo, neon, agon. Về các nguyên tố này chỉ cần
giới thiệu một cách tổng quát để giúp học sinh hiểu được sự biến thiên tuần hoàn tính
chất các nguyên tố hoá học.
24


Ngoài những nguyên tố đặc trưng, còn cần đưa vào chương trình trường Phổ
thông các nguyên tố thuộc các phân nhóm chính của bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá
học và chú ý tới những tính chất của chúng, những quy luật biến thiên các tính chất đó
ở trong nhóm. Không cần nghiên cứu sâu các nguyên tố này, vì có thể dùng phép so
sánh với các nguyên tố đặc trưng đã được nghiên cứu tỉ mỉ để giúp học sinh hiểu được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status