Môn: Phân tích báo cáo tài chính
Đề tài: Đánh giá khái quát tình hình tài chính của một Công ty
Thành viên nhóm 9:
1. Vũ Thị Hồng Mai
2. Bùi Thị Kim Thúy
3. Võ Thị Kiểm
4. Nguyễn Lan Anh
5. Nguyễn Hải Bình
6. Nông Thu Yến
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty Cổ phần sữa Việt Nam
Page 1
Contents
Lời mở đầu
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập khu vực và thế giới như hiện nay, muốn tồn tại và
phát triển được thì các doanh nghiệp phải luôn trong tư thế sẵn sàng để có thể đối phó
với những biến động kinh tế trong và ngoài nước một cách nhanh nhất. Đó
cũng chính là những cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp. Hội nhập giúp các
doanh nghiệp mở rộng thị trường, cải tiến được khoa học kỹ thuật, nâng cao tầm
nhìn…Nhưng cũng mang lại những rủi ro vô cùng lớn nhất là những cạnh tranh về thị
trường, mẫu mã, giá cả…Nếu không nhạy bén, các doanh nghiệp sẽ bị “nuốt chửng”
hoặc “ đè bẹp”.
Việt Nam cũng đang trong quá trình hội nhập quốc tế và khu vực với tốc độ khá
nhanh và mạnh mẽ. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập, Công ty Cổ phần sữa Vinamilk
cũng đang cố gắng để có thể vươn xa hơn. Với những nỗ lực không ngừng,Vinamilk
đã có rất nhiều danh hiệu, rất nhiều thành công trên thị trường trong và ngoài nước.
với năm 2010. Doanh thu năm 2014 xấp xỉ 36000 tỷ đồng tăng gần 14% so với năm
2013
Tính theo doanh số và sản lượng thì Vinamilk là nhà sản xuất sữa hàng đầu Việt Nam.
Danh mục của Vinamilk bao gồm: sản phẩm chủ lực là sữa nước và sữa bột, ngoài ra
còn nhiều sản phẩm khác nhưlà sữa đặc, yoghurt ăn và yoghurt uống, kem , phô mai,
sữa chua, nước giải khát.
II.
Lịch sử hình thành phát triển
Các sự kiện quan trọng trong quá trình và phát triển của công ty như sau:
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty Cổ phần sữa Việt Nam
Page 3
1976 : Tiền thân của công ty Sữa Cafe Miền Nam trực thuộc Tổng Công ty Lương
Thực, với 6 đơn vị trực thuộc nhà máy sữa Thống Nhất, Nhà máy sữa Trường Thọ,
nhà máy sữa Dielac, Nhà máy cafe Biên Hòa, Nhà máy Bột Bích Chí và Lubico.
1978 : Công ty được chuyển cho Bộ Công nghiệp thực phẩm quản lý và công ty được
đổi tên thành Xí Nghiệp Liên Hợp Sữa Cafe và bánh kẹo 1.
1988 : Lần đầu tiên giới thiệu sản phẩm sữa bột và bột dinh dưỡng trẻ em tại Việt
Nam
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty Cổ phần sữa Việt Nam
Page 4
-
Mở phòng khám An Khang tại Thành Phố Hồ Chí Minh vào Thánh 6 năm 2006. Đây
là phòng khám đầu tiên tai Việt Nam quản trị bằng hệ thống thông tin điện tử.
-
Khởi động chương trình trại bò sữa bắt đầu từ việc mua thâu tóm trang trại Bò Sữa
Tuyên Quang vào tháng 11 năm 2006, một trang trại nhơ với đàn bó sữa khoảng 1.400
con. Trang trại này cũng đi vào hoạt động ngay sau khi bị mua thâu tóm.
2007: Mua cổ phần chi phối 55% của Công ty Lam Sơn vào tháng 9 năm 2007, có trụ
sở tại Khu Công Nghiệp Lễ Môn Tỉnh Thanh Hóa.
2009: phát triển được 135.000 đại lý phân phối, 9 nhà máy và nhiều trang trại nuôi bò
sữa tại Nghệ An, Tuyên Quang.
2010: xây dựng nhà máy sữa nước và sữa bột tại Bình Dương và tổng vốn đầu tư là
220 triệu USD
2011: Đưa vào hoạt động nhà máy sữa Đà nẵng với vốn đầu tư 30 triệu USD
2012: liên kết đầu tư hướng dẫn cho 5.000 hộ dân về chăn nuôi bò, phát triển thêm 5
trang trại với khoảng 8.000 con bò sữa. Vinamilk hiện có có 1 nhà máy sản xuất sữa
tại New Zealand và 11 nhà máy sản xuất sữa từ bắc vào năm
2013: xây dựng nhà máy sữa tại Bình Dương là một trong những nhà máy sữa bậc
nhất thế giới, Vinamilk đầu tư 7 triệu USD và nắm giữ 70% vốn chủ sở hữu của công
ty Driftwood Dairy Holding Corporation của Hoa Kỳ.
2014: Vinamilk góp 51% vốn với một đối tác nước ngoài để thành lập Công ty
Angkor Dairy Products Co., Ltd tại Campuchia. Công ty góp 100% vốn thành lập
công ty con Vinamilk Europe Spóstka Z Organiczona Odpowiedzialnoscia tại Ba Lan.
2015: Đầu tư bổ sung 258 tỷ đồng vào công ty mẹ Vinamilk, và đầu tư thêm 387 tỷ
đồng vào công ty bò sữa Việt Nam và 12,6 tỷ đồng vào công ty bò sữa Lam Sơn.
và đáng tin cậy nhất cho mọi người, để chiếm lĩnh 35% thị trường bột sữa trong 2 năm
tới.
-
Phát triển toàn diện danh mục sản phẩm sữa và từ sữa nhằm hướng tới một lượng
khách hàng tiêu thụ rộng lớn, đồng thời mở rộng các sản phẩm để tăng tỷ suất lợi
nhuận cao cho toàn công ty
-
Tiếp tục nâng cao năng lực quản lý hệ thống nâng cấp
-
Tiếp tục mở rộng và phát triển hệ thống phân phối chủ động, vững mạnh và hiệu quả.
-
Phát triển nguồn nguyên liệu tốt để đảm bảo nguồn cung cấp sữa tươi ổn định, chất
lượng cao với giá cả hợp lý và đáng tin cậy.
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty Cổ phần sữa Việt Nam
Page 7
Phần II: Đánh giá khái quát về tình hình tài chính của công ty Vinamilk
Đánh giá tình hình huy động vốn của Vinamilk.
tỷ trọng đồng)
trọng (%) đồng)
(%)
1. Tổng
CSH
2014
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền (tỷ Tỷ Số tiền (tỷ Tỷ trọng Chênh lệch Tỷ lệ Chênh Chênh lệch Tỷ lệ Chênh Chênh lệch Tỷ lệ Chênh lệch về
(tỷ đồng)
số vốn
2013
15.493
78,65
17.545
76,78
19.680 76,73 20.923 76,15
5.430
0,63
584
8,92
0,58
19.697
100
22.852
100
25.650 100 27.478
7.780
28,31
4.625
16,83
0
1.827
đến sự gia tăng đáng kể vốn điều lệ cho công ty với số lượng cổ phiếu được phát hành
bổ sung trong năm 2012 là 277.841.042 đồng và vốn điều lệ của Vinamilk tăng từ
5561 tỷ đồng lên 8.339 tỷ đồng vào cuối năm 2012.
+ Trong giai đoạn 2013-2015, ngoài việc huy động vốn từ phát hành cổ phiếu,
Vinamilk còn gia tăng nguồn vốn của mình từ các hoạt động đầu tư. Bên cạnh đó,
Vinamilk thường xuyên để lại một phần lợi nhuận thu được để tái đầu tư.
Nhờ đó, tổng số nguồn vốn của Vinamilk có sự tăng trưởng rõ rệt qua các năm.
•
Giai đoạn 2012 - 2015, tổng số vốn chủ sở hữu luôn chiếm trên 70% tổng số nguồn
vốn và luôn gấp trên 3 lần tổng số nợ phải trả trong giai đoạn này. Điều đó cho thấy
khả năng trả nợ và tự tài trợ của công ty là rất tốt.
Năm 2011, Vinamilk đã trả toàn bộ nợ ngân hàng và sau đó công ty không vay nợ nhà
băng một đồng nào. Hiếm có công ty nào đầu tư lớn, kinh doanh tầm cỡ quốc tế lại
hoạt động chủ yêu bằng nguồn vốn chủ sở hữu một cách bền vững như Vinamilk.
•
Xu hướng tăng trưởng vốn của Vinamilk được thể hiện như sau:
Bảng tốc độ tăng trưởng vốn của công ty Vinamilk (năm gốc: 2012)
Kỳ so sánh
2013/2012
2014/2012
2015/2012
Tốc độ tăng trưởng vốn (%)
đã chú trọng trích phần lợi nhuận này phục vụ cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh ,
từ đó thu được nguồn lợi lớn hơn nữa làm gia tăng nguồn vốn của mình trong quá
trình hoạt động. Bên cạnh đó, Vinamilk phát hành cổ phiếu ra thị trường làm tăng
tổng nguồn vốn của công ty.
Nhịp điệu tăng trưởng vốn (huy động vốn) được thể hiện như sau:
Bảng 1.2 Nhịp độ tăng trưởng vốn của công ty Vinammilk:
Kỳ so sánh
2013/2012 2014/2013 2015/2014
Nhịp độ tăng trưởng vốn (%)
116
112
107
140
120
100
80
Nhịp độ tăng trưởng vốn (%)
60
40
20
0
1. Hệ số tài
2013
%
±
%
2014
±
%
0,79
0,77 0,77
0,76 (0,03) 96,20 (0,01) 98,70
(0,01) 98,70
1,80
1,78 1,92
1,95 0,15
108,33 0,17 109,55 0,03 101,56
•
Hệ số tự tài trợ tài sản cố định của Vinamilk trong giai đoạn 2012 – 2015 ≥ 1 cho thấy
số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có đủ và thừa khả năng để trang trải tài sản cố
định. Vì thế, các nhà đầu tư cũng như các chủ nợ có thể ra các quyết định quản lí liên
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty Cổ phần sữa Việt Nam
Page 11
quan đến doanh nghiệp cho dù rủi ro có thể cao nhưng doanh nghiệp vẫn có khả năng
thoát khỏi những khó khăn về tài chính tạm thời.
Như vậy có thể kết luận mức độ độc lập tài chính của Vinamilk khá cao và an ninh tài
chính của doanh nghiệp là bền vững.
Tình hình tăng trưởng về mức độ độc lập tài chính của Vinamilk như sau:
Bảng 2.2: Tình hình tăng trưởng về mức độ độc lập tài chính của Vinamilk
(năm gốc: 2012)
Kỳ so sánh
2013/2012
2014/2012
2015/2012
Tốc độ tăng trưởng về hệ số tài trợ
97
Page 12
III. Đánh giá khái quát khả năng thanh toán của Vinamilk
1.
Đánh giá khái quát
Chỉ tiêu
Năm 2015
Năm 2014
Tổng tài sản (đồng)
27.478.175.944.35225.770.138.060.957
Tổng nợ phải trả (đồng)
6.554.260.196.767 5.969.901.577.449
Hệ số khả năng thanh toán chung (Tổng quát)
4,2
4,3
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán chung
của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này cho biết: với tổng số tài sản hiện có,
tỷ trọng
Tổng tài sản (đồng)
27.478.175.944.352
25.770.138.060.957
6,63%
Tổng tài sản ngắn hạn (đồng)
16.731.875.433.624
15.457.989.802.876
8,24%
Tiền và các khoản tương đương tiền
1.358.682.600.684
1.527.875.428.216
-11,1%
Đầu tư tài chính ngắn hạn
8.668.377.936.330
Công thức
2014 2015 Chênh lệch
thanh toán
Hệ số khả năng thanh
+/-
%
2,8
2,8
0
0
2,2
2,2
0
0
0,3
0,2
con số này không đổi so với năm 2014.
Trong đó, các tài sản ngắn hạn ngoại trừ khoản mục các khoản đầu tư tài chính ngắn
hạn tăng 16,1%, nguyên nhân chủ yếu là do công ty có khoản đầu tư nắm giữ đến
ngày đáo hạn tăng đột biến hơn 1311 tỷ đồng. Các khoản mục còn lại của tài sản ngắn
hạn đều có những tốc độ tăng khá mạnh, tuy nhiên khoản mục Tiền và các khoản
tương đương tiền lại giảm 11,1 %.
Mặt khác, hệ số thanh toán nợ ngắn hạn của công ty so với trung bình nhóm ngành
cũng cao hơn đáng kể (2,8 so với 2,19), điều này chứng tỏ trong nhóm ngành kinh
doanh thì công ty Vinamilk có một khả năng thanh toán nợ ngắn hạn rất tốt.
Tuy nhiên, hệ số thanh toán nợ ngắn hạn đã gồm toàn bộ tài sản ngắn hạn lại mà
không phân biệt hoạt tính của chúng nên nhiều khi không phản ánh chính xác khả
năng thanh toán của doanh nghiệp. Để khắc phục điều này người ta dùng hệ số thanh
toán nhanh.
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty Cổ phần sữa Việt Nam
Page 15
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh là tiêu chuẩn đánh giá khả năng thanh toán thận trọng hơn. Nó
phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong điều kiện không bán hết hàng
tồn kho. Hệ số này khác hệ số thanh toán nợ ngắn hạn ở chỗ là nó loại trừ hàng tồn
kho ra khỏi công thức tính, bởi vì hàng tồn kho không có tính thanh khoản cao.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Theo bảng trên ta thấy, năm 2015 hệ số khả năng thanh toán nhanh của công ty là 2,2,
tức là không cần bán hàng tồn kho hay vay mượn gì thêm, với 1 đồng nợ ngắn hạn
công ty có thể đảm bảo thanh toán bằng 2,2 đồng tài sản ngắn hạn, con số này cũng
không đổi so với năm 2014.
So với trung bình nhóm ngành, hệ số khả năng thanh toán nhanh của công ty cũng cao
hơn (2,2 so với 1,62).
Đầu tư nhiều là một nguyên nhân dẫn đến lượng tiền mặt của công ty thấp, tuy nhiên
đây là một bước tiến cần thiết để Vinamilk vươn ra thị trường quốc tế, đối mặt với áp
lực cạnh tranh ngày một tăng.
3.
Khả năng thanh toán nợ dài hạn
Hệ số thanh toán TSDH đối với nợ DH =
Đơn vị: VNĐ
Chỉ tiêu
Năm 2015
Năm 2014
Chênh lệch
(%)
10.746.300.510.728
10.312.148.258.081
4,2
Nợ dài hạn
549.943.361.554
516.621.221.426
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty Cổ phần sữa Việt Nam
Page 17
tiêu này càng lớn thì khả năng đảm bảo thanh toán nợ dài hạn càng cao nhưng nếu trị
số chỉ tiêu này quá lớn thì doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh
toán nợ ngắn hạn do một bộ phận tài sản dài hạn đƣợc hình thành từ nợ ngắn hạn. Vì
thế, khi xem xét chỉ tiêu này, ta cần xem xét thêm chỉ tiêu “Hệ số giới hạn đầu tư an
toàn vào tài sản dài hạn” để đánh giá
Hệ số giới hạn đầu tư vào TSDH =
Ta có thể thấy , trong trường hợp công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk, hệ số
thanh toán TSDH của công ty là rất lớn, lần lượt trong 2 năm 2014 và 2015 là 19,95
và 19,54, trong khi đó hệ số giới hạn đầu tư an toàn vào TSDH đều là 0,5. Như vậy
doanh nghiệp không những đẩm bảo được khả năng thanh toán nợ dài hạn mà còn có
thừa khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. An ninh tài chính của doanh nghiệp trong
trường hợp này hoàn toàn đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp.
IV.
Đánh giá khái quát khả năng sinh lợi
Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh mức lợi nhuận mà doanh
nghiệp thu được trên một đơn vị chi phí hay yếu tố đầu vào hay trên một đơn vị đầu ra
phản ánh kết quả sản xuất. Mức lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được tính trên một
đơn vị càng cao thì khả năng sinh lợi càng cao, dẫn đến hiệu quả kinh doanh càng cao
và ngược lại; mức lợi nhuận thu được trên một đơn vị càng nhỏ, khả năng sinh lợi
càng thấp, kéo theo hiệu quả kinh doanh càng thấp. Vì thế, có thể nói khả năng sinh
lợi của doanh nghiệp là biểu hiện cao nhất và tập trung nhất của hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp. Để đánh giá khái quát khả năng sinh lợi của doanh nghiệp có thể sử
dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau, trong đó chủ yếu là các chỉ tiêu phản ánh khả năng
sinh lợi của vốn chủ sở hữu, khả năng sinh lợi kinh tế của tài sản và khả năng sinh lợi
Sức sinh lợi của vốn CSH
0,38
0,32
18,75%
(ROE)
Chỉ tiêu này cho biết 1 đơn vị vốn chủ sở hữu đưa vào kinh doanh đem lại mấy đơn vị
lợi nhuận sau thuế. Nhìn vào chỉ số ROE của Vinamilk của năm 2014 và 2015 cho
thấy Vinamilk đã duy trì hoạt động trong tầm kiểm soát, bất chấp sự bất ổn về giá và
bấp bênh về nguyên liệu cũng như sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường sữa hiện nay.
Hiệu suất sử dụng tài sản luôn ở mức cao so với các doanh nghiệp cùng ngành. Do
công ty thường xuyên tung ra thị trƣờng các sản phẩm mới, đa dạng chủng loại. Hơn
nữa, Vinamilk đang nổ lực thực hiện cải tổ toàn bộ dây chuyền phân phối theo hƣớng
tiêu chuẩn trên cả nước, bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu của Vinamilk cũng rất cao,
đạt hơn 5300 tỷ đồng( khoảng 242 triệu USD), tăng trƣởng 77% so với năm 2014 với
sản lượng xuất khẩu hơn 47000 tấn sữa.
Chi phí sữa nguyên liệu là thành tố chính trong cơ cấu giá thành sản phẩm của VNM.
Mặc dù giá sữa bột nhập khẩu (chiếm đến 70% nguyên liệu) có những lúc biến động
mạnh trên thị trường thế giới song giá vốn hàng bán/doanh thu lại có xu hướng giảm
trong những năm qua khiến cho lãi gộp tăng. Nguyên nhân là do công ty ưu tiên phát
triển những mặt hàng có giá trị gia tăng cao như sữa nước, sữa chua. Việc kiểm soát
chi phí quảng cáo, khuyến mại và hỗ trợ nhà phân phối giảm, chi phí quản lý doanh
nghiệp cũng giảm xuống điều này khiến các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời năm
sau tốt hơn năm trước. Nợ chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu vốn của VNM nên việc tận
dụng đòn bẩy để làm tăng ROE không có. ROE cao chủ yếu là do lợi nhuận sau thuế
biên của công ty thực sự tốt. ROA tăng lên đều đặn khiến cho ROE cũng tăng lên
35.072.015.514.696
0,19
0,17
Sức sinh lợi của doanh thu thuần
Chỉ số này cho biết 1 đơn vị doanh thu thuần thu được từ kinh doanh đem lại mấy đơn
vị lợi nhuận sau thuế. Chỉ số này của Vinamilk là 0,17 vào năm 2014 và tăng lên 0,19
vào năm 2015. Điều này chứng tỏ khách hàng chấp nhận mua giá cao, hoặc cấp quản
lý kiểm soát chi phí tốt hoặc cả hai Dấu hiệu đáng mừng này cho thấy Vinamilk vẫn
đang đi đúng hướng và nhận được sự ủng hộ từ phía khách hàng.
V.
So sánh khái quát tình hình tài chính của công ty Cổ phần sữa Vinamilk và
Notifood
V.1 So sánh tình hình huy động vốn của Vinamilk và Notifood theo số liệu năm 2013
Chỉ tiêu
Tổng số vốn chủ sở hữu Tổng số nợ phải trả
Tổng số nguồn vốn
Vinamilk
17.545.489.315.423
Vinamilk
0,79
0,77
Notifood
0,48
0,07
Từ bảng số liệu trên, có thể thấy hệ số tài trợ của công ty Vinamilk cao hơn và ổn định
hơn Notifood trong giai đoạn 2012 – 2013. Như vậy, mức độ độc lập tài chính của
Vinamilk tốt hơn Notifood trong giai đoạn này.
5.3 Các hệ số về khả năng thanh toán trong ngắn hạn
Theo số liệu năm 2013
Các hệ số về khả năng thanh toán
Vinamilk
Nutifood
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
4,3
1,1
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
Page 21
ROE
39,6
2,2
ROE cũng là một chỉ tiêu tốt để các nhà đầu tư cổ phiếu xem xét có nên đầu tư vào
công ty hay không, lợi nhuận là bao nhiêu. ROE của Vinamilk cao vượt bậc so với
Nutifood, do đó, cổ phiếu của Vinamilk cũng hấp dẫn hơn rất nhiều
Kết luận
Từ các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình tài chính của Công ty cổ phần sữa
Vinamilk cũng như sự so sánh các chỉ tiêu đó với một công ty cùng ngành – Nutifood,
chúng ta có thể thấy tình hình tài chính của Vinamilk có nhiều biến động nhưng
Vinamilk vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng cao.
Nhìn chung, các hệ số thanh toán của công ty đều ở mức rất tốt so với thị trường và
với các khoản nợ hiện tại của công ty (hệ số thanh toán hiện hành luôn trên 2) do đó,
khả năng thanh toán các khoản nợ của công ty được đảm bảo. Mặc dù nợ vay cảu
công ty lớn nhưng so với giá trị tài sản của công ty và giá trị tài ản ngắn hạn luôn đảm
bảo được nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nên giảm rủi ro về khả năng thanh toán các
khoản nợ ở hiện tại và tương lai.
Khả năng sinh lợi của công ty Vinamilk trong giai đoạn 2012-2015 là rất tốt trên mọi
chỉ số và thể hiện xu hướng tăng trưởng bền vững qua các năm.
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty Cổ phần sữa Việt Nam
Page 22
hơn vào một số chủ nợ
-
Chiếm dụng vốn của nhà cung cấp: sử dụng chính sách này công ty sẽ chiếm dụng
vốn của nhà cung cấp
-
Nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng: đây là một trong những nguồn huy động vốn hiệu
quả
3. Quản lý thanh toán
Công ty cần có những giải pháp để kiểm soát việc bán chịu hàng hóa như sau:
-
Xác định mục tiêu bán chịu: tăng doanh thu, giải tỏa hàng tồn kho, gây uy tín về năng
lực tài chính cho công ty
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty Cổ phần sữa Việt Nam
Page 23
-
Xây dựng các điều kiện bán chịu: thông thường căn cứ vào mức giá, laĩ suất nợ vay và
thời hạn bán chịu
-
theo chiều sâu và từng bước hoàn chỉnh công nghệ hiện đại.
Tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý công ngân lành
nghề trên cơ sở bồi dưỡng vật chất thích đáng cho công nhân.
Nâng cao trình độ quản lý trong đó cần lƣu tâm đến vai quản lý kỹ thuật, bán hàng,
nhân sự,..
Đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty Cổ phần sữa Việt Nam
Page 24
5. Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ lao động
Đội ngũ lao động là yếu tố then chốt quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Với sự phát triển ngày càng cao của khoa học kỹ thuật công nghệ hiện
đại song một số khâu không thể thiếu bàn tay, óc sang tạo của ngƣời lao động. Do đó
công ty cần phát huy và khơi dậy sức mạnh tiềm ẩn trong mỗi lao động. Công nghệ kỹ
thuật kết hợp với óc sang tạo của con người sẽ là nguồn nhân lực to lớn nhất giúp
doanh nghiệp hoạt động ngày càng hiệu quả. Để đạt được hiểu quả trên doanh nghiệp
cần có những chính sách đào tạo đội ngũ lao động hợp lý cụ thể:
-
Công ty cần tuyển chọn những lao động lành nghề có ý thức học hỏi kinh nghiệm
sáng tạo trong đổi mới sản xuất. Khuyến khích lao động phấn đấu nâng cao tay nghề
trao đổi kinh nghiệm cho nhau cùng tiến bộ.
-
Công ty cần có những chính sách khuyến khích thù lao cho ngƣời lao động một cách
hợp lý tương thích với trình độ khả năng của mỗi lao động. Làm được như vậy sẽ thúc
đẩy người lao động nâng cao trình độ năng lực cải thiện hiệu suất làm việc ngày càng