Tiểu luận:
Bàn Về Phong Cách Ngôn Ngữ Của Chủ
Tịch Hồ Chí Minh Trong Tác Phẩm
“Đường Cách Mệnh”
( sưu tầm)
Nghiên cứu “đường kách mệnh”, chúng tôi tìm hiểu hoàn
cảnh hình thành và đặc điểm phong cách của tác phẩm này, tác
phẩm lý luận chính trị phổ cập dầu tiên bác viết bằng tiếng việt.
“Đường cách mệnh” là bản tập hợp các bài giảng trong các
lớp huấn luyện cho thanh niên ở quảng châu, viết năm 1926.
“Đường kách mệnh” được viết theo một phong cách giản dị,
sáng sủa. Tác phẩm được trình bày dưới hình thức vấn đáp. Hơn
100 câu hỏi xoáy quanh những vấn đề nóng bỏng đặt ra trước
những người quan tâm đến vận mệnh nước nhà: “ vì sao chúng
ta muốn sống thì phải kách mệnh? Vì sao kách mệnh là việc
chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người? ai là
bạn ta? kách mệnh thì phải làm thế nào?”. Bác đã giải đáp những
vấn đề có ý nghĩa trọng đại đó về chiến lược của cách mạng
bằng những lời lẽ dễ hiểu như lời ăn tiếng nói của quần chúng.
Về mặt từ vựng, bác triệt để sử dụng từ ngữ của ngôn ngữ
dân gian. Những từ nôm này đôi khi được dùng với nghĩa mới,
để diễn đạt các khái niệm mới. Các từ này dễ hiểu, và trong
nhiều trường hợp, có tính hình ảnh, có giá trị gợi cảm lớn:
“Kông nông là gốc kếch mệnh” kòn học trò, nhà buôn nhỏ,
điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức song không cực khổ bằng
công nông, ba hạng ấy chỉ là bầu bạn kách mệnh của công
nông”.
“ Pháp nó sợ, nên cấm chúng ta học, kấm chúng ta xem…”
Thông thường, khi nhiều động từ làm vị ngữ tùy thuộc vào
một chủ ngữ, thì chủ ngữ chỉ xuất hiện một lần trước động từ
đầu tiên và không cần đặt trước động từ tiếp theo, nhưng bác đã
đặt thêm đại từ để nhấn mạnh và làm cho câu văn gần gũi với
khẩu ngữ:
“ Địa chủ xem nông nô như súc vật, nó cho sống được sống,
nó bắt chết phải chết. khi nó cần tiền thì nó đem nông nô đi bán
như bán trâu bò”.
Trong câu phức hợp, theo phong cách khẩu ngữ, nhiều khi
bác không dùng liên từ phụ thuộc, mà câu văn vẫn gọn gàng,
sáng sủa, mạnh mẽ.
“ việc gì (dù) khó cho mấy. (nếu ) quyết tấm làm thì làm
chắc được: (nếu) ít người làm không nổi, nhiều người đồng tâm
hiệp lực thì làm phải nổi. (nếu) đời này làm chưa xong, đời sau
nối tiếp thì phải xong”.
Ngoài ra, bác còn sử dụng hàng loạt biện pháp khác để dân
chủ hóa lời nói.
Các khái niệm tương đối trừu tượng, khó hiểu đối với nhân dân
ta thời bấy giờ, được bác diễn đạt thành những ý cụ thể. Bác
viết: “ trong 100 người thì đến 90 người là dân cày”. ( không viết
90% dân số là nông dân). “khi bàn rồi thì bỏ thăm, ý kiến nào
được nhiều người theo hơn thì được. (không viết :sau khi thảo
luận thì biểu quyết theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số).
Các từ ngữ, thuật ngữ chưa quen thộc được giải thích ngắn
gọn. tất nhiên lời giải thích đó chưa phải là những định nghĩa
đầy đủ nhưng cũng lột tả được ý chính:
“Kách mệnh là kái cũ, đỗi ra cái mới, phá cái xấu đỗi ra cái
vững ý của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin rồi diễn đạt thành những lời
lẽ rất tự nhiên, sinh động. cuối bản tuyên ngôn của đảng cộng
sản, mác và Ăng-ghen viết: “ Trong cuộc cách mạng ấy, những
người vô sản chẳng mất gì hết ngoài những xiềng xích trói buộc
họ. Trong cuộc cách mạng ấy họ giành được cả một thế giới về
mình” , bác không lệ thuộc vào nguyên văn ; mà nắm ý của mác
, Ăng-ghen, rồi diễn đạt thành một câu, tuy ý nghĩa nó thay đổi
chút ít nhưng rất gọn gàng, rất việt nam: “ Kông nông là tay
không chân rỗi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được
thì được cả thế giới”. thành ngữ “ tay không chân rỗi” có tính
hình ảnh, cụ thể, làm cho câu văn có màu sắc dân tộc. So với câu
nguyên văn rất tây “chẳng mất gì hết ngoài những xiềng xích trói
buộc họ” thì câu của bác “ chỉ mất một cái kiếp khổ” rất độc đáo,
rất quần chúng.
Tư tưởng của Mác “ Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” và
tư tưởng của Lê-nin – sự phát triển tư tưởng của mác trong hoàn
cảnh lịch sử mới- “ Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp
bức đoàn kết lại!” được bác diễn đạt một cách thấm thía : “ Thợ
thuyền và dân cày trong thế giới là anh em, khi anh em xứ này
rủi ro thì anh em xứ khác phải giúp đỡ”. Về sau này khi giải
thích cho phụ nữ về vấn đề đó, bác nói:
“Lọ là thân thích ruột rà
Công nông thế giới đều là an hem”.
Cũng theo tinh thần và tình cảm đó , chào mừng đại biểu của
các đảng an hem đến dự đại hội đảng lần thứ ba, bác nói:
“ Quan sơn muôn dặm một nhà
Bốn phương, vô sản đều là anh em”
Cách so sánh cách, chọn hình ảnh của bác mang tính dân gian
phác họa ra cảnh những người thợ mỏ việt nam quanh năm vất
vả: “ Ăn chẳng đủ ăn, mặc không có mặc, đau không kó thuốc,
chết không có hòm” và cảnh bọn chủ mỏ người tây không bao
giờ nhúng tay đến việc gì mà “ ăn sung mặc sướng, lên ngựa
xuống xe” , mỗi năm lãi 17 triệu đồng thằng chủ tây làm ra hay
công nhân làm ra??
Bác ca ngợi nhân dân pháp tuy đói rách, khổ cực “ người
không kó nón, kẻ không có cày, áo rách quần tua, mặt gầy bụng
đói” , “ lương thực ít, sung ống thiếu nhưng chỉ nhờ gan kếch
mệnh là trong dẹp nội loạn, ngoài phá cường quyền”. cuối cùng,
bác kết luận về sức mạnh của người cách mạng bằng một câu có
vần, có đối như câu tục ngữ:
“ Một người kách mệnh kó gan, hơn một ngàn người vô chi”.
Khi cần thiết bác cũng nhập vào tiếng việt những từ ngữ mới,
những cách diễn đạt mới. Theo sự khảo sát bước đầu của chúng
tôi, thông qua “ Đường kách mệnh” bác đã nhập vào kho từ của
tiếng việt một số từ ngữ như : sách lược, hợp tác xã. Dân chủ tập
trung…
Câu văn của bác gọn gàng, sáng sủa, lượng thông tin cao. Bác
tra đặt những câu ngắn gọn, đơn giản nhưng đơn giản mà không
đơn điệu. để diễn đạt nhanh gọn, có khi bác dùng câu đặc biệt
chỉ gồm một, hai từ, nhưng khi cần lập luận, cần nhấn mạnh để
gây những ấn tượng sâu sắc, bác cũng sử dụng những cầu phức
hợp với những điệp ngữ, đồng vị ngữ…
Trả lời câu hỏi : “ Kách mệnh của an nam cũng là một bộ
phận trong kách mệnh quốc tế không? “ bác viết:
“ Nên lắm, kách mệnh an nam cũng là một bộ phận trong
cách mệnh thế giới. ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng
trong xã hội. là một nhà cách mạng vô sản đã từng lăn lộn trong
phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế.
bác viết sach báo nhằm mục đích tuyên truyền giải thích chủ
nghĩa mác- leenin., đường lối chính sách của cách mạng để giác
ngộ nhân dân. Đối tượng phục vụ chủ yếu của bác là công nông.
Viết “ đường kách mệnh”, bác “ chỉ ước ao sao đồng bao xem
rồi thì nghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy. tỉnh rồi thì đứng lên đoàn
kết với nhau mà làm kếch mệnh. Văn chương và hi vọng sách
này chỉ ở trong hai chữ kếch mệnh!kếch mệnh! Kếch mệnh!”.
Những quan niệm rất kách mệnh của bác hồ về mục đích và
đối tượng của văn chương có tác dụng quyết định đối với việc
lựa chọn phong cách viết. các cây bút lớp trước quan niệm văn là
một thứ cao siêu phục vụ cho số ít người có học thức nên thường
có lối hành văn cầu kì, khó hiểu. theo bác, văn là công cụ phục
vụ công nông nên cần viết gọn gang, dễ hiểu. tất nhiên, cần quan
niệm một cách biện chứng về tính giản dị của văn bác. “ tuyên
ngôn độc lập” mà bác long trọng công bố trước đồng bào cả
nước. sự ra đời 18 sau “ đường kách mệnh”, là một áng văn bất
hủ. lời lẽ hung hồn, đanh thép; “ lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến” thì thiết tha, hung tráng, phảng phất hào khí hịch tướng sĩ
văn; còn “ đường kách mệnh” ra đời trong hòa cảnh” hơn hai
mươi triệu đồng bào hấp hối trong vòng tử địa”, trình độ văn
hóa, chính trị còn thấp kém, nên phải viết dưới hình thức phổ
cập, phải “ nói cho vắt tắt, zễ hiểu, zễ nhớ”.
Diễn đạt lý luận Mác- Lênin, đường lối chính sách của đảng,
kiến thức khoa học cao của thời đại thành lời lẽ dễ hiểu, hấp dẫn
đối với công nông là một việc rất khó khăn, một khoa học đồng
thời là một nghệ thuật, bác có thể làm được việc này, vì có
nhịp nhàng của văn cổ điển.
Bằng cuốn “ đường kách mệnh” , bác đã đặt cơ sở đầu tiên
cho văn chính luận cách mạng việt nam để sau này chúng ta có
những tác phẩm chính luận sắc bén, có tính đảng, tính nhân dân
sâu sắc.
( theo ngôn ngữ số 2-1973)