LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những thông
tin và nội dung trong đề tài này dựa trên nghiên cứu thực tế và hoàn toàn đúng với
nguồn trích dẫn.
Tác giả đề tài
Bùi Thị Mai Hương
i
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Đào Văn Hiệp, người
đã hết lòng hướng dẫn cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn này.
Cảm ơn các thầy, cô giáo tại khoa Quản lý kinh tế- Viện đào tạo sau Đại họcTrường Đại học Hàng Hải Việt Nam đã cung cấp những kiến thức bổ ích trong quá
trình học tập, nghiên cứu tại Viện.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới Lãnh đạo Cục Hải quan TP. Hải Phòng,
Lãnh đạo Chi cục Kiểm tra sau thông quan, Lãnh đạo Đội 2 (đội mã số, thuế suất) và
các đồng nghiệp đã quan tâm, tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu,
thu thập tài liệu để thực hiện và hoàn thiện luận văn này.
Hải Phòng, ngày 10 tháng 03 năm 2016
Tác giả luận văn
Bùi Thị Mai Hương
ii
MỤC LỤC
iii
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
Vận tải đơn
Giấy chứng nhận xuất xứ
Doanh nghiệp
Mã số hàng hóa
Kiểm tra sau thông quan
Hệ thống tra cứu, quản lý mã số hàng hóa
Nhập khẩu
Ngân sách nhà nước
Phân tích phân loại
Quản lý rủi ro
Số liệu xuất nhập khẩu
Hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp phục vụ kiểm tra
sau thông quan và quản lý rủi ro
Thu thập xử lý thông tin
Thành phố
Thuế giá trị gia tăng
Hệ thống thông quan tự động/Hệ thống dữ liệu thông tin
nghiệp vụ hải quan
Tổ chức Hải quan thế giới
Tổ chức thương mại thế giới
Xuất khẩu
Xuất nhập khẩu
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số bảng
Bảng 1.1
Bảng 2.1
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hình
Hình 1.1
Hình 1.2
Hình 2.1
Hình 3.1
Tên hình
Ví dụ minh họa mã HS trên C/O form A
Ví dụ minh họa mã HS trên C/O form AK
Sơ đồ cơ cấu tổ chức Chi cục kiểm tra sau thông
quan
Minh họa ý tưởng danh mục hàng hóa kèm hình ảnh
vi
Trang
21
21
30
74
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ theo xu hướng toàn cầu hóa đã làm
cho quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc gia ngày càng mở rộng. Lưu lượng
hàng hóa xuất nhập khẩu ngày càng đa dạng và phong phú. Thực tế này đã làm nảy
sinh nhiều hành vi trốn thuế, gian lận thuế với các thủ đoạn ngày một tinh vi, phức
tạp. Yêu cầu đặt ra cho cơ quan Hải quan là vừa phải tăng cường biện pháp quản lý
2. Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác KTSTQ trong lĩnh vực mã
số, thuế suất hàng hóa xuất nhập khẩu tại Chi cục Kiểm tra sau thông quan- Cục
Hải quan TP. Hải Phòng, bài luận văn đưa ra các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả của công tác KTSTQ trong lĩnh vực này
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác KTSTQ trong lĩnh vực mã
số, thuế suất hàng hóa xuất nhập khẩu.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu công tác KTSTQ trong lĩnh vực
mã số, thuế suất hàng hóa xuất nhập khẩu tại Chi cục Kiểm tra sau thông quanCục Hải quan TP. Hải Phòng trong giai đoạn từ 2010 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp hệ thống, tổng hợp, phân tích, lý luận,
thực tiễn và kinh nghiệm để nghiên cứu công tác KTSTQ trong lĩnh vực mã số,
thuế suất. Qua đó đánh giá việc áp dụng thực tế tại Chi cục KTSTQ- Cục Hải quan
TP. Hải Phòng và đề ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công
tác KTSTQ.
5. Những đóng góp mới của Luận văn
Luận văn đi sâu nghiên cứu cụ thể công tác KTSTQ trong lĩnh vực phân
loại, áp mã số hàng hóa, xác định thuế suất hàng hóa xuất nhập khẩu. Luận văn chỉ
ra những phương thức gian lận phổ biến mà doanh nghiệp hay sử dụng và cách
thức, kinh nghiệm để phát hiện cũng như xử lý những gian lận đó từ thực tiễn công
tác tại cơ quan.
2
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TRA SAU THÔNG
QUAN TRONG LĨNH VỰC MÃ SỐ, THUẾ SUẤT HÀNG HÓA XUẤT
NHẬP KHẨU
1.1. Những vấn đề chung về kiểm tra sau thông quan
- Theo tổ chức Hải quan ASEAN:
Trong cuốn Sổ tay hướng dẫn về kiểm tra sau thông quan của Tổ chức Hải
quan ASEAN được công bố tại cuộc họp Tổng cục trưởng Hải quan ASEAN tại
Thái Lan tháng 8/2003 và được sửa đổi bổ sung vào tháng 11/2005 đó nêu
“KTSTQ là một biện pháp kiểm tra hải quan có hệ thống mà cơ quan hải quan tự
thoả mãn về độ chính xác và xác thực của khai báo hải quan thông qua việc kiểm
tra sổ sách, hồ sơ hệ thống kinh doanh có liên quan và dữ liệu thương mại của các
cá nhân và các công ty tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động thương
mại quốc tế”. [5]
- Ở Việt Nam, khái niệm KTSTQ cũng thống nhất với Công ước Kyoto và
được nêu trong Luật Hải quan Việt Nam.
Theo Khoản 1, Điều 32, Luật Hải quan số 29/2001/QH10 và Luật số
42/2005/QH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan quy định:
“Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan
nhằm:
a) Thẩm định tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ mà chủ
hàng, người được chủ hàng uỷ quyền, tổ chức, cá nhân trực tiếp xuất nhập khẩu,
nhập khẩu đó khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan đối với hàng hoá xuất
khẩu,nhập khẩu đó được thông quan.
b) Thẩm định việc tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục hải quan
đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu”. [6, khoản 1, điều 32]
Theo Điều 77, Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23/6/2014 (có hiệu lực
thi hành từ 01/01/2015, thay thế Luật Hải quan số số 29/2001/QH10 và Luật số
42/2005/QH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan) quy định:
“1. Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan
đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu,
4
1.1.2. Mục đích, đối tượng, đặc điểm của kiểm tra sau thông quan
* Mục đích:
Kiểm tra sau thông quan có 3 mục đích chính đó là xác định mức độ chính
xác, trung thực của việc kê khai về hàng hóa; xác định mức độ chính xác của việc
tự tính và nộp thuế; và xác định mức độ chấp hành pháp luật của doanh nghiệp.
Thông qua đó phát hiện ra những sai sót hoặc gian lận trong việc khai báo của chủ
hàng, làm cơ sở cho việc truy thu, truy hoàn thuế và xử lý vi phạm pháp luật. Như
vậy hai mục đích đầu tiên của kiểm tra sau thông quan thống nhất với kiểm tra
trong quá trình thông quan, tuy nhiên kiểm tra sau thông quan làm được một điều
mà khâu thông quan không làm được đó là hệ thống được tình hình chấp hành
pháp luật của toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp. Vì kiểm tra sau thông quan không
chỉ giới hạn kiểm tra đối với doanh nghiệp trực tiếp thực hiện hoạt động xuất khẩu,
nhập khẩu hàng hóa, mà còn được phép kiểm tra bất kỳ tổ chức, cá nhân nào liên
quan tới việc xuất nhập khẩu hàng hóa đó như ngân hàng, các tổ chức vận tải hay
tổ chức bảo hiểm,…Nhờ vậy sẽ phát hiện ra những gian lận mà khâu thông quan
đã bỏ sót.
* Đối tượng KTSTQ bao gồm:
- Hồ sơ hải quan đang lưu giữ tại doanh nghiệp và đơn vị hải quan làm thủ
tục hải quan cho hàng hóa liên quan;
- Chứng từ, tài liệu liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) đã
được thông quan do doanh nghiệp lưu giữ ở dạng giấy tờ hoặc dữ liệu điện tử;
- Hàng hóa, nơi sản xuất nếu cần thiết và còn điều kiện
* Đặc điểm kiểm tra sau thông quan
Đặc điểm KTSTQ là những nét đặc trưng cơ bản của KTSTQ. Trong quá
trình hình thành và phát triển, KTSTQ có các đặc điểm cơ bản sau:
- KTSTQ là một trong những nghiệp vụ kiểm tra của cơ quan hải quan. Luật
Hải quan và các văn bản pháp quy của các cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền đã
đưa ra các quy định cần thiết để thực hiện KTSTQ, trong đó bao gồm cả thẩm
tượng có hồ sơ Hải quan đã được KTSTQ.
- Khi tiến hành KTSTQ, cơ quan Hải quan phải tiến hành thu thập phân tích
và xử lý thông tin, các thông tin thu thập không chỉ dừng lại ở đối tượng tham gia
7
trực tiếp vào hoạt động xuất khẩu nhập khẩu mà còn cần sự hỗ trợ của các nguồn
cung cấp thông tin từ bên ngoài như: Ngân hàng, Cơ quan Thuế nội địa, các hãng
Bảo hiểm ... Chính sự hợp tác chặt chẽ trong quá trình thu thập, phân tích và xử lý
thông tin này sẽ giúp cho cơ quan Hải quan xác định được đối tượng của KTSTQ.
Với các đặc điểm của KTSTQ nêu trên đã phản ánh những nét cơ bản về
nghiệp vụ KTSTQ, tuy nhiên hoạt động KTSTQ là một hoạt động nghiệp vụ của
ngành Hải quan, các công việc được thực hiện dựa trên các nguyên tắc cụ thể và
thống nhất. Các nguyên tắc KTSTQ là một trong những vấn đề cơ bản của KTSTQ
cần thống nhất trong mỗi cuộc KTSTQ.
1.1.3. Nguyên tắc kiểm tra sau thông quan
Nguyên tắc KTSTQ là những quy định cơ bản, ổn định và chuẩn mực để
hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ KTSTQ. Những nguyên tắc KTSTQ được thống
nhất và xuyên suốt trong khi thực hiện KTSTQ, nội dung cụ thể của các nguyên tắc
KTSTQ được thể hiện như sau:
Nguyên tắc 1: Đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Thực hiện theo nguyên tắc này, đòi hỏi mọi hoạt động KTSTQ đảm bảo tuân
thủ đúng các quy định của pháp luật quốc gia, các điều ước quốc tế, các chuẩn mực
quốc tế. Các quy định này không chỉ là các quy định trực tiếp về hoạt động
KTSTQ mà còn bao gồm cả các quy định mà KTSTQ có liên quan, ví dụ như: Luật
Hải quan, Công ước Kyoto, Quy tắc xác định xuất xứ, Nguyên tắc xác định trị giá
theo GATT/WTO...
Nguyên tắc 2: Chính trực, khách quan, độc lập, không gây cản trở đến hoạt
động sản xuất kinh doanh bình thường của đơn vị được kiểm tra.
Chính trực (hay còn gọi là liêm chính): nguyên tắc này đòi hỏi công chức hải
đến khi ban hành các kết luận về KTSTQ phải được thực hiện theo các bước của
quy trình KTSTQ đề ra.
Các nguyên tắc KTSTQ là những chuẩn mực để công chức hải quan thực
hiện đúng nội dung KTSTQ dựa trên các phương pháp và kỹ thuật nghiệp vụ trong
KTSTQ.
9
1.1.4. Vai trò kiểm tra sau thông quan
Trong những thập kỷ gần đây, cơ quan Hải quan các nước mới bắt đầu nhận
thức KTSTQ là một kỹ năng nghề nghiệp và nằm trong chương trình phát triển,
hiện đại hoá của ngành Hải quan. Việc tiến hành chương trình KTSTQ chuyên
nghiệp đưa lại cho Hải quan rất nhiều lợi ích như quản lý, đánh giá các hoạt động
của doanh nghiệp XNK trong mối quan hệ tổng thể, liên tục tạo thuận lợi cho
doanh nghiệp làm ăn chân chính, răn đe hạn chế thấp nhất các doanh nghiệp có khả
năng vi phạm pháp luật Hải quan, đồng thời tiết kiệm nguồn nhân lực, vật lực cho
cơ quan Hải quan.
Ngoài ra KTSTQ nâng cao khả năng tập trung vào đảm bảo nguồn thu qua
việc nộp thuế đúng đủ, kịp thời vào ngân sách (đây là điểm đặc biệt quan trọng đối
với những nước đang phát triển mà ở đó nguồn thu từ Hải quan chiếm phần lớn
trong ngân sách chính phủ).
Về mặt dài hạn, KTSTQ đạt được hiệu quả trong việc làm cho doanh nghiệp
hiểu và tuân thủ các quy định và yêu cầu khác của pháp luật ở mức độ cao và tự
giác.. Việc đánh giá mức độ tuân thủ của KTSTQ đã mang lại lợi ích cho cả cơ
quan Hải quan và cộng đồng doanh nghiệp. Theo đó hàng hoá và tờ khai của các
doanh nghiệp tham gia vào quy trình đánh giá tuân thủ sẽ không còn đòi hỏi phải
kiểm tra thực tế toàn bộ như trong quy trình làm thủ tục hải quan truyền thống
trước đây nữa. Có thể tổng kết lợi ích của cơ quan Hải quan và cộng đồng doanh
nghiệp như sau:
XNK góp phần tích cực vào phát triển và giao lưu thương mại quốc tế, cải thiện
môi trường đầu tư; góp phần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trong
sản xuất, lưu thông.
- Là một trong những biện pháp đảm bảo để Luật Hải quan và pháp luật có
liên quan đến lĩnh vực XNK, xuất nhập cảnh được thực hiện nghiêm chỉnh.
- Đảm bảo ngăn chặn tình trạng thất thu ngân sách, giảm chi phí quản lý về hải
quan; Giảm thiểu rủi ro cho các đối tượng tham gia vào quan hệ pháp luật Hải quan.
- KTSTQ tác động tích cực trở lại với hệ thống quản lý của cơ quan Hải
quan thông qua việc nhận biết và xử lý các rủi ro tiềm ẩn của hệ thống.
- Thông qua hoạt động KTSTQ có thể dẫn tới mở rộng phạm vi kiểm tra tiếp
theo khi cần thiết trong nhiều lĩnh vực khác như kiểm tra chế độ giấy phép, về hạn
ngạch, về xuất xứ hàng hóa, về chống bán phá giá …
- KTSTQ là một công cụ hiệu quả đối với công tác kiểm tra, giám sát của
hải quan bởi thông qua nghiệp vụ này cơ quan hải quan có được khá đầy đủ các
thông tin về giao dịch có liên quan được phản ánh trong hệ thống số sách và báo
cáo của các doanh nghiệp.
- KTSTQ cho phép cơ quan hải quan áp dụng đơn giản hóa các biện pháp
giám sát, quản lý trên cơ sở hiện đại hóa hải quan nhưng vẫn đảm bảo chức năng
quản lý Nhà nước về hải quan.
Trong bối cảnh tự do hóa thương mại hiện nay vai trò của KTSTQ ngày
càng khẳng định được tầm quan trọng. Một mặt KTSTQ đảm bảo tạo thuận lợi cho
hoạt động thương mại hợp pháp, mặt khác vẫn đảm bảo nguồn thu cho ngân sách,
chống buôn lậu và gian lận thương mại có hiệu quả cũng như các nguy cơ ảnh
hưởng đến an ninh quốc gia và an toàn xã hội.
11
1.2. Những vấn đề chung về phân loại, áp mã số hàng hóa XNK
1.2.1. Khái niệm phân loại, áp mã số hàng hóa xuất nhập khẩu
Phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu là việc căn cứ vào tên gọi, mô tả về
Chính hướng dẫn về phân loại hàng hóa, phân tích để phân loại hàng hóa.
- Chú giải chi tiết HS
- Tuyển tập ý kiến phân loại của WCO
- Các văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định đặc điểm, tính chất, cấu
tạo, công dụng hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật của hàng hóa...
Khi phân loại hàng hóa, phải căn cứ vào nguyên tắc phân loại hàng hóa và
tùy từng trường hợp cụ thể phải căn cứ vào một hay nhiều căn cứ sau:
- Các tài liệu trong hồ sơ Hải quan liên quan đến phân loại hàng hóa
- Thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Các tài liệu kỹ thuật, catologue của hàng hóa cần phân loại
- Mô tả tên hàng, mã số hàng hóa ghi tại danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu
Việt Nam, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi
- Cơ sở dữ liệu phân loại hàng hóa, áp dụng mức thuế công bố trên trang
thông tin điện tử của tổng cục Hải quan
Để hiểu được nội hàm của phân loại, áp mã hàng hóa XNK, cần tìm hiểu về
các khái niệm như: Mã số hàng hóa; Hệ thống hài hoà mô tả và mã hoá hàng hoá;
Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam.
1.2.3. Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa
Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa là bản danh mục hàng hóa do Tổ
chức Hải quan thế giới ban hành, bao gồm danh sách các nhóm hàng, phân nhóm
hàng cùng mã số tương ứng của các nhóm, phân nhóm hàng đó. Hệ thống còn bao
gồm cả các chú giải phần, chương, nhóm, phân nhóm và các quy tắc giải thích cho
hệ thống, được ban hành kèm Công ước Quốc tế về Hệ thống hài hoà mô tả và mã
hoá hàng hoá (International Convention on the Harmonized Commodity
Description anh Coding System) (Công ước HS)
Phiên bản mới nhất của hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa, tiêu
chuẩn toàn cầu để phân loại trên 98% hàng hóa trong thương mại quốc tế có hiệu
13
14
“Phần I : Động vật sống, các sản phẩm từ động vật (gồm 5 chương – từ
chương 1 đến chương 5)
Phần II : Các sản phẩm thực vật (gồm 9 chương – từ chương 6 đến 14)
Phần III : Chất béo và dầu có nguồn gốc từ động vật hoặc thực vật và các
sản phẩm tách từ chúng; chất béo ăn được đã chế biến; các loại sáp động vật hoặc
thực vật (chương 15)
Phần IV : Thực phẩm chế biến ; đồ uống ; rượu mạnh và giấm ; thuốc lá và
các nguyên liệu thay thế thuốc lá đã chế biến (gồm 9 chương – từ chương 16 đến
chương 24)
Phần V : Khoáng sản (gồm 3 chương – từ chương 25 đến chương 27)
Phần VI : Sản phẩm của ngành công nghiệp hóa chất hoặc các ngành công
nghiệp liên quan (gồm 11 chương – từ chương 28 đến chương 38)
Phần VII : Plastic và các sản phẩm bằng plastic ; cao su và các sản phẩm
bằng cao su (gồm 2 chương – từ chương 39 đến chương 40)
Phần VIII : Da sống, da thuộc, da lông và các sản phẩm từ da ; yên cương và
bộ đồ yên cương; hàng du lịch, túi xách tay và các loại đồ chứa tương tự; các mặt
hàng từ ruột động vật (trừ ruột con tằm) (gồm 3 chương – từ chương 41 đến 43)
Phần IX : Gỗ và các mặt hàng bằng gỗ, than từ gỗ; lie và các sản phẩm bằng
lie; các sản phẩm từ rơm, cỏ giấy hoặc các vật liệu tết bện khác; các sản phẩm
bằng liễu gai và song mây (gồm 3 chương - từ chương 44 đến chương 46)
Phần X : Bột giấy từ gỗ hoặc từ nguyên liệu xơ sợi Xenlulo khác ; Giấy loại
hoặc bìa loại thu hồi (phế liệu và vụn thừa) giấy và bìa và các sản phẩm của chúng
(gồm 3 chương- từ chương 47 đến chương 49)
Phần XI : Nguyên liệu dệt và các sản phẩm dệt (gồm 14 chương – từ chương
50 đến chương 63)
Phần XII : Giầy, dép, mũ và các vật đội đầu khác, ô, dù, ba toong, gậy tay
cầm có thể chuyển thành ghế, roi gậy điều khiển, roi điều khiển súc vật thồ kéo và
loại: Chú giải loại trừ (loại trừ hàng hóa không thuộc vào phần, chương, nhóm và
phân nhóm); chú giải định nghĩa (nêu lên khái niệm phạm vi của các từ, nhóm từ
hay các diễn đạt khác); chú giải định hướng (định hướng làm thế nào để phân loại
16
một hàng hóa cụ thể); chú giải bao trùm (bao trùm một danh sách hàng hóa điển
hình được phân loại vào một nhóm cụ thể).
Danh mục được chia làm 3 cột: Mã hàng; Tên gọi và mô tả hàng hóa
và đơn vị tính. Căn cứ vào Danh mục này, Bộ Tài Chính đã ban hành Biểu thuế
xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu; Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt... Như vậy
mỗi loại hàng hóa sẽ được phân vào một chương, nhóm, phân nhóm cụ thể và có
một mã số nhất định. Vậy thì mã số hàng hóa là gì? Trong Danh mục HS và trong
Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam nó được biểu hiện như thế
nào?
1.2.5. Mã số hàng hóa
Mã số hàng hóa là dãy số dùng để phân biệt hàng hóa này với hàng hóa
khác, là con số duy nhất đặc trưng cho hàng hóa. Mỗi loại hàng hóa được nhận
diện bởi một dãy số và mỗi dãy số chỉ tương ứng với một loại hàng hóa.
Trong Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, mã số hàng hóa
được chi tiết đến 8 chữ số. Trong đó, 02 số đầu thể hiện số chương, 02 số tiếp theo
thể hiện vị trí nhóm hàng trong chương, các số tiếp theo thể hiện phân nhóm (gồm
phân nhóm cấp 1, phân nhóm cấp 2 thể hiện bằng các gạch (-, --, ...)
Ví dụ: Trong danh mục hàng hóa XNK, mặt hàng cá bột có mã hàng
0301.11.10 thì số 03 thể hiện hàng hóa thuộc chương 3 (cá và động vật giáp xác,
động vật thân mềm và động vật thủy sinh không xương sống khác); số 01 thể hiện
hàng hóa ở vị trí số 1 trong chương 03.01- cá sống; 11.10 thể hiện phân nhóm,
hàng hóa được phân vào nhóm cấp 1 (-) là cá cảnh, nhóm cấp 2(--) là cá nước ngọt;
và được định danh vào mã 0301.11.10 là cá bột.
1.3.2.Cơ sở pháp lý của kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực mã số,
thuế suất hàng hóa xuất nhập khẩu
- Công ước quốc tề về Đơn giản và Hài hòa thủ tục Hải quan (công ước
Kyoto) 1974, sửa đổi năm 1999
- Công ước HS
- Luật hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014
18
- Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21 tháng 0 năm 2015 của Chính Phủ
quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục Hải quan, kiểm
tra, giám sát, kiểm soát Hải quan
- Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25 tháng 3 năm 2015 của BTC quy định
về thủ tục Hải quan ; kiểm tra, giám sát Hải quan ; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
và quản lý thuế đối với hàng xuất khẩu, nhập khẩu
- Quyết định 1410/QĐ-TCHQ ngày 14 tháng 05 năm 2015 của Tổng cục
Hải quan ban hành quy trình kiểm tra sau thông quan.
- Nghị định số 06/2003/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 22 tháng 01 năm 2003
quy định về việc phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
-
Thông tư số 14/2015/TT-BTC ngày 30 tháng 01 năm 2015 của Bộ Tài
Chính hướng dẫn về phân loại hàng hóa, phân tích để phân loại hàng hóa ; phân
tích để kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa XK, NK
- Thông tư số 103/2015/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 01 tháng 07 năm
2015 về việc ban hành Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam
- Thông tư số 182/2015/TT-BTC ngày 16 tháng 11 năm 2015 của Bộ Tài
Chính về việc ban hành Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh